Những cuộc chiến oai hùng bên trong địa đạo bất diệt giữa ‘vành đai trắng’

Những bí mật chưa từng kể về địa đạo “tam giác sắt” ở Nam Bộ: Những cuộc chiến oai hùng bên trong địa đạo bất diệt giữa “vành đai trắng”

›› Kỳ 1: Ký ức của kiến trúc sư xây địa đạo dài hàng trăm km dưới mưa bom bão đạn

Vùng “Tam giác sắt” chỉ cách “thủ phủ” của chính quyền Sài Gòn chưa đầy 50km. Từng một thời, nơi đây từng được gọi là vùng đất chết, là địa điểm phải hứng chịu hàng triệu tấn bom đạn, hóa chất và cả những trận càn quét quy mô lớn của địch.

Nhưng suốt chiều dài cuộc chiến khốc liệt, mảnh đất này vẫn hiên ngang đứng vững. Trong chiến tranh, con người nơi đây dường như đã hóa thép, người trước ngã xuống, thế hệ sau tiếp bước đứng lên như một biểu tượng của lòng dũng cảm và ý chí đấu tranh bất diệt.

Những cuộc chiến oai hùng bên trong địa đạo bất diệt giữa 'vành đai trắng'

Những đường hầm còn lại ở địa đạo Tam giác sắt. Ảnh: T.G

Những chiến sĩ hóa thép trong “vành đai trắng”

Là người đi qua thời lửa đạn, cựu chiến binh Nguyễn Văn Bảy (76 tuổi, còn gọi là Bảy Trích) vẫn nhớ như in những năm tháng đau thương mà hào hùng ấy. Chầm chậm từng bước, men theo con lươn của địa đạo xưa, ông nhớ lại: “Hồi đó, địch ngày nào cũng cho máy bay quần trên bầu trời, cứ thấy người là chúng bắn, không cần biết già trẻ gì hết. Bom đạn địch trút xuống đã tạo nên một “vành đai trắng”, đến ngọn cỏ cũng rũ héo”. Quân giặc ép tất cả dân vào ấp chiến lược, không có điều kiện tiếp tế, thiếu lương thực, súng đạn nên cuộc sống của du kích trong địa đạo hết sức khó khăn. Nhưng trong tình cảnh ấy, ý chí đấu tranh lại dâng cao hơn bao giờ hết. Không còn đạn bắn, đồng bào, quân du kích lại chạy xuống địa đạo nấp và cứ thế nằm dưới lòng đất, chiến đấu ngay bên nách quân thù.

Ông Bảy còn nhớ, vào đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, khi tiến hành kế hoạch dồn dân lập “ấp chiến lược” với cái ảo tưởng thực hiên cái gọi là “tát nước bắt cá”, diệt cách mạng, kẻ thù hy vọng sẽ giành được thế chủ động trên chiến trường. Nhưng nhân dân tại vùng “Tam giác sắt” không chịu khất phục. Để tồn tại, ban ngày du kích phải sống dưới địa đạo, đêm lại trồi lên đánh địch và tìm thức ăn. Có lần cả tuần bị địch càn, anh em du kích phải sống luôn dưới địa đạo ẩm ướt. Thiếu ánh sáng, gạo dự trữ dần mốc meo, đạn dược và súng ống cũng hư hỏng. Sau này, anh em nghĩ ra cách đem gạo rang khô lên, cứ đến bữa lại truyền nhau từng nắm ăn cho qua bữa, chờ đến ngày được tiếp tế.

“Thiếu đói, mệt mỏi, nhưng cứ thấy địch là tinh thần chiến đấu lại dâng lên, át đi tất cả. Anh em du kích luôn đảm bảo được bí mật, hoàn thành nhiệm vụ che chở cán bộ và nhân dân. Không những vậy, tháng 1/1963, anh em du kích “Tam giác sắt” còn phối hợp với bộ đội địa phương đánh địch tại đường 14, tiêu diệt hai tiểu đôi địch, phá hủy một xe tăng, thu 20 súng làm chiến lợi phẩm”, ông Bảy kể.

Triệt “phong hỏa 2” bẻ “càn xê-đa-phôn” trong mùa hè đỏ lửa

Theo ông Bảy, đầu năm 1963, Mỹ – Ngụy mở trận càn mang tên “Phong hỏa 2” với hy vọng một lần nữa gom dân vào Ấp chiến lược và tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta. Trong trận càn này, địch huy động một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 5 tinh nhuệ. Chúng chia làm 2 hướng tiến vào ba xã Tây Nam Bến Cát trong vùng địa đạo sắt. Hướng thứ nhất, từ Bến Cát, địch cắt ngang qua rừng 123, càn xuống xã Phú An. Hướng thứ hai, chúng theo đường 7 đến Rạch Bắp và hành trình theo đường 14 đến xã An Tây. Với lực lượng đông đảo, trang bị vũ khí hiện đại, bọn địch cho rằng sẽ dễ dàng “hốt” trọn lực lượng du kích ba xã Tây Nam, bởi dưới địa đạo lúc đó chỉ có khoảng vài chục người bám trụ.

Nắm được kế hoạch của địch, anh em du kích “Tam giác sắt” đã chuẩn bị hết sức kĩ lưỡng nhằm bảo vệ được cán bộ và địa đạo. Căn cứ và thực lực của mình, du kích Bảy Trích lúc đó nhận định, nếu trực tiếp đối chọi chắc chắn quân ta sẽ thất bại. Theo đó, ông chỉ đạo cho anh em du kích chuẩn bị tinh thần vừa đánh vừa rút xuống địa đạo. Bằng mọi cách trước khi địch vào, ta phải thiết lập một hàng rào thép gai quanh căn cứ, tiếp đó là một bãi mìn và chông tre tạo nên thế “nội bất xuất, ngoại bất nhập” cho địa đạo. Nhờ sự chuẩn bị chắc chắn này, khi địch càn vào, anh em du kích đã lần lượt “bẻ gãy” những đợt tấn công vũ bão của chúng.

Vấp phải sự phản kháng dữ dội, địch điên cuồng tổ chức những đợt càn với lực lượng lớn, bằng mọi giá phải tiêu diệt được lực lượng du kích tại chỗ, đánh sập được địa đạo. “Có lúc, chúng huy động cả trung đội cùng tiến lên một lúc. Thấy vậy, ta chủ trượng rút lui bảo toàn lực lượng, anh em cứ theo ụ chiến đấu rút vào lòng địa đạo, biến mất không một dấu vết để lại. Dù cho địch điên cuồng, bắn phá, cày xới… trên mặt đất vẫn không tìm ra tung tích của một người du kích nào. Sau này có tên tìm được cửa hầm và các ụ chiến đấu liều mạng chui vào nhưng chúng đều vĩnh viễn bỏ mạng trong lòng đất. Có giai đoạn, chúng đã tổ chức một đội quân gọi là “Chuột cống” chuyên săn lùng địa đạo. Thế nhưng, những tên “Chuột cống” cứ một đi không trở lại bởi những tay thiện xạ của du kích địa phương”, ông Bảy không giấu được niềm tự hào kể.

Trận càn “Phong hỏa 2” là một thảm bại ê chề của Mỹ – Ngụy. Đau nhất là ngay cả bộ chỉ huy trận càn của địch cũng bị ta diệt gọn. Ông Bảy nhớ về chiến công này: “Ở “Tam giác sắt”, hồi quân Pháp rút đi còn để lại một lô cốt bê tông. Ta dự đoán, trong quá trình càn quét, chỉ huy địch có thể vào lô cốt này trú ẩn nên đã gài mìn trước đó. Đúng như dự đoán, sau vài ngày càn mệt mỏi, tốp chỉ huy của địch chui vào lô cốt nghỉ ngơi và đã… tan xác. Chỉ huy thiệt mạng, quân địch như rắn mất đầu giẫm lên nhau chạy về Sài Gòn”.

Kết thúc trận “Phong hỏa 2” trong thảm bại, chúng cay cú vì “cái gai” “Tam giác sắt” vẫn không thể nhổ. Năm 1972, được sự hỗ trợ của lính Mỹ, địch cay cú tổ chức ngay trận càn mang tên Xê- Đa- Phôn nhằm vào “Tam giác sắt”. Với tổng số quân địch gồm 32.000 tên và hơn 400 xe tăng, 80 tàu chiến, trên 100 khẩu pháo cùng đủ loại máy bay, máy ủi, đội quân “Chuột cống” và gần 2.000 con chó săn. Đây được xem là trận càn với lực lượng lớn nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam của Mỹ.

Dựa vào hệ thống địa đạo, dân quân ba xã Tây Nam Bến Cát đã bám trụ vững chắc, dũng cảm chiến đấu gây cho dịch thiệt hại nặng nề. Trong một trận chiến oai hùng, du kích An Tây và bộ đội ta bắn cháy 26 xe bọc thép và tiêu diệt toàn bộ lính Mỹ trên xe. Cũng tai trận đánh này đã xuất hiên nhiều rất nhiều “anh hùng chân đất” của vùng đất này. Như anh chàng Ba Minh cùng một tổ ba người chỉ một khẩu súng tự động và một trái DH 10 đã cầm chân địch suốt một ngày, bẻ gãy nhiều đợt tấn công và diệt hơn một trung đội địch. Anh du kích Chê đã dùng súng AK bắn rơi 2 máy bay Mỹ hay chú Lường diệt 94 tên Mỹ và bắn cháy 10 xe tăng và còn nhiều người anh hùng thầm lặng khác.

Ông nguyễn Văn Trí, Chủ tịch hội cưu chiến binh xã An Tây (H. Bến Cát, tỉnh Bình Dương) kể về trận đánh ác liệt: “Cả ngày lẫn đêm, máy bay B52 dội bom xuống mặt đất. Chưa hết, chúng còn cho máy ủi, cày xới lên từng tấc hòng phá hoại địa đạo của ta. Chúng còn rải chất độc hóa học hủy diệt hàng trăm ha rừng và đầu độc nguồn nước”. Tình thế cấp bách, đói khát buộc anh em du kích phải tìm cách liên hệ để lấy thức ăn để tiếp tục chiến đấu. Trong một lần lên tìm kiếm nguồn tiếp tế, ông bị thương phải khó khăn lắm mới tìm được hầm trú ẩn, nhưng vừa vào hầm thì lại bị sập hầm. Điều thần kì là chỉ với một cây bút mà ông đã đào hơn chục mét khối đất để sống sót.

