Gặp o du kích nhỏ bắt sống giặc lái Mỹ năm xưa

Với “o du kích nhỏ” Nguyễn Thị Kim Lai, còn sống trở về trong thời bình đã là một điều kỳ diệu, vậy mà bà lại được gặp “thằng Mỹ lênh khênh” năm nào.

Gặp “O du kích nhỏ”

Bức ảnh nổi tiếng “O du kích nhỏ”

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi nhiếp ảnh gia Phan Thoan chụp được bức ảnh O du kích nhỏ (còn có tên Uy thế không lực Hoa Kỳ, Giải giặc lái Mỹ hay O du kích nhỏ và tên giặc lái Mỹ), nhân vật nữ trong tác phẩm được xếp vào “Trăm năm kiệt tác nhiếp ảnh Việt Nam” này vẫn nhớ như in những khoảnh khắc lịch sử. “O du kích nhỏ” Nguyễn Thị Kim Lai giờ đã gần 65 tuổi, quá khứ đã lùi lại rất xa nhưng ký ức hào hùng vẫn như còn vẹn nguyên.

“Anh hùng đâu cứ phải mày râu!”

Không hẹn trước mà “o du kích nhỏ” ngày xưa lại có mặt tại TPHCM trong những ngày tháng 4 lịch sử này. Trong ngôi nhà của con trai ở quận Thủ Đức – TPHCM, “o du kích nhỏ” đã“ra dáng” một người bà rất mực chu đáo và thương yêu con cháu. Nụ cười đã thanh thản trên gương mặt ở tuổi xế chiều nhưng đôi mắt của bà cứ sóng sánh khi chúng tôi nhắc lại chuyện xưa.

Chiến tranh đã qua từ lâu nhưng hình ảnh kiêu hùng về người nữ du kích nhỏ bé ngày nào vẫn mãi là một biểu tượng đẹp trong trái tim hàng triệu người Việt Nam và bạn bè quốc tế. Bà Lai cho biết mới đây, báo chí Hà Lan cũng đã cử người về tận Hà Tĩnh để gặp lại nhân chứng sống trong bức ảnh O du kích nhỏ.

“Tôi thấy mình chỉ là một hạt cát bé nhỏ giữa cuộc sống. Biết bao chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến và cũng không đếm hết những người thầm lặng về lại với thời bình. Câu chuyện của tôi cũng bình thường thôi nếu so với những gian lao, mất mát của đồng đội” – bà Lai thổ lộ.

Bức ảnh ghi dấu lịch sử được gia đình bà Lai treo trang trọng ở phòng khách, để “mỗi lần nhìn là mỗi lần nhớ” một quãng đời sống hết mình vì lý tưởng cách mạng. Ở chiến trường ngày ấy, cô gái Kim Lai mới 17 tuổi, nhỏ thó, chỉ cao 1,47 m, nặng 37 kg nhưng cứ muốn xông pha đánh giặc. Cô gia nhập dân quân tự vệ khi không quân Mỹ mở chiến dịch càn phá cơ sở hạ tầng của miền Bắc, ngày đêm cho máy bay liên tục rải bom oanh tạc.

Sáng 20/9/1965, một nhóm máy bay địch ập đến tấn công khu vực cầu Đá Lậu (nay là cầu Lộc Yên, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê – Hà Tĩnh). Một máy bay Mỹ bị bắn rơi và đội dân quân phát hiện một viên phi công nhảy dù tẩu thoát. Cuộc vây bắt kéo dài đến tận 20 giờ và nữ dân quân Kim Lai đã phát hiện viên phi công, cô liền bắn súng báo hiệu cho đồng đội.

“Lúc ấy tôi mới vào dân quân, còn chưa thạo súng đạn nên hoàn toàn có thể bị viên phi công Mỹ bắn hạ. Thế nhưng, William Andrew Robinson đã không ra tay. Sau này gặp lại Robinson, tôi mới biết rằng lúc đó, ông không bóp cò vì nhìn thấy tôi, ông nhớ đến đứa em gái nhỏ ở quê nhà” – bà Lai hồi tưởng. Một khoảnh khắc chần chừ, lựa chọn của viên phi công đã làm thay đổi cả hai cuộc đời. “Nếu lúc ấy Robinson bắn trả, tôi đã không còn sống đến hôm nay và có thể ngay sau đó, ông cũng bị quân ta tiêu diệt” – bà Lai nhìn nhận.

Lúc Kim Lai trói gô được viên phi công to kềnh càng – cao tới 2,2 m và nặng 125 kg, đồng đội thấy cô quá đối nghịch với tay lính Mỹ nên đùa nhau: “O Lai áp giải y để coi sao”. Vậy là cô gái nhỏ tuổi và cũng nhỏ con nhất đội cứ thế đi phía sau, kiêu hãnh chĩa súng giải “thằng Mỹ lênh khênh” đi bộ mười mấy cây số. Không ngờ, hình ảnh đó đã được nhiếp ảnh gia Phan Thoan ghi lại.

Năm 1966, bức ảnh được trưng bày trong triển lãm ảnh toàn quốc, được ngành bưu chính in thành tem, rồi trở thành tác phẩm bất hủ với những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: O du kích nhỏ giương cao súng – Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu – Ra thế! To gan hơn béo bụng – Anh hùng đâu cứ phải mày râu!

“Mấy năm sau đó, tình cờ tôi nhận được thư của một người bạn ngoài Bắc. Thấy con tem có in hình mình, tôi gỡ ra khoe với một anh bạn cùng đơn vị. Thế nhưng, tôi cũng dặn anh ấy đừng nói cho ai biết, xấu hổ chết!” – bà Lai nhớ lại một thời “buồn vui gì cũng hết sức hồn nhiên”.

Gặp “O du kích nhỏ”
Hai bức ảnh chụp cách nhau 30 năm, hai nhân vật ở thế đối đầu đã trở nên thân thiết

Trùng phùng và thứ tha

Trong ngôi nhà ở xã Phú Phong, huyện Hương Khê – Hà Tĩnh, bà Lai vẫn còn giữ tấm chăn được may từ chiếc dù pháo sáng như một kỷ vật quý giá mang về từ cuộc chiến. Với bà, cuộc chiến ấy đâu chỉ có hình ảnh kiêu hùng như lúc ngẩng cao đầu áp giải viên phi công Mỹ ở cầu Đá Lậu, mà còn cả một chặng dài sau đó phải đối mặt với biết bao gian nguy mà ranh giới của sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc.

“Có khi chỉ vài bước chân thôi mà đã thấy đồng đội ngã xuống. Có người mới nói chuyện với nhau buổi sáng thì buổi chiều đã hy sinh. Chúng tôi hồi đó chỉ biết sống trọn hôm nay và chiến đấu hết mình, chẳng ai rõ có thể còn sống đến hôm sau không” – bà Lai rưng rưng nhắc lại.

Được điều về làm công tác cứu thương ở mặt trận B5 – Quảng Trị, 26 cô gái đi cùng nhau thì chỉ có 5 người đến nơi. “Những đồng đội sinh tử có nhau lần lượt ra đi, có người hy sinh ngay trước mắt tôi, chính tôi phải gạt nước mắt tất tả cáng thương đưa họ đi an táng” – bà Lai hồi tưởng.

Về mặt trận B5 – Quảng Trị, tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng Kim Lai cùng đội cứu thương vẫn luôn phải có mặt ở những vị trí nguy hiểm nhất để kịp thời cấp cứu, chữa trị cho các chiến sĩ. “Mặt trận không lúc nào im tiếng súng, lúc nào cũng trong tình trạng báo động, được tin có thương bệnh binh là giá nào chúng tôi cũng phải đưa các chiến sĩ về trại an toàn. Nhưng tránh sao được những cuộc càn quét, cứ chạy trong mưa bom bão đạn, chúng tôi luôn nghĩ có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Chỉ có điều, mình chết thì xong phần mình nhưng thương anh em chiến sĩ không ai chăm sóc, chữa trị” – bà Lai bồi hồi.