Sau hai tháng chiến đấu hết sức khó khăn vất vả, quân dân địa đạo Tam giác giệt 3.500 tên địch, 130 xe tăng và thiết giáp, 28 máy bay. Địa đạo “Tam giác sắt” vẫn hiên ngang đứng vững bất chấp những trận càn.

Đường vào bí mật

Địa đạo “Tam giác sắt” là một công trình quân sự vĩ đại, với các đường địa đạo được đào thông nhau. Tuy nhiên, để giữ bí mật, mỗi người ở khu vực địa đạo nào sẽ được phân công trấn giữ, chiến đấu tại khu vực đó. Chính vì sự phân công này mà suốt mấy chục năm qua, đường vào “Tam giác sắt” vẫn là một bí ẩn không chỉ với kẻ địch mà còn đối với những người lính du kích, từng chiến đấu tại địa đạo.

Theo Hùng Hóa – Công Thông (Giadinh.net)

Ký ức của kiến trúc sư xây địa đạo dài hàng trăm km dưới mưa bom bão đạn

Những bí mật chưa từng kể về thế trận địa đạo “tam giác sắt” ở miền Nam Việt Nam: Ký ức của kiến trúc sư xây địa đạo dài hàng trăm km dưới mưa bom bão đạn

Suốt chiều dài cuộc chiến tranh chống Mỹ, địa đạo Tam giác sắt (Bến Cát, Bình Dương) nổi lên như một cứ điểm bất khả chiến bại.

Hàng trăm trận càn, hàng triệu tấn vũ khí địch đã dội xuống nhưng vẫn không phá hủy được địa đạo này. Lần lại dấu tích xưa, chúng tôi được biết đến nhiều câu chuyện chưa từng kể về địa đạo trong những tháng năm bom đạn.

chien tranh viet nam

Ông Bảy Trích là kiến trúc sư địa đạo Tam giác sắt.

Chúng tôi có dịp theo chân người xã đội trưởng du kích lừng lẫy một thời thăm lại địa đạo và nghe kể những câu chuyện huyền thoại về mảnh đất Bến Cát trong những năm khói lửa. Ông là Nguyễn Văn Trích (tên khác là Bảy Trích, SN 1940, xã An Tây, huyện Bến Cát, Bình Dương), từng là lãnh đạo chỉ huy du kích và nhân dân địa phương trực tiếp chiến đấu, đồng thời là kiến trúc sư trưởng khai sinh công trình địa đạo Tam giác sắt.

Cho tới bây giờ, cái tên Tam giác sắt vẫn mang trong mình nhiều bí ẩn với nhiều người. Việc xác định chính xác ba đỉnh của tam giác lịch sử ấy ngay cả những người trong cuộc cũng có những kiến giải khác nhau. Có người cho rằng Tam giác sắt là vùng Tây Nam Bến Cát, cũng có thể bao gồm phần đất Tây Nam Bến Cát – Dầu Tiếng – Long Nguyên. Rộng hơn nữa, có ý kến cho rằng nó kéo dài từ Long Nguyên (Bến Cát) – Trảng Bàng (Tây Ninh) và huyện Củ Chi (TP.HCM). Qua những lần bách bộ tìm hiểu, đồng thời tham vấn ý kiến những bậc cao niên thì chúng tôi tạm xác định địa đạo Tam giác sắt nằm ở ba xã vùng tây nam Bến Cát gồm: An Điền, An Tây, Phú An ngày nay, trong đó xã An Tây được xem đỉnh tam giác quan trọng nhất. Chính nơi đây vào thời chiến hàng ngàn quân dân du kích đã đào những nhát cuốc đầu tiên, bắt đầu cho một hệ thống đường ngầm với quy mô lên tới 100km. Bên trong đường hầm ấy có hệ thống trú ẩn, phòng ngự, chiến đấu tinh vi mà theo một số nhà nghiên cứu sử đánh giá là vào loại bậc nhất trên thế giới. Địa đạo được chuẩn hóa bằng những thiết bị quân sự tối ưu nhất, đến nỗi quân Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn chưa một lần lọt vào được địa đạo này.

Trở lại quá khứ, trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, đế quốc Mỹ đã vạch ra kế hoạch “Chiến tranh đặc biệt” với âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”. Chúng xây dựng chính quyền, quan đội tay sai, chỉ cung cấp trang thiết bị, huyến luyện và can thiệp dưới vai trò là những cố vấn. Vùng Tây Nam Bến Cát là địa bàn chiến lược của phía cách mạng lại chịu nhiều đợt càn quét khốc liệt của kẻ thù. Trong một cuộc họp kín mà ông Bảy Trích được tham dự, huyện ủy Bến Cát đã ra quyết định bằng mọi giá phải giữ vững được địa bàn trọng yếu này. Nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện khi có một địa đạo bí mật để bảo vệ cơ quan đầu não và thực hiện lối đánh du kích. Sau khi nghiên cứu kỹ thì lãnh đạo ra quyết định xây dựng một hệ thống hầm ngầm còn gọi là địa đạo, ông Bảy Trích được giao nhiệm vụ chỉ huy nhân dân tiến hành xây dựng càng sớm càng tốt theo yêu cầu bức bách của cách mạng.

Nhớ về những ngày oanh liệt ấy, đôi mắt ông Bảy Lại sáng lên đầy tự hào: “Thời bấy giờ mô hình chiến đấu trong lòng đất còn là một điều vô cùng xa lạ với mọi người. Tại Bến Cát vào năm 1948 địa đạo đã được sử dụng nhưng đó chỉ là một mô hình đường hầm còn rất thô sơ, vì vậy cũng như mọi người, tôi rất mơ hồ về cách thức xây dựng. Những ngày đầu, để tránh sự phát hiện của kẻ địch, cứ đêm xuống, tôi lại phải bí mật vượt sông Sài Gòn tới căn cứ cách mạng ở Củ Chi để nghe các cán bộ hướng dẫn cách xây dựng địa đạo. Những người dạy tôi xây địa đạo đều là các cán bộ Đảng nòng cốt tại Nam Bộ, tất cả đều dùng bí danh nên ngay cả khi đối mặt, nói chuyện trực tiếp thì cũng không biết được tên họ là gì, quê quán ở đâu”.

chiến tranh việt nam

Hai địa đạo Tam Giác Sắt nay là di tích lịch sử tỉnh Bình Dương. Ảnh: T.G

Sau khi được thống nhất cách thức xây dựng thì Ban chỉ huy cơ sở được thành lập gồm chỉ huy trưởng Bảy Trích, hai phụ cấp là ông Sáu Tấn và Bảy Bằng tất cả đều là người sống địa phương. Bản kế hoạch chi tiết, với những phân công hợp lý được thông qua trước toàn thể du kích, nhân dân, tất cả cùng đồng lòng hy sinh vì địa đạo. Ông Bảy hào hứng nhớ lại: “Chưa bao giờ tôi thấy không khí lao động khẩn trương, nghiêm túc và tự giác như thế, vì ai cũng tin vào Đảng vào cách mạng sẽ thành công trong tương lai. Vùng đất Tây Nam Bến Cát trở thành một công trường “ngầm” khổng lồ, hoạt động không ngừng nghỉ cả ngày lẫn đêm. Tất cả người dân từ các cụ già, em nhỏ, phụ nữ… đều tự nguyện góp sức cho địa đạo”.

Với lực lượng được huy động lên đến hơn hai ngàn nhân công, ông Bảy Trích trực tiếp chỉ huy với sự phân công lao động rất khoa học. Thanh niên trực tiếp đào hố, phụ nữ đổ đất, trẻ em thì lôi ki (dụng cụ kéo đất), người già không thể trực tiếp lao động thì ở nhà đan ki. Lòng người được cổ vũ, tổ lao động nào cũng hăng say, thi đua lẫn nhau khiến hiệu quả công việc tăng lên gấp nhiều lần. Ông Bảy Trích nhớ lại: “Ngày ấy làm gì có tiền mà tặng thưởng, chỉ có cờ thi đua cắm ngay trên phần đất của tổ để lấy tinh thần thôi. Nhưng người dân hồ hởi lắm, họ xem đó là phần thưởng quý giá nhất. Đi làm vất vả thế họ còn phải tự túc lương thực, họa may có bữa được khuyến khích bằng mấy củ khoai mì, khoai lang vào buổi sáng”. Trong đêm tối không ánh đèn, quân, dân vẫn âm thầm đào và vận chuyển hàng vạn mét khối đất đem đi phi tang ngay trước “mũi” quân thù. Tại các gia đình ở khu vực vành đai, nhà nào cũng đào hầm, hào nối liền vào địa đạo, tạo thế liên hoàn để vừa bám trụ sản xuất vừa đánh giặc giữ làng.

Chỉ với những lưỡi cuốc, ki tre và những con người đói ăn, thiếu áo, trong vòng hai năm họ đã tạo nên công trình đồ sộ dài gần 100km với hàng trăm con đường hầm ngang dọc trong lòng đất, nối liền các xã với nhau một cách kỳ diệu. Địa đạo cao 1,2m, rộng 0,8m sâu dưới mặt đất cỡ chừng 4m, có những đoạn được cấu trúc từ 2 đến 3 tầng dùng cho chiến đấu, trú ẩn, cứu chữa thương binh, dự trữ vũ khí, lương thực, thực phẩm. Dọc theo đường hầm đều có lỗ thông hơi được ngụy trang kín đáo. Chung quanh cửa hầm lên xuống được bố trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái, có cả mìn lớn chống tăng và mâm phóng lựu chống máy bay trực thăng đổ chụp nhằm ngăn chặn địch tới gần. Trong suốt 20 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, ba xã vùng Tây Nam Tam giác sắt đã phát huy tác dụng của một địa đạo chiến. Khi đi vào hoạt động địa đạo là lô cốt “bất khả chiến bại” của quân, dân ba xã Tây Nam Bến Cát. Nơi đây cũng bẻ gãy nhiều cuộc hành quân, chôn vùi hàng ngàn tên giặc, bắn cháy và phá hủy hàng trăm xe tăng và xe bọc thép của Mỹ-Ngụy.

Trong giọng kể trầm hùng của người cựu chiến binh già khiến chúng tôi, những thế hệ đi sau chưa từng biết đến chiến tranh dưng dưng cảm xúc. Ông Bảy bảo, để xây dựng và bảo vệ địa đạo, quân dân Bến Cát đã hi sinh không biết bao nhiêu xương máu. Vì vậy, khi chiến tranh đã lùi xa, địa đạo Tam giác sắt vẫn uy nghi như một bức thành đồng, nơi lưu dấu chiến công oai hùng những năm khói lửa.

Địa đạo đầu tiên ở Nam Bộ?

Theo những cứ liệu lịch sử, thì “Tam giác sắt” chính là công trình địa đạo đầu tiên tại Việt Nam. Được khởi công năm 1961, tới năm 1963 về cơ bản được hoàn thành. So với các căn cứ khác như Vịnh mốc (1965), Vĩnh Linh (1966), Nhơn Trạch (1963), khe Trái- Thừa Thiên Huế (1967)… địa đạo nổi tiếng Củ Chi cũng bắt đầu xây dựng năm 1961, nhưng điều đặc biệt theo “kiến trúc sư” Bảy Trích thì nó lại được xây dựng lại theo mô hình địa đạo “Tam giác sắt”.

Kỳ 2: Những cuộc chiến oai hùng bên trong địa đạo thép

Theo Hùng Hóa – Công Thông (Giadinh.net)

Chiến tranh Việt Nam: Miền Nam chia lửa với miền Bắc kiên cường

Ngay từ những ngày đế quốc Mỹ đánh bom miền Bắc, quân và dân miền Nam rất đau xót, nôn nóng tìm cách trả thù cho đồng bào miền Bắc.

Tháng 8-1965, tôi đang công tác ở Ô Môn (Cần Thơ). Các đồng chí cán bộ xung quanh cơ quan tỉnh chất vấn tôi rất dữ dội về việc “Tại sao giặc Mỹ hỗn láo đánh miền Bắc mà ta trừng trị kém như vậy?”. Số là cũng vào dịp đó, báo chí phương Tây nói nhiều đến tên lửa SAM của Liên Xô giúp ta. Chúng đề cao tên lửa này, chắc để nói máy bay chúng bị rớt là do tên lửa chứ không phải từ tầng tầng lớp lớp vũ khí phòng không các loại của ta. Lý lẽ của anh em ta và lời bà con ta là: “Có tên lửa SAM thì có thể hạ bất cứ máy bay nào, sao cứ để chúng lộng hành như vậy?”. Các đồng chí và đồng bào đâu có hiểu hết khó khăn của chúng ta lúc đó, song tấm lòng thì thật đáng quý.

Cuối năm 1965, Sư đoàn 9 đã tổ chức trận pháo kích vào sân bay Biên Hòa tiêu diệt hàng trăm máy bay chiến đấu của Mỹ. Khẩu đội pháo do chiến sĩ Mai Tôi phụ trách đã vừa đánh vừa động viên nhau: “Hãy trả thù cho đồng bào miền Bắc”. Quân và dân miền Nam muốn ngăn chặn tội ác của giặc Mỹ ngay tại dinh lũy của tội ác.

Cuối năm 1966, máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội rất ác liệt. Quân và dân miền Nam rất lo ngại. Từ căn cứ Vườn Thơm (Long An), Lê Minh Xuân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bình Tân (Sài Gòn – Gia Định) quyết định mời Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen) phụ trách lực lượng biệt động F100 của nội đô, bàn cách đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Anh nói:

- Từ đây bọn chúng bay ra Bắc giết hại đồng bào ta. Vậy mà ta để chúng yên ổn, ngang nhiên phá hoại? Phải đánh dập đầu chúng ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Thế là một trận đánh “Trả thù cho Hà Nội” đã được tổ chức và đánh thắng. Hàng trăm máy bay Mỹ bị tiêu diệt cùng bọn phi công và lính bảo vệ. Trận đánh ấy đã để lại một hình ảnh đẹp: một chiến sĩ của chúng ta là Nguyễn Văn Mao dựa vào chiếc máy bay đã bị tiêu diệt để đánh trả kẻ thù đang vây chặt. Anh hy sinh, nhưng không gục xuống mà vẫn dựa lưng vào chiếc máy bay, sừng sững trước mặt kẻ thù. Câu chuyện ấy đã đến với Lê Anh Xuân và trở thành bài thơ bất hủ “Dáng đứng Việt Nam”.

Từ đầu tháng 12-1972, quân và dân miền Nam rất nóng lòng trước những trận B52 đánh vào Hà Nội ngày càng ác liệt. Chúng tôi ở trong này đã chịu bao trận B52, hiểu rõ sự tàn bạo của những loạt bom Mỹ đối với rừng núi, xóm làng ở miền Nam. Song chúng tôi chưa thể hình dung được: phố phường chật hẹp, nhân dân đông đúc ở Hà Nội sẽ bị đau thương tang tóc to lớn đến mức nào, nếu những loạt B52 đổ xuống. Và rồi, từng ngày, từng ngày nỗi đau của chúng tôi càng lớn bởi giặc Mỹ càng leo thang. Quân và dân miền Nam ở bất cứ đâu đều tổ chức các trận đánh trả thù cho miền Bắc, cho Hà Nội.

*
* *

Từ cuối năm 1972, chúng tôi đã được thông báo nội dung cơ bản của Hiệp định Paris mà ta và Mỹ sắp ký kết. Cuộc chiến tranh chống Mỹ khá ác liệt nên ai cũng mong có đôi lúc “thư giãn” để chuẩn bị đi tiếp đến giai đoạn giành chiến thắng hoàn toàn. Chúng tôi nghiên cứu kỹ từng điều khoản của hiệp định dự thảo và rất vui về thắng lợi to lớn của ta trên bàn hội nghị. Chúng tôi thán phục các đồng chí ở bàn đàm phán Paris.

Thế rồi, được tin: phía Mỹ đã lật lọng, bày vẽ thêm nhiều điều khoản, kéo dài ngày ký Hiệp định Paris. Chúng tôi khá buồn, bởi một khi hiệp định chưa ký thì cuộc chiến tranh sẽ ngày càng ác liệt. Chúng ta phải giành thắng lợi to lớn hơn nữa trên chiến trường mới buộc kẻ thù ký hiệp định. Bom đạn ngày càng dữ dội, lại có thêm nhiều đồng bào, đồng chí thương vong. Chiến dịch Nguyễn Huệ đã mở ra một vùng giải phóng mới ở Lộc Ninh, Bù Đốp… song những trận đánh ác liệt ở Phước Long, An Lộc, Đường 14… vẫn kéo dài. Những đơn vị xe tăng của quân giải phóng đã xuất hiện trên miền Đông Nam bộ…

Miền Nam tiếp tục chiến đấu kiên cường và nóng lòng chờ đợi ngày ký kết hiệp định. Đồng bào miền Nam lại xót xa khi được tin: kẻ địch đánh phá rất ác liệt trên miền Bắc. B52 kéo cả đàn vào Hà Nội. Thế là giặc Mỹ không muốn ký kết hiệp định lập lại hòa bình. Chúng muốn buộc chúng ta trả giá cho tự do, yên bình. Hà Nội đánh mạnh lập nên “Điện Biên Phủ trên không”. Miền Nam đánh mạnh mở những vùng giải phóng rộng lớn. Chúng tôi biết có thể Hiệp định Paris sắp được ký và đồng nghĩa với sự đánh phá ác liệt của kẻ thù trước khi đặt bút ký hiệp định. Tin báo địch đánh phá dữ dội miền Bắc cùng với những trận B52 dội xuống căn cứ cách mạng miền Nam. Riêng tôi đã được nghe đài báo tin: máy bay Mỹ thả bom, bắn rốc két vào số 35 và 37 Lý Quốc Sư, Hà Nội. Gia đình tôi lại ở số 33A. Có ai hy sinh trong trận bom này không? Tôi ôm mặt bàng hoàng, ra bìa rừng ngồi lo lắng. Các anh trong ban biên tập gọi tôi đến phân công viết bài chia sẻ đau thương với Hà Nội và nêu quyết tâm của quân và dân miền Nam đánh mạnh để trả thù. Tôi ngồi vào chiếc bàn tre. Nhà bên cháu bé bập bẹ hát bài mà chúng tôi yêu thích:

…Ta muốn vươn lên bay về Hà Nội, dù có hy sinh tay súng không rời…

Tôi vừa khóc, vừa viết ngay trong đêm bài tùy bút “Hà Nội ơi, có chúng tôi đáp lời…”, bài được đăng ngay trên tuần báo Giải Phóng số đầu tháng 1-1973. Báo Giải Phóng được gửi đến các chiến trường, được các chiến sĩ và đồng bào hưởng ứng. Có một chuyện cảm động: một cán bộ tuyên truyền từ miền Tây Nam bộ lên R học (sau này anh là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh tận cùng Tổ quốc) đã khóc khi đọc bài báo đó. Anh lấy sổ tay chép toàn bài báo và giữ cho đến bây giờ…

Từ trước đến mãi sau này, đặc biệt từ năm 1972, quân và dân miền Nam với những trận đánh vào Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, vào Sài Gòn… đã thực hiện lời thề: “Giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc”. Bây giờ và mãi sau này, chúng tôi chẳng bao giờ quên được hình ảnh những chiến sĩ, đồng bào quây quần bên chiếc radio, đã nhảy lên hoan hô quân và dân Hà Nội, hoan hô miền Bắc bắn hạ những chiếc B52. Thế rồi có tin từ khoảng cuối tháng 1-1973 sẽ ký kết Hiệp định Paris. Chúng tôi vui mừng chờ đợi – kể cả chờ đợi sự trả thù ác liệt của Mỹ. Ai cũng biết, trước khi Kít-sinh-giơ hạ bút ký Mỹ sẽ dội bom đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng chúng ta để đỡ tức cho thất bại này. Các cơ quan đơn vị củng cố hầm hào, không cho anh em đi xa công sự. Các lớp học đêm, các bữa ăn cũng ở dưới hầm lớn có nắp. Tất cả chuẩn bị cho một thắng lợi to lớn nhưng sẽ phải trả thêm máu.