Gặp “O du kích nhỏ”

Bà Nguyễn Thị Kim Lai với cháu nội ở quận Thủ Đức – TPHCM.

Vậy nên, với “o du kích nhỏ”, còn sống trở về trong thời bình đã là một điều kỳ diệu, vậy mà cô còn gặp lại ông Robinson – viên phi công Mỹ năm nào. Năm 1995, đài truyền hình NHK của Nhật Bản đến Việt Nam thực hiện phóng sự về cuộc đời của nhân vật trong bức ảnh O du kích nhỏ và gia đình ông Robinson đã có mặt tại căn nhà của bà Lai ở Hà Tĩnh.

“Lúc gặp tôi, câu đầu tiên ông ấy nói là: “Cô vẫn chẳng lớn được bao nhiêu”! Thật ra, lúc đó tôi đã nặng 43 kg nhưng ông ấy đã tăng lên 150 kg” – bà Lai cười, kể lại. Cuộc trùng phùng trong thời bình giữa 2 người đã từng đứng ở hai đầu chiến tuyến sẵn sàng xả súng vào nhau hóa ra cũng nhẹ nhõm như nụ cười họ dành cho nhau. “Lúc đó, Robinson mới cưới vợ, tôi cũng có chồng con, cuộc sống đã yên ổn. Quá khứ dù như thế nào thì vẫn mãi là quá khứ. Chúng tôi gặp lại nhau, nhắc lại chuyện xưa như những người đã quen thuộc và xem ngày tháng cũ là kỷ niệm” – bà Lai hồn hậu.

Bức ảnh bà Lai chụp cùng ông Robinson trong cuộc tương phùng hôm đó cũng được bà treo trang trọng bên cạnh khung hình O du kích nhỏ. Ngắm 2 bức ảnh, chúng tôi vỡ lẽ rằng giá trị của thời gian là để người ta nhận ra nhau, hiểu thấu và gói trọn tấm lòng bằng sự tha thứ, bao dung.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, niềm vui của “o du kích nhỏ” ngày nào bây giờ là sum vầy cùng con cháu – bà có 4 người con và 8 đứa cháu. “Thế hệ trẻ bây giờ khó thể hiểu hết được sự mất mát, hy sinh của thế hệ trước. Thế nhưng, tôi mong rằng những rường cột tương lai sẽ hiểu được mình có vai trò và trách nhiệm to lớn như thế nào trong việc xây dựng và cống hiến cho đất nước” – “o du kích nhỏ” Nguyễn Thị Kim Lai kỳ vọng.

TIỂU QUYÊN – ĐĂNG LÊ (NGƯỜI LAO ĐỘNG)

Hải Phòng chia lửa cho Hà Nội

Hải Phòng ban ngày đã vắng, đêm lại càng vắng vì lạnh. Tháng 12, sắp đến ngày Noel, nội thành vàng vàng ánh điện. Gió đông lay lắt chao đèn đường, nhiều lúc điện tắt phụt, tối om.

Từ đầu năm 1972, Cửa Cấm bị thủy lôi Mỹ phong tỏa, thi thoảng mới có tàu nhỏ được hoa tiêu dẫn vào, dò dẫm từ đảo Long Châu tới đèn Nam Triệu cũng mất cả ngày. Còi báo động chốc chốc lại rú lên trên nóc Nhà hát Thành phố. Con phố đổ xuống Phà Bính ngày thường đông là thế, những ngày này vắng hẳn. Có ai đó muốn sang bên Thủy Nguyên, phải chờ khi có xe của bộ đội xuống phà, mới tất tả dắt xe đạp băng theo xuống bến. Bộ đội ai cũng có mũ sắt, còn dân thì có mũ rơm. Những công nhân bến phà còn mặc cả áo rơm, đan kiểu gi-lê, trông mới đầu ngồ ngộ, rồi cũng thấy quen.