Đêm 26-1-1973, lệnh báo động sắp có máy bay B52 đánh vùng giải phóng. Chúng tôi cho tất cả anh em xuống hầm. Hàng đàn máy bay B52 liên tiếp đánh vào khu căn cứ trong đó có Ban tuyên huấn Trung ương Cục. Nhiều căn hầm của Đài phát thanh Giải Phóng, Thông tấn xã Giải Phóng… bị sập. Lại có thêm anh em hy sinh.

Chúng tôi biết: Hiệp định sắp được ký kết. Kẻ thù đang điên cuồng say máu cho đến phút cuối cùng. Và sáng 27-1-1973, Đài phát thanh Giải Phóng báo tin Hiệp định Paris được ký kết. Một “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội chưa đủ làm cho chúng tỉnh ngộ. Phải có nhiều “Điện Biên Phủ trên không” và dưới đất ở miền Nam.

Cả cơ quan nhảy lên khỏi miệng hầm sung sướng reo hò. Lúc đó chúng tôi tin hòa bình sẽ được lập lại, sẽ không còn chiến tranh và ai cũng tin mình đã sống đến giờ phút hòa bình.

Chúng tôi được lệnh di chuyển cơ quan từ rừng núi biên giới về vùng giải phóng Tân Biên (Tây Ninh). Trên đường trong vùng giải phóng đã có xe hơi, xe gắn máy, xe bò kéo đi lũ lượt giữa ban ngày. Đồng bào từ các nơi tránh giặc cũng về vùng giải phóng cất nhà giữa đồng trống, ở các trảng tranh. Quân đội Sài Gòn rút chạy khỏi vùng giải phóng. Con đường vận chuyển súng đạn, lương thực đã có thể đi từ Hà Nội đến Lộc Ninh, Thiện Ngôn rồi theo đường sông đến tận đồng bằng sông Cửu Long.

Huyện Tân Biên – trong đó có sân bay Thiện Ngôn – được giải phóng. Theo quy định của Ủy ban Liên hiệp bốn bên, vùng giải phóng Xa-mát sẽ xây dựng một chốt của ủy ban quốc tế và sân bay Thiện Ngôn sẽ trở thành nơi trao trả tù binh của hai bên.

Hiệp định Paris mới được thi hành trên đất Việt Nam. Vùng giải phóng Campuchia vẫn còn bom đạn ác liệt. Các cơ quan đơn vị của ta đóng gần biên giới lại chịu mất mát, hy sinh. Chúng tôi vui vì đồng bào miền Bắc không còn bị máy bay Mỹ tàn phá. Vượt qua bom đạn Mỹ, miền Nam đã nhận thêm súng đạn, lương thực và cả trà, thuốc lá từ miền Bắc gửi vào.

Nhân dân miền Nam hiểu rất rõ ràng: sự phối hợp chặt chẽ giữa những trận “Điện Biên Phủ” ở miền Nam và “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội đã buộc kẻ thù phải ký Hiệp định Paris. Quân và dân miền Nam đã tiếp tục giáng cho kẻ thù nhiều trận “Điện Biên Phủ” nữa để đi đến toàn thắng.

Theo ĐINH PHONG
(Công An TPHCM)

Phim tài liệu: Những anh hùng của đội quân tóc dài

Phim tài liệu Việt Nam: Những anh hùng của đội quân tóc dài

Miền Nam Việt Nam là Thành đồng Tổ quốc

Lâu nay có một bộ phận dư luận ngộ nhận hoặc cố tin rằng cuộc chiến Mỹ – Việt trước năm 1975 là cuộc chiến tranh “giữa miền Bắc và miền Nam”. Họ gọi các ngụy quyền Diệm-Nhu, Thiệu-Kỳ là “miền Nam Việt Nam”. Hồi nhỏ chính tôi cũng tưởng như vậy do chưa biết nhiều về đề tài này.

Với những người ngộ nhận, thì phần lớn có lẽ do bị ảnh hưởng từ “chiến thuật biển người” về chiến tranh thông tin của Mỹ, khi đó tràn ngập sách báo gọi ngụy quyền của Mỹ là “South Vietnam” (“Nam Việt Nam”). Bên cạnh đó còn có một bộ phận cố tin như vậy, thậm chí có những người khi nghe tôi và người nhà nói gì tỏ ra ủng hộ cộng sản, khi họ biết chúng tôi là người miền Nam qua giọng nói, thì họ gọi chúng tôi là “dân tập kết”, họ cố nghĩ, cố tưởng tượng ra rằng những người miền Nam nào mà ủng hộ cộng sản, mà không thích Mỹ, thì đều là dân tập kết. Trong khi chúng tôi chưa bao giờ đi tập kết và chưa bao giờ sinh sống ở miền Bắc.

Những người ngộ nhận hoặc cố gắng lảng tránh sự thật rằng người dân địa phương ở miền Nam ủng hộ cách mạng và quân dân miền Nam trực tiếp chiến đấu chống Mỹ-ngụy chủ yếu là những người mà lợi ích cộng sinh của họ gắn bó chặt chẽ với Mỹ-ngụy, đồng thời đối lập với lợi ích của cách mạng, của dân tộc, với mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Hoặc/và những người chủ yếu sống trong những khu vực phồn vinh giả tạo ở trung tâm Sài Gòn, mà không để ý, không biết, hoặc tránh né quan sát, nhận thức các nơi khác ở Sài Gòn và miền Nam Việt Nam, nhất là vùng nông thôn.

Vậy cuộc chiến tranh này có phải là cuộc chiến giữa miền Bắc và miền Nam hay không? Ngụy quyền Sài Gòn có phải là miền Nam Việt Nam hay không? Vấn đề này mình cũng từng đề cập sơ lược trong một số bài viết về đề tài kháng chiến chống Mỹ. Trong bài này mình muốn chú trọng nói rõ hơn về vấn đề này.

Chưa cần nói đến chính trị, chỉ nói về thực tiễn quân sự thôi thì đã cho thấy rằng thực tế quân sự trong kháng chiến chống Mỹ không phải là Bắc đánh vào Nam như Đàng Ngoài đánh vào Đàng Trong trong thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, hay Bắc Triều Tiên đánh vào Nam Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên.

Thực tế chiến cuộc ở Việt Nam chủ yếu là sự giằng co “mảnh da báo” giữa vùng giải phóng và vùng tạm chiếm ngay trong lòng miền Nam Việt Nam. Đó không phải là sự giằng co giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Vĩ tuyến 17 và các vùng phụ cận là địa điểm ít khói lửa nhất trong 21 năm chiến tranh Mỹ – Việt.

Đó là sự giằng co qua lại giữa quyền lực Việt Nam và quyền lực Hoa Kỳ, giữa vùng giải phóng và vùng bị tạm chiếm. Bên cạnh đó còn có vùng tự do, là những vùng người dân trai tráng địa phương chống Mỹ-ngụy, tự lập chính quyền tự quản, mà không có sự ảnh hưởng, lãnh đạo thực chất từ Trung ương cục miền Nam, do nguyên nhân địa lý, tính chất địa phương, và các nguyên nhân khác, chủ yếu trong thời điểm chưa có Mặt Trận và chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và trong thời gian đầu khi sự lãnh đạo của Trung ương và Đảng Cộng sản Việt Nam chưa được chặt chẽ, trật tự, chưa có một hệ thống rõ ràng, thống nhất.

Ví dụ tại Cà Mau đầu thập niên 1960, hàng chục vạn thanh niên kéo vào rừng U Minh và rừng Năm Căn lập nên hàng chục “làng rừng” công khai chống Mỹ-Diệm, lập vùng tự do, tự quản lý, xây dựng các chiến khu độc lập chống Mỹ-Diệm.

Như vậy, ở miền Nam Việt Nam về mặt quản lý là cơ bản có 3 vùng: Vùng giải phóng, vùng tạm chiếm, và vùng tự do. Cuộc chiến này không hề là sự giằng co, giành giật qua lại giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, mà là sự giằng co, giành giật đất đai, vùng quản lý, vùng kiểm soát qua lại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ở trong lòng miền Nam Việt Nam. Đó cũng là một trong những khác biệt lớn nhất giữa cuộc chiến ở Việt Nam và cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên.

Ngay cả những người đứng đầu, tại vị lâu năm trong ngụy quyền như các ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Cao Kỳ cũng không phải là người miền Nam. Ông Diệm là người miền Trung. Ông Kỳ là người Hà Nội.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam trước giặc Pháp. Gần 2 triệu người miền Bắc thuộc bộ phận “triệu người buồn” di cư vào Nam vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Phần lớn trong số đó là dân Công giáo ủng hộ gia tộc Ngô Đình, chống cộng cực đoan, và trở thành những bộ phận chính yếu trong ngụy quyền và ngụy quân. An ninh quân đội của ngụy phần đông, nếu không nói là hầu hết đều là dân Bắc Kỳ 54, gia tộc họ Ngô hầu như chỉ tin dùng những người này. Gia đình họ Ngô và những tay chân thân tín họ tin dùng đều không phải người miền Nam.

Chiến cuộc 1954-1975 là sự đối địch giữa người Việt và người Mỹ, và phía Việt Nam và phía Hoa Kỳ đều có những người Việt từ khắp ba miền Bắc-Trung-Nam phục vụ và tham chiến. Do đó, đây không phải là cuộc chiến giữa người miền Bắc và người miền Nam, mà là cuộc chiến giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Quân dân Việt Nam do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo, lưu ý tên gọi là “Đảng Lao động Việt Nam” chứ không phải là “Đảng Lao động Bắc Việt Nam”. Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo cả nước chứ không phải chỉ có lãnh đạo miền Bắc. Các nhân vật lãnh đạo kháng chiến quan trọng ở cả ba miền như Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu, Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt, Võ Chí Công, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình v.v. đều là người miền Nam Việt Nam.

Các nguyên thủ quốc gia của CHXHCN Việt Nam gần đây như các ông Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng v.v. đều là những người miền Nam Việt Nam từng chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ.

Cuộc chiến một phía do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, một phía do chính phủ Hoa Kỳ lãnh đạo. Còn cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” là một ngụy quyền bản xứ bù nhìn và là một vũ khí chính trị của Mỹ để tạo danh nghĩa chính trị và phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.

Ngụy quyền Sài Gòn có vai trò mờ nhạt, và về ngoại giao thì cũng cũng tương tự Cộng hòa miền Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đơn giản là cho xây các cơ quan ngoại giao cho CHMNVN và VNCH ở các quốc gia đồng minh của mình, rồi gọi đó là “quan hệ ngoại giao quốc tế”, không có quan hệ ngoại giao thực tế, không có vai trò ngoại giao thực chất.

Năm 1968, trong những vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam, những kế hoạch nông nghiệp rộng lớn đã được thực hiện và nhiều cuộc bầu cử đã được các lực lượng địa phương tổ chức để thành lập chính quyền, cuộc bầu cử tháng 11 năm 1968 đã được hoàn thành trong 17 tỉnh, 5 thành phố và 38 huyện ở miền Nam Việt Nam.

Năm 1969, Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Theo nhà nghiên cứu sử học người Mỹ gốc Nga L.V. Kotov trong bài nghiên cứu American Aggression in Vietnam (Cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam) trên Bách khoa thư Farlex, thì sự thành lập Cộng hòa miền Nam Việt Nam là xuất phát từ nhu cầu thực tế cần một chính phủ thống nhất tạm thời ở miền Nam để thay thế cho các chính quyền dân cử địa phương, các cơ quan tự quản từ các cấp xã, thôn, tỉnh, vốn trước đó đã được dân địa phương thành lập để thay thế các bộ phận hành chính con rối của Mỹ, để giải quyết việc hành chính trong những vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

Thống kê của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã cho thấy số bà mẹ Việt Nam anh hùng (theo tiêu chuẩn có ít nhất 3 liệt sĩ là bản thân, chồng, hoặc con trai trong gia đình) của miền Nam nhiều gần gấp đôi miền Bắc. Miền Nam có 29.220 bà mẹ Việt Nam anh hùng, miền Bắc có 15.033 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thông tin này đã cho thấy một thực tế là quân dân miền Nam đã hy sinh nhiều hơn miền Bắc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hiệp định Genève 1954 không hề chia đôi đất nước

Nội dung hiệp định Genève về Đông Dương không có điều khoản nào quy định chia cắt Việt Nam thành hai miền, hai quốc gia. Hiệp định chỉ công nhận giới tuyến quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, tạm chia làm 2 vùng tập trung quân sự cho quân đội hai phía Việt – Pháp tập kết, hiệp định không có ý nghĩa chia cắt đất nước.

Đây không phải là “hiệp định chia đôi đất nước” như một số người thiếu thông tin đã nhầm lẫn, mà trái lại, là hiệp định lập lại hòa bình, độc lập và thống nhất của 3 nước Đông Dương (Việt Nam, Campuchia, Lào), Pháp rút quân trong 2 năm và tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam năm 1956.

Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 có hai phần: Phần “Thỏa hiệp” và phần “Tuyên bố Cuối cùng” (Final Declaration). Phần “Thỏa hiệp”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng quốc phòng VNDCCH. Phần này có những điều khoản chính như sau:

- Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (Provisional Military Demarcation Line) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp (French Union), bao gồm lính Pháp và lính bản xứ ở dưới vĩ tuyến 17.

- Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn cõi Việt Nam vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam trong 2 năm.

Bản “Tuyên bố cuối cùng” gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của 3 nước Đông Dương, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng, đoạn (6) (Paragraph [6]) là như sau: “Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”.

Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau: “Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín.” Và cuộc tổng tuyển cử đó sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.

Nói chung, đây là các nội dung chính của hiệp định Genève về Đông Dương:

- Các nước tham gia hội nghị tôn trọng quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam – Campuchia – Lào.

- Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.

- Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập trung quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm cả người miền Nam) tập kết về miền Bắc; Chính quyền và quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả người miền Bắc) tập kết về miền Nam.

- 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền.

- 2 năm sau, tức ngày 20 tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trên cả nước để thống nhất lại Việt Nam.

Người Mỹ vốn không ký vào hiệp định Genève 1954 để tránh bị ràng buộc pháp lý, bất lợi cho việc xâm lược và chia cắt Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng chính họ cũng đã “nói hớ” và vô tình cho thấy rằng hiệp định Genève 1954 không hề là hiệp định chia đôi Việt Nam. Nhà sử học, chính trị học George McTurnan Kahin và John W. Lewis trong sách The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam), do Delta Books xuất bản năm 1967, đã cho biết: “Trong bản Tuyên ngôn đơn phương (Unilateral Declaration) của Hoa Kỳ về Hội nghị Genève không có chữ nào nói đến “Bắc Việt Nam” hay “Nam Việt Nam”. Tất cả những gì mà bên đại diện Mỹ nói đến là một Việt Nam”.

Những bằng chứng ở trên đã cho thấy hiệp định Genève 1954 không chia đôi đất nước, mà ngược lại chính là quy định việc thống nhất đất nước. Chính vì vậy, sau này năm 1965, trong bài viết “Sách Trắng của Mỹ” trên báo Nhân dân, số 3992, ngày 8/3, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại: “Hiệp định Giơnevơ 1954, trong Điều 17, 18, 19 và trong điểm 4, 6 đã quy định rõ ràng: Cấm không được đưa vào Việt Nam các thứ vũ khí nước ngoài. Cấm không được xây dựng cǎn cứ quân sự mới trên lãnh thổ Việt Nam. Cấm nước ngoài không được lập cǎn cứ quân sự ở Việt Nam. Cấm đưa bộ đội, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược nước ngoài vào Việt Nam. Giới tuyến 17 là tạm thời, không phải là giới tuyến chính trị, hoặc giới tuyến lãnh thổ; Việt Nam sẽ thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do khắp cả nước vào nǎm 1956.”

oOo

Như vậy đã có quá nhiều nhân tố để cho thấy đây là một cuộc chiến toàn quốc với sự tham chiến của cả nước, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chứ không phải là một cuộc chiến giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Mình là người Bến Tre, lớn lên ở Sài Gòn, gia đình quê ở Bến Tre, là người miền Nam rặt, cho nên mình càng thấy bực mình, khó chịu hơn khi nghe ai đó gọi bọn ngụy là “miền Nam Việt Nam”. Người nhà mình cũng vậy, nhất là những người cựu chiến binh hoặc con cháu của các CCB từng tham chiến trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mỗi khi nghe vậy tự nhiên thấy bực bội, nóng nảy, vì biết rõ cách gọi đó là không đúng sự thật, không đúng với thực tế, với những gì đã diễn ra.

Lâu nay mình rất thích nghe, thích đọc những ý kiến của anh Quản Giáo về đề tài kháng chiến chống Mỹ, rất ấn tượng, đó hầu hết là những ý kiến có quan điểm dân tộc, chính xác về nội dung, dữ kiện, với một tác phong mạnh mẽ của người lính. Anh Quản Giáo đã viết về vấn đề này như sau:

“Ngụy SG là miền Nam thì quân dân ở MN đánh Mỹ là miền nào? QGP làm chủ 2/3 lãnh thổ và phần lớn số dân thì là miền nào?

Tập đoàn tay sai ngụy SG không phải là “cuốc da”, không phải là miền Nam (chúng không làm chủ 1 tấc đất nào, phần lớn diện tích MN do QGP làm chủ, phần còn lại do Mỹ làm chủ), chúng là 1 bầy tay sai, chúng theo giặc, do giặc xâm lược tổ chức và nuôi để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của giặc, chúng bắn giết theo lệnh giặc xâm lược, chúng có 1 vài triệu tên, nhưng dù cho chúng có hàng chục triệu tên đi nữa thì chúng cũng không phải là Miền Nam.

Miền Nam là thành đồng của Tổ Quốc VN, nơi mà người dân mang dòng máu con rồng cháu tiên, gắn liền với 1 nền văn hiến lâu đời, có truyền thống đánh giặc ngoại xâm hào hùng do tổ tiên để lại, chứ Miền Nam không phải là 1 bầy người tụ tập đến từ mọi miền để làm tay sai cho giặc, sẵn sàng nhảy ra chết thay và đẩy đồng bào mình ra đỡ đạn chết thay cho giặc ngoại xâm để kiếm miếng ăn (“còn viện trợ Mỹ – còn chiến đấu”).”

“South Vietnam” là gì?

Một số dịch giả người Việt dịch “South Vietnam” thành “miền Nam Việt Nam” là sai nghiêm trọng. “Southern Vietnam” mới là “miền Nam Việt Nam”.

Trong các sách báo Mỹ về Chiến tranh Việt Nam, các tác giả gọi như sau:

Họ dùng từ “Southern Vietnam” để nói về miền Nam Việt Nam.

Họ dùng từ “South Vietnam” (“Nam Việt Nam”, do ảnh hưởng từ quan điểm chính thống và tuyên truyền, hệ thống truyền thông của chính phủ Mỹ) hoặc/và “Republic of Vietnam” (“Việt Nam Cộng hòa”) để gọi ngụy quyền tay sai của Mỹ 1955-1975.

Như vậy, “South Vietnam” dù có muốn dịch theo kiểu Mỹ hay kiểu “trung lập” đi nữa thì vẫn phải dịch là “Nam Việt Nam”. Còn nếu dịch là “miền Nam Việt Nam” là hoàn toàn sai.

Tương tự, “North Vietnam” dù muốn dịch theo quan điểm Mỹ hay quan điểm “trung lập” đi nữa thì vẫn phải dịch là “Bắc Việt Nam”. Nếu dịch là “miền Bắc Việt Nam” là hoàn toàn sai. “Northern Vietnam” mới là miền Bắc Việt Nam.

“Thời Việt Nam Cộng hòa”?

Bên Mỹ này nhiều bạn vichoco (chữ được cộng đồng mạng dùng để chỉ những tên “Việt chống cộng”), đặc biệt trong số đó là thành phần vacova (vác cờ vàng) suốt ngày vác cờ ba que đi biểu tình mở miệng ra là một điều “Việt Nam Cộng hòa”, hai điều “VNCH”. Nào là “Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa”, “miền Nam Việt Nam thời VNCH” v.v. Rồi một số bạn trẻ không phải là chống cộng có lẽ do đọc quá nhiều nên cũng bị ảnh hưởng rồi nói theo như vậy. Theo phong cách mà Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã đã tuyên bố đại ý: Sự thật là những gì không đúng sự thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Thật ra có cái gọi là “thời Việt Nam Cộng hòa” hay không? Họ có thật sự là “Việt Nam” hay không? Đó có phải là một nền cộng hòa thật sự hay không?