Nhiều trận bom Mỹ giội vào Khu An Dương từ giữa năm, hay những trái bom bi nổ chậm bất thần nổ ở trong phố, khiến dân chúng phải đi sơ tán về mãi vùng quê tận An Lão, Kiến Thụy…

Trên đường ra Quán Toan hay về An Hải chỉ thấy xe bộ đội, những chiếc xe dài ngoẵng chở đạn tên lửa giắt đầy lá, cuốn bụi lầm từ Ruồn về.

Tới ngày 18-12 thì Hải Phòng vắng hẳn, lệnh sơ tán triệt để đã được ban hành, thành phố bây giờ là chiến địa. Trên các tầng nhà cao hay tháp nước, thấp thoáng những khẩu đội cao xạ trực chiến. Hải Phòng phập phồng, căng thẳng chờ máy bay Mỹ tới.

Những chiến sĩ tên lửa của đoàn Nam Triệu hay đoàn Hạ Long biết rõ những đường bay của không quân Mỹ vào thành phố này. Chúng vào ăn cướp rất nhanh và cũng bay ra rất nhanh.

Cấp chỉ huy bộ đội phòng không Hải Phòng đã quán triệt cho chiến sĩ của mình đặc điểm tác chiến ở vùng cửa biển, rằng thời gian địch xuất hiện rất ngắn, nếu không cảnh giác sẽ lỡ thời cơ chiến đấu. Đã có những bài học, khi phát hiện địch, báo động vào cấp 1 không kịp, thì bọn A6, F8U đã kịp ném bom, bay ra.

Bảng tiêu đồ 9×9 trên xe P-12 của Tiểu đoàn hỏa lực 72 còn lưu dấu chì xanh về đường bay của không quân Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt luôn nhắc nhở anh em trắc thủ, địch thường bay vào, lấy cửa Nam Triệu làm điểm kiểm tra và đột nhập Hải Phòng từ phía chính Đông. Hướng thứ hai, lấy cửa sông Văn Úc làm điểm kiểm tra tập hợp đội hình vào đánh Hải Phòng từ phía Tây Nam. Các tốp B-52 vào Hải Phòng từ trước đến nay đều sử dụng cả hai đường bay này.

Buổi trưa, chiến sĩ nuôi quân ở bếp tiểu đoàn vào phố về phàn nàn, thịt bán tem phiếu ở cửa hàng đã ít, nhưng rau cũng khó mua, chợ không có người bán. Chiến tranh tác động đến từng chi tiết của đời sống. Hậu cần tiểu đoàn sốt ruột, làm sao cho bộ đội có đủ rau, đủ thịt duy trì bữa ăn bình thường. Quản lý bếp ăn nhanh nhẹn chạy lên xin tiểu đoàn cho xe tải về huyện mua bí và su hào dự phòng chiến đấu dài ngày… Nhưng một lúc sau, anh chạy về bếp tiu nghỉu, không nói không rằng, vơ hết giấy tờ, sổ sách, quần áo cơm vào ba lô rồi thì thào như buôn bạc giả “Cơ động! Cơ động!”.

Tin tiểu đoàn phải cơ động trận địa lan nhanh. Bếp trưởng bảo: Xin người hỗ trợ hậu cần chứ? Hôm trước cũng thế, chắc lại rút ra quanh quẩn ngoại thành chứ gì? Cái gì cần thì mang, không chết mệt, bỏ lại ít đồ không dùng, về lấy sau. Chính trị viên phó xuống phổ biến: Mang đi tất cả, cơ động xa, chuẩn bị nấu ăn trên đường vài ngày. Cử một tổ đi trước chuẩn bị… cơm nước theo kiểu dã ngoại!