Lịch sử Việt Nam chỉ có thời đại Hồ Chí Minh, thời kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, gọi là “thời chống Mỹ”, “thời đánh Mỹ” hay đơn giản là thời Mỹ (để phân biệt với thời Pháp) đều đúng.

Còn cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” là một nhóm bù nhìn bất hợp pháp, do giặc ngoại xâm dựng lên trên một đất nước đã tồn tại hàng ngàn năm, lên trên một Nhà nước đã thành lập từ năm 1945, lên trên một Quốc hội đã bầu cử toàn quốc từ năm 1946. Và thực tế rõ ràng nó là một nhóm bù nhìn, nhiều sĩ quan, “lãnh đạo” của chính quyền này đã phải thừa nhận như vậy. (xem thêm)

Như vậy về pháp luật Việt Nam thì nó là bất hợp pháp, về thực tế thì nó là bù nhìn. Hầu hết nông thôn miền Nam là do Mặt Trận làm chủ, gọi là vùng giải phóng, ngoài ra có một số vùng tự do.

Những phần còn lại là do Mỹ làm chủ, Mỹ có quyền ở đó. Ngụy quyền Sài Gòn không làm chủ thực tế một tấc đất nào ở miền Nam Việt Nam. Trong những vùng tạm chiếm thì người Mỹ nắm hết, kinh tế, chính trị, quân sự. Ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ “bao trọn gói” và nuôi dưỡng hoàn toàn. Ngụy quyền này không thể tự tồn tại nếu không có Mỹ.

Người Mỹ không cần phải bóp chết hay buông tay ra thả cho ngụy quyền chết. Mà chỉ cần người Mỹ ngồi yên không làm gì thì ngụy quyền cũng đủ chết khi không có ai nuôi. Năm 1975, Mỹ chỉ giảm viện trợ quân sự, nghĩa là giảm cung cấp súng đạn, thì nó đã không cầm cự nổi qua tháng 4.

Tương tự, ví dụ bây giờ Việt Nam đem quân sang Texas dựng lên một chính quyền rồi đặt tên là “Hoa Kỳ Cộng hòa”, rồi vận động cho Nga, Trung Quốc, Campuchia, Lào v.v. công nhận và thiết lập ngoại giao với chính quyền Texas đó, thì đó vẫn là thời Obama, là thời kỳ Việt Nam xâm lược nước Mỹ, xâm lược Texas, chứ không phải là “thời Hoa Kỳ Cộng hòa”, “thời Texas Cộng hòa”.

Tại sao cùng một logic cho cả hai bên mà Mỹ làm thì nghĩ khác, Việt Nam làm thì nghĩ khác? Đó xuất phát từ “tư tưởng nước nhỏ”, “tư tưởng nhược tiểu”, tồn tại trong mỗi người chúng ta. Không xem Việt Nam với Hoa Kỳ là hai bên, hai dân tộc ngang nhau, bằng nhau. Đây là một khuyết điểm chúng ta nên sửa lại.

Theo Blog Thiếu Long

Vẻ đẹp con người miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ qua tác phẩm ‘Những đứa con trong gia đình’ của nhà văn Nguyễn Thi

Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.

Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt. Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.

Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Néy đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đó còn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại. Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động. Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi theo.

Theo Văn Mẫu Việt Nam

Những bộ phim tài liệu hay về Đất lửa Vòng Cung trong Chiến tranh Việt Nam

Đây là các phim tài liệu ngắn gọn nhưng rất hay về đất lửa Vòng Cung và cuộc chiến đấu bi hùng của quân dân Cần Thơ nói riêng và miền Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Phim có những đoạn phim trắng đen nhưng rất hiếm thấy và đặc sắc. Thường các phim tài liệu lớn được trình chiếu rộng rãi trên VTV, HTV lấy các đoạn phim tài liệu nước ngoài, nhưng các đoạn phim đó nếu các bạn siêng xem phim tài liệu nước ngoài đầy trên Youtube thì chắc các bạn đều đã thấy. Nhưng các phim tài liệu nhỏ chiếu ở các đài địa phương ở tỉnh thì có rất nhiều đoạn phim do chính quân dân địa phương quay ngay trong thời chiến nên hầu hết các đoạn phim là “hàng độc” chưa bao giờ xem và đậm tính sát thực. Các phim tài liệu dưới dây là những bộ phim như vậy. Đây là những phim nhỏ và ngắn gọn nhưng rất đặc biệt.

Theo Thiếu Long’s blog

Đại tá Trần Văn Tâm nói về địa đạo dài nhất được công nhận kỷ lục châu Á

Đại tá Trần Văn Tâm nói về địa đạo dài nhất được công nhận kỷ lục châu Á

Nhân sự kiện địa đạo Củ Chi được nhận bằng kỷ lục châu Á vào ngày 26.5.2012 tới tại Khách sạn Rex, Đại tá Trần Văn Tâm – Giám đốc Khu di tích lịch sử địa đạo Củ chi đã dành cho Cổng thông tin điện tử Kỷ lục cuộc trao đổi về địa đạo này qua nội dung dưới đây:

Chào ông, xin ông cho biết địa đạo Củ Chi được nhân dân khởi công đào từ năm nào, lúc bấy giờ có chiều dài và độ sâu bao nhiêu?

- Sau Nam kỳ khởi nghĩa, địa đạo Củ Chi hình thành từ hai vùng: 1. Vùng địch chiếm: Từ những căn hầm bí mật đào thông nhau bởi một đoạn hào, trên đoạn hào lát cây ngang qua rồi lắp đất lên, đi phía dưới. 2. Vùng giải phóng: Đào một đường hào dài vài trăm mét, trên hào lát cây ngang, lắp đất lại, đi lại ở dưới đoạn hào đó. Qua những trận càn quét của thực dân Pháp địa đạo rất dễ bị phát hiện và bị thiệt hại. Đến năm 1948, địa đạo Củ Chi chuyển sang đào sâu xuống từ 2,5m – 3,5m rồi đào khoét vô theo hướng phải, trái. Địa đạo được đào đầu tiên ở hai địa điểm: ấp Bà Giã, xã Phước Vĩnh An và ấp Cây Da, xã Tân Phú Trung, sau đó phát triển ra các xã khác.

Kết thúc thời kỳ chống Pháp, ở Củ Chi mới có 48km địa đạo. Do cường độ chiến tranh lúc này chưa ác liệt nhiều nên cấu trúc địa đạo cũng đơn giản.

Đến thời chống Mỹ, địa đạo Củ Chi có mấy khu, hệ thống địa đạo có mấy tầng, khoảng cách giữa tầng này với tầng kía là bao nhiêu mét? Tổng chiều dài đường hầm “xương sống” và các đường hầm nhánh? Hiện nay chiều dài ấy còn lại bao nhiêu kilômet, thưa ông?

- Trong thời kỳ chống Mỹ, địa đạo Củ Chi có hai khu:

+ Bến Dược: Căn cứ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định.

+ Bến Đình: Căn cứ Huyện ủy Củ Chi.

Lúc này, cường độ chiến tranh từng bước diễn ra ngày càng quyết liệt. Qua rút kinh nghiệm trong thời kỳ chống Pháp, cấu trúc địa đạo ngày càng phức tạp, kiên cố hơn, vững chắc hơn và bất ngờ hơn để đánh địch ở mọi lúc, mọi nơi.

Giai đoạn 1961 – 1965, Mỹ – ngụy tiến hành chiến lược Chiến tranh đặc biệt: Quân ngụy trực tiếp chiến đấu dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ nên cường độ chiến tranh có ác liệt nhưng chưa đến đỉnh cao. Vì vậy, địa đạo Củ Chi có cấu trúc chưa hoàn hảo, chỉ hình thành được đường địa đạo “xương sống” có độ sâu từ 2,5m – 3,5m, nối liền 6 xã phía Bắc Củ Chi địa đạo chỉ thông nhau trên địa bàn 2 ấp gần nhau của 2 xã gần nhau).

Giai đoạn 1966 – 1972, giai đoạn này địa đạo đã thông nhau với các công trình dưới lòng đất như: hầm làm việc, hầm sinh hoạt, hầm ăn uống, hầm nghỉ ngơi… chưa có nắp trầm, nắp bổng, hầm chông, đoạn eo, bẫy gài trong địa đạo. Riêng địa đạo nhánh (của từng ấp, từng cơ quan, từng đơn vị), nơi nào địa đạo có 2 – 3 độ sâu (từ 6m – 8m) mới có ụ, ổ chiến đấu, nắp trầm, nắp bổng.

Khi Mỹ – ngụy thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, quân Mỹ trực tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá thường xuyên vào vùng giải phóng. Từ đó, cường độ chiến tranh từng bước được đẩy lên đến đỉnh cao của sự ác liệt. Rút kinh nghiệm qua thiệt hại của giai đoạn trước, giai đoạn này cấu trúc địa đạo có sáng tạo hơn, vững chắc, kiên cố hơn, liên hoàn dưới lòng đất, trên mặt đất thành hệ thống “địa đạo chiến”. Chiến hào được thông với ụ, ổ chiến đấu, các hầm thông với địa đạo cộng với các bãi tử địa, các loại cạm bẫy đảm bảo Tiến có thế công, lui có thế thủ, bất luận trong tình huống nào cũng giữ được thế chủ động tấn công địch.

Giai đoạn 1973 – 1975, chỉ sử dụng hệ thống địa đạo cũ có từ trước (1966 – 1972 ), không đào địa đạo mới nữa.

Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân và dân Củ Chi đào trên 250km đường hầm. Hiện nay, địa đạo được bảo tồn khoảng 10km để phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ Việt Nam và du khách quốc tế đến tham quan.

Ở tầng 3 địa đạo, một người chỉ có thể bò hoặc đi lom khom khi di chuyển

Thưa ông, để chống lại sự càn quét liên tục của địch ở địa đạo như: dùng chó phát hiện miệng địa đạo, gieo cỏ phá địa hình, dùng “đội quân chuột cống”…, quân và dân ta đã áp dụng những chiến thuật phản kích nào để địa đạo tồn tại đến ngày toàn thắng?

- Muốn đánh phá được địa đạo, Mỹ – ngụy thường thực hiện các bước sau: Nắm tình hình, thu thập tin tức từ những tên chiêu hồi, đầu hàng hoặc dùng tiền của dụ dỗ gia đình cán bộ, du kích bị gom vào ấp chiến lược; Sử dụng đội quân “chuột cống” và chó nghiệp vụ phát hiện hơi người qua lỗ thông hơi và cửa bí mật lên xuống địa đạo;Rải “cỏ Mỹ” để mùa mưa phát hiện lối hành quân của du kích. Mùa nắng thì đốt cỏ cháy hết để phát hiện du kích và căn cứ của ta.

Khi phát hiện nơi có địa đạo (hoặc nghi ngờ có địa đạo), Mỹ – ngụy tiến hành các thủ đoạn đánh phá sau: Gọi máy bay đến ném bom, gọi các cụm pháo chung quanh bắn tới với các cỡ bom pháo lớn khoan sâu xuống đất và nổ chậm để phá địa đạo; Huy động lực lượng, phương tiện để bơm nước, xông khói, hơi độc, hơi ngạt xuống địa đạo; Tập trung xe ủi, xe tăng hạng nặng xới, ủi, chà đi, xát lại để phá địa đạo.

Những loại bom đã được địch ném xuống vùng đất Củ Chi hòng phá hủy địa đạo nhưng đều thất bại

Về phía ta, cách phòng chống Mỹ – ngụy đánh phá địa đạo là kiên quyết đánh trả địch mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi loại vũ khí, bằng mọi cách đánh, kiểu đánh; Ở thì phân tán – đánh thì tập trung. Làm nắp trầm, nắp bổng ngay chỗ lên xuống giữa hai độ sâu để chống Mỹ – ngụy bơm nước, xông khói, hơi độc, hơi ngạt xuống địa đạo. Đào nhiều hầm chông, đoạn co, đoạn nút, các loại cạm bẫy để tiêu diệt lính Mỹ – ngụy khi chúng chui xuống địa đạo tìm theo du kích hoặc ít ra cũng làm chậm bước tiến của chúng.

Bên cạnh địa đạo chính phải có địa đạo phụ. Thực hiện tốt khẩu hiệu 5 không: Đi không dấu – nấu không khói – nói không to – ho không tiếng – giếng không mòn. Sử dụng ớt, tiêu xay nhuyễn, quần, áo, xà phòng, khăn mặt lính Mỹ thường dùng bỏ lại trên chiến trường, cắt nhỏ ra, đặt quanh lỗ thông hơi và cửa lên xuống địa đạo để chống chó nghiệp vụ.

Lỗ thoát hơi được ngụy trang thành ổ mối

Sau năm 1975, Địa đạo Củ Chi trở thành Khu di tích lịch sử và du lịch nổi tiếng của TP. Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung. Ông hãy cho biết việc trùng tu, nâng cấp địa đạo đã được Ban quản lý Khu di tích địa đạo tiến hành qua mấy giai đoạn và hiện nay ra sao?

- Ngay từ ngày giải phóng, Thành ủy – UBND, Bộ CHQS TP. Hồ Chí Minh (nay là Bộ Tư lệnh thành phố) và Huyện ủy – UBND huyện Củ Chi có chủ trương giữ gìn di tích lịch sử địa đạo Củ Chi (Bến Dược và Bến Đình) để tôn tạo, bảo tồn.

Đến năm 1978 mới có kế hoạch sửa chữa một số căn hầm và đường địa đạo, đồng thời đã tiếp một số đoàn khách quốc tế, một số đoàn cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cựu chiến binh về thăm căn cứ cũ – chiến trường xưa. Do nhu cầu tham quan tìm hiểu, nghiên cứu ngày càng tăng của khách, nên đầu năm 1980, Thành ủy và Bộ CHQS TP. Hồ Chí Minh có chủ trương lập kế hoạch khôi phục tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp và qui tập hiện vật về khu di tích.

Đầu năm 1990, được UBND TP. Hồ Chí Minh cho phép liên doanh với Công ty Du lịch thành phố để khai thác lượng khách trong và ngoài nước đến với địa đạo và bắt đầu thu phí tham quan (khách Việt Nam gần như miễn phí).

Đến năm 1994, UBND TP. Hồ Chí Minh quyết định đổi tên từ Xí nghiệp liên doanh Du lịch 87 thành Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi trực thuộc Bộ CHQS Thành phố và được hạch toán độc lập, là Đơn vị sự nghiệp có thu. Nhiệm vụ chính của Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi là tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Củ Chi nói riêng và cả nước nói chung trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và đế quốc Mỹ cho du khách trong và ngoài nước đến tham quan tìm hiểu địa đạo.

Hiện nay, Ban giám đốc Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi luôn chú trọng đến công tác giữ gìn, tôn tạo các công trình di tích lịch sử, sưu tầm hiện vật trưng bày và đầu tư xây dựng thêm nhiều công trình phục vụ công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng như: Khu tái hiện Vùng giải phóng Củ Chi; sa bàn tam giác sắt; hồ mô phỏng Biển Đông và ba mô hình thu nhỏ đặc trưng của ba miền (miền Bắc: Chùa Một Cột; miền Trung: Ngọ Môn Huế; miền Nam: Bến Nhà Rồng); phục hồi, trùng tu Di tích lịch sử Trụ sở Phái đoàn liên lạc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tại số 87A Trần Kế Xương, phường 7, quận Phú Nhuận; Khu truyền thống cách mạng Sài Gòn – Gia Định; tái hiện, tôn tạo Di tích lịch sử chiến khu Rừng Sác huyện Cần Giờ; mở rộng Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi (125ha) tại xã Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương để để tái hiện khu căn cứ hoạt động bám trụ vùng sông nước ven đô Sài Gòn… và mở rộng các loại hình dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí của du khách như: Hồ bơi, Trường bắn thể thao quốc phòng, bắn súng đạn sơn, nhà hàng, dịch vụ canô du ngoạn ngắm sông Sài Gòn, chèo thuyền kayak, bơi thiên nga, xe đạp đôi…

Bia tưởng niệm anh hùng liệt sĩ ở đền Bến Dược

Tái hiện lại cảnh sinh hoạt

Mô hình thu nhỏ Ngọ Môn Huế.

Đền thờ Bến Dược Củ Chi là đền thờ được xây dựng với quy mô khang trang, bề thế để thờ các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trên vùng đết Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, xin ông cho biết những hạng mục chính của đền thờ và tổng số Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh được tôn thờ tại đây, cũng như số lượng du khách trong và ngoài nước đến thăm địa đạo hàng năm?

- Công trình Đền TNLS Bến Dược Củ Chi do Hội kiến trúc sư TP. Hồ Chí Minh thiết kế mà trực tiếp là Kiến trúc sư Khương Văn Mười. Công trình có 5 hạng mục. Cụ thể 5 hạng mục của công trình Đền là: Cổng Tam quan, Nhà văn bia, Tháp, Đền chính (chính điện và tầng hầm), hoa viên, 3 bức tranh hoành tráng và biểu tượng Hồn thiêng đất nước. Hiện nay, trong đền đã khắc được 54.752 tên liệt sỹ.

Xin cảm ơn ông đã cho độc giả thêm nhiều thông tin thú vị về địa đạo Củ Chi!

Bạn đọc có thể tham khảo lượng khách tham quan địa đạo qua bảng số liệu sau (Từ 1990-2011)

STT

Năm

Tổng số khách

Ghi chú

01

1990

36.116 lượt người

- Việt Nam : 26.845

- Ngoại quốc : 9.271

02

1991

156.960 lượt người

- Việt Nam :126.597

- Ngoại quốc : 30.363

03

1992

159.170 lượt người

- Việt Nam : 79.913

- Ngoại quốc : 79.257

04

1993

250.274 lượt người

- Việt Nam : 165.650

- Ngoại quốc : 84.624

05

1994

373.508 lượt người

- Việt Nam : 236.867

- Ngoại quốc : 136.641

06

1995

732.068 lượt người

- Việt Nam : 531.092

- Ngoại quốc : 200.976

07

1996

1.261.137 lượt người

- Việt Nam : 1.036.789

- Ngoại quốc : 182.371

08

1997

1.280.328 lượt người

- Việt Nam : 1.120.140

- Ngoại quốc : 160.188

09

1998

1.261.137 lượt người

- Việt Nam : 1.128.265

- Ngoại quốc : 132.872

10

1999

1.324.300 lượt người

- Việt Nam : 1.164.331

- Ngoại quốc :159.969

11

2000

826.200 lượt người

- Việt Nam : 642.337

- Ngoại quốc : 183.863

12

2001

875.801 lượt người

- Việt Nam : 641.683

- Ngoại quốc : 231.118

13

2002

994.646 lượt người

- Việt Nam : 762.286

- Ngoại quốc : 232.360

14

2003

888.855 lượt người

- Việt Nam : 668.663

- Ngoại quốc : 220.192

15

2004

904.561 lượt người

- Việt Nam : 660.508

- Ngoại quốc : 244.053

16

2005

839.166 lượt người

- Việt Nam : 544.188

- Ngoại quốc : 284.928

17

2006

834.926 lượt người

- Việt Nam : 511.106

- Ngoại quốc : 323.820

18

2007

892.290 lượt người

- Việt Nam : 505.054

- Ngoại quốc : 387.236

19

2008

790.529 lượt người

- Việt Nam : 354.069

- Ngoại quốc : 436.460

20

2009

1.125.000 lượt người

- Việt Nam : 766.339

- Ngoại quốc : 358.661

21

2010

1.263.919 lượt người

- Việt Nam : 852.243

- Ngoại quốc : 411.676

22

2011

1.420.000 lượt người

- Việt Nam : 927.484

- Ngoại quốc : 492.516

Như Bá (thực hiện) – kyluc.vn

Phim tài liệu Đồng Khởi – Bến Tre

Phần 1/5 – Quê hương trong máu lửa

Phần 2 /5- Ánh sáng Nghị quyết 15

Phần 3/5 – Ngày đồng khởi

Phần 4/5 – Đội quân tóc dài

Phần 5/5 – Huyền thoại Đồng khởi

Lần đầu tiên một bộ phim tài liệu đầy đủ toàn cảnh về phong trào Đồng khởi ra mắt khán giả. Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và hãng phim Bản Sắc Việt đã rất tâm huyết khi làm phim tài liệu này. Đây là phim tài liệu rất hay và chất lượng.

Bến Tre là quê nội của mình nên mình xem phim này có cảm xúc đặc biệt. Các bạn xem phim này sẽ thấy tại sao và từ đâu có Đồng khởi, lòng dân Bến Tre và miền Tây Nam Bộ là ra sao, do đâu người Bến Tre và miền Tây phải đứng lên chiến đấu, bảo vệ đất đai ruộng vườn làng xóm của mình.

Phim có những nội dung, chi tiết rất lý thú. Xem để biết người dân miền Nam bất mãn và bớt niềm tin với Đảng đến thế nào về chủ trương chỉ đấu tranh chính trị – không đấu tranh vũ trang. Bất mãn nhưng vẫn làm theo. Tuy nhiên vẫn có một số người mất hết lòng tin, nản lòng rồi ra hàng giặc. Tình hình lúc đó là trên chưa cho đánh, nhưng thằng giặc nó cứ đến nó đánh mình. Phải đến khi ông Lê Duẩn đích thân quan sát tình hình và đưa ra Đề cương Cách mạng miền Nam nổi tiếng thì mới có nghị quyết cho đánh. Nghị quyết đó đã làm người dân Bến Tre và miền Nam vỡ òa lên, cuối cùng cũng cho đánh rồi.

Xem để thấy các vũ khí giả, súng giả, đại bác giả, vũ khí làm từ…. cây dừa, chất liệu dừa của người dân xứ dừa Bến Tre lại có thể làm cho thằng giặc nó sợ ra sao. Lấy súng giả tước súng thật, rồi dùng súng giặc đánh giặc. Không những người dân dùng súng Mỹ đánh Mỹ, mà họ còn chế tạo cả súng Ngựa Trời để đánh giặc. Đây loại súng tự chế có sức sát thương cao, để bù đắp sự thiếu thốn vũ khí của lực lượng vũ trang miền Nam trong giai đoạn miền Bắc chưa chi viện.

Theo blog Thiếu Long

Địa đạo Củ Chi – Phim tài liệu do người Mỹ sản xuất

Nhà sản xuất: Mickey Grant
Đạo diễn, quay phim: Mickey Grant
Giám đốc sản xuất: Stan Cottrell
Kỹ thuật: Ivan Stang
Âm nhạc: Brian Mendelsohn
Người dịch: Hồ Nguyễn
Năm sản xuất: 1986
Phim có sự trợ giúp của xưởng phim Giải phóng

Mỗi khi năm mới Tết đến, ngoài niềm vui hân hoan của một ngày Tết cổ truyền theo truyền thống văn hóa dân tộc, ngoài niềm vui mừng Đảng – mừng xuân – mừng đất nước đổi mới thì người Việt chúng ta còn có 2 niềm tự hào khác, đó là niềm tự hào về Xuân Kỷ Dậu – Tết Mậu Thân.

Xuân Kỷ Dậu, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của thiên tài quân sự Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh tan tành gần 30 vạn quân Thanh khiến chúng tháo chạy tán loạn về nước, lập nên chiến công toàn thắng cho dân tộc, thống nhất hai miền Nam Hà và Bắc Hà.

Tết Mậu Thân, quân Giải phóng tuy không lập được chiến công toàn thắng như chiến công xuân Kỷ Dậu, nhưng cũng lập nên chiến công không nhỏ, đánh choáng váng hơn 50 vạn quân Mỹ, làm rung chuyển xã hội Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán Paris, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Việt Nam, tạo tiền đề cho Điện Biên Phủ trên không và chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, Nam Bắc sum họp 1 nhà.

Năm nay là năm chẵn (kỷ niệm 45 năm chiến dịch Mậu Thân), nên đài báo, cư dân mạng, dư luận đã nói, viết, chiếu phim về chiến dịch này cũng đã nhiều nên mình cũng không viết bài tham luận gì về chiến dịch này. Nhưng mình xin được giới thiệu với các bạn một bộ phim tài liệu ngắn gọn nhưng xuất sắc, tuyệt vời.

Trong chiến dịch tổng công kích, tổng nổi dậy năm Mậu Thân 1968, chiến cuộc bùng nổ trên gần như toàn bộ miền Nam, quân chính quy miền Bắc và quân Giải phóng miền Nam đồng loạt tiến công đánh vào quân đội Mỹ. Nhưng trọng tâm trọng điểm chiến cuộc vẫn là ở Sài Gòn.

Chính chiến cuộc ở Sài Gòn đã ghi vào những thước phim của các phóng viên chiến trường quốc tế, và những phóng viên gan dạ đó đã đưa chiến tranh vào từng căn hộ Mỹ và thế giới. Nó vô tình làm cho cho cả thế giới thấy sự chiến đấu can trường của quân dân Việt Nam, sự tàn ác của Mỹ-ngụy khi xử bắn tù binh bừa bãi ngoài đường, sự bất lực của “đội quân vô địch” Hoa Kỳ, sự vô dụng, rệu rã của các lính kiểng ngụy quân ở đô thị Sài Gòn.

Chứng kiến sự bó tay của quân Mỹ và sự ăn hại của quân ngụy, để cho Biệt động Sài Gòn đánh vào các mục tiêu khó tin nhất như Tòa đại sứ Mỹ, Dinh tổng thống ngụy, Đài phát thanh Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất như chỗ không người, các đại biểu QH Mỹ, các thành viên CP Mỹ càng ngao ngán hơn, ý chí xâm lược và niềm tin chiến thắng càng lung lay hơn.

Nhưng để có được một Mậu Thân lịch sử, để có được kết quả đó ở Sài Gòn thì vai trò của quân và dân Củ Chi là vai trò then chốt. Quân dân Củ Chi đã dốc toàn lực hỗ trợ cho lực lượng biệt động đánh thẳng các cơ quan đầu não của Mỹ tại Sài Gòn. Du kích Củ Chi đã dẫn đường cho các cánh quân khác đi vào thành đô đánh Mỹ.

Vậy quân dân Củ Chi đã sinh sống và chiến đấu như thế nào. Đất thép Củ Chi, “thành phố đường hầm” Củ Chi là một kỳ quan kiên cố và rộng lớn như thế nào. Điều đáng khâm phục là “thành phố đường hầm” này là một kỳ quan nhân tạo, được xây dựng trong hoàn cảnh khó khăn với một công nghệ lạc hậu, chứ không phải kỳ quan thiên nhiên hay các kỳ quan nhân tạo khác mà các dân tộc khác thảnh thơi xây dựng trong thời bình.

Nhân dân và du kích Củ Chi đã đánh Mỹ như thế nào. Vì sao Mỹ ngụy sợ vùng chiến khu Tam Giác Sắt ngay sát bên Sài Gòn như sợ cọp, mỗi lần hành quân vào là bị “bụp” tơi tả. Câu trả lời có thể tìm ra từ những lời kể của những nhân chứng trong bộ phim tài liệu này.

Đây là phim tài liệu của đạo diễn Mickey Grant. Ông đến địa đạo Củ Chi và làm phim tài liệu về “thành phố đường hầm” nổi tiếng thế giới này, với sự trợ giúp của xưởng phim Giải phóng. Phim được thực hiện năm 1986. Đây là bản gốc, chính thức, do đích thân đạo diễn upload lên trang Youtube của ông.

Đây là một bộ phim tài liệu cực kỳ hay không thể diễn tả bằng lời. Nó cuốn hút từ đầu chí cuối không phải từ sự hoành tráng tốn kém, kỹ xảo đồ họa 3D sặc sỡ hay hàn lâm học thuật gì, mà hay từ nội dung súc tích, sự chân thật, bình dị, mộc mạc, đậm đà tình làng nghĩa xóm của làng quê miền Nam. Kết hợp âm nhạc du dương, da diết trầm lắng thật hay.

Phim được thể hiện với một phong cách đặc biệt, khác người: Không có thuyết minh mà từ đầu đến cuối phim là những lời kể chân thành, giản dị của người dân Củ Chi, của người dân quê miền Nam, của những người kháng chiến miền Nam. Nghe những ông bà cụ kể lại, nghe hoài vẫn không chán. Người Củ Chi nói về đất Củ Chi, những nhân chứng trong cuộc nói về cuộc chiến đấu anh hùng của người dân Củ Chi chống giữ, giằng co với quân viễn chinh Mỹ. Một phần nhỏ trong cuộc trường chinh kháng chiến anh hùng của người dân miền Nam và nhân dân Việt Nam trong cuộc đọ sức đọ trí với “gã khổng lồ”, “con khủng long” bách chiến bách thắng Hoa Kỳ.

Xem phim này xong càng thấy thương yêu, kính phục những ông bà cụ, những cha anh miền Nam kiên cường chống Mỹ. Những người con Nam Bộ thành đồng Tổ quốc, miền Nam đi trước (1945) – về sau (1975). Họ đều là những thiên cổ anh hùng bất khuất, lưu danh sử xanh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất non sông. Sinh thời Bác Hồ đã đưa tay lên tim mình và nói: Hình ảnh miền Nam luôn ở trong trái tim tôi.

Xem phim này xong, với góc độ nhìn của một người con miền Nam, quê ở Bến Tre, sinh trưởng ở Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh, mình càng thấy việc một số người gọi ngụy quyền Sài Gòn là “miền Nam”, “miền Nam Việt Nam”, “Nam Việt Nam” theo cách gọi xuyên tạc của chính phủ Mỹ, là chuyện vô cùng đáng trách.

Nói chung, bộ phim tài liệu này rất hay, rất nên xem, đáng tham khảo. Một nguồn sử liệu quý hiếm. Mình không phải dân du lịch, không phải có “ý đồ” muốn quảng cáo du lịch Củ Chi, nhưng vẫn phải giới thiệu tới các bạn phim tài liệu này.

Theo blog Thiếu Long