Rồi mọi người cũng biết, cùng với tiểu đoàn 71, Tiểu đoàn 72 lên chi viện “chia lửa” cho Hà Nội. Xe bánh lốp chạy trước, xe bánh xích bao giờ cũng chậm nên đành chạy sau. Dân quân và bà con tiễn bộ đội ra tận đường cái lớn. Ngồi trong ca-bin, sĩ quan điều khiển Dựng ngoái lại nhìn những ngọn dừa, khóm tre mờ dần, lòng anh thắt lại. Sê và con ở lại, không biết thế nào. Cu Dưỡng thì mới hơn một tuổi. Từ ngày 22-12, bọn B-52 đã đánh vào Hải Phòng, nhà lại gần trận địa, bọn A6, F-111 nó “xăm xoi” trận địa tên lửa dữ lắm, may mà có bà ngoại…

Ngồi ở thùng xe, các trắc thủ Chiêu, Tuyền và Khoa thì có vẻ háo hức. Họ chưa có gia đình, lên trên ấy, cứ địa bàn lạ là vui rồi. Mới có mấy ngày, hơn chục “thằng” B-52 rơi quanh Hà Nội, trên ấy các tiểu đoàn đang đánh tốt, thời cơ cho 72 lại càng nhiều. Khoa làm động tác “vê tay quay” rõ dẻo, biết đâu cơ hội cho kíp 2 lại là Hà Nội.

Nói thì nhanh, nhưng cũng gần hai ngày đêm, Tiểu đoàn 72 mới vào tới Yên Phong (Hà Bắc). Trận địa Đại Chu, nghe thì quen, không ngờ nó ở sâu thế. Ven đường cấp huyện, rẽ qua làng, vào cánh đồng gần cây số nữa.

Những chiếc xe đại xa đỏ quạch bụi đường lùi vào công sự, cắt moóc, chạy ra làng sơ tán. Đạn nạp vào bệ phóng nghe rõ tiếng xích cuộn rào rào. Tiếng búa đóng cọc mát chí chát. Dân quân Yên Phong vào đông, hỗ trợ căng cáp, kéo dây điện thoại cho đài 1, cho xe thông tin tiếp sức nằm ở rìa làng. Trắc thủ kháo nhau, nhiều “em” xinh lắm, con gái Quan họ đấy nhá! Làm sao có những ngày thong thả nữa nhỉ?\

Tuyền nghĩ thầm, tưởng lên Hà Nội thì hay hơn, giữa đồng không mông quạnh thế này, ở Minh Kha còn thích hơn. Nhưng rồi các trắc thủ kíp 2 cũng chẳng còn thời gian mà so bì. Sáng nay chỉnh tham số, chỉnh phương vị chuẩn, huấn luyện cách đánh B-52 gấp gáp. Trưởng xe UNK giao máy sớm, suốt đêm qua các kỹ thuật viên hì hục kiểm tra cáp, “làm tham số”, may sao cơ động hai ngày đường, máy vẫn ngon, đồng bộ các đài, bệ, không có gì phải lo. Điều bất ngờ nhất họ vừa được biết: Kíp 2 vào trực.

Đã suốt mấy tháng qua, kíp 1 bao giờ cũng là “át chủ bài” của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt. Thực ra tiểu đoàn trưởng nào cũng muốn cho mình có cả kíp 1 và kíp 2 đều tay trong xạ kích. Nhưng khi đối mặt với bọn B-52, người chỉ huy ai cũng muốn “đánh phải chắc thắng”, nên coi trọng kíp đánh tốt, cũng là lẽ thường. Dư luận trong tiểu đoàn xì xào, mấy cậu kíp 2 “đen-ta run” sai số lớn. Chiêu, Tuyền, Khoa biết họ nói về mình. Thực ra trong huấn luyện và chiến đấu với “bọn F”, “bọn A” (máy bay F111 và A6 của Mỹ) vào Hải Phòng, trắc thủ của đoàn Nam Triệu đều rất khá. Không những chuyển trạng thái nhanh mà còn bám bắt mục tiêu trên hiện sóng khá tốt. Phải thừa nhận kíp 1 của 72 cũng giỏi. Trong thành tích bắn rơi tới 35 máy bay của Tiểu đoàn 72, từ ngày nhận khí tài lần đầu đến nay, phần lớn chiến công thuộc về kíp 1. Nhưng đánh bọn B-52 thì… hãy chờ xem!

Buổi đoàn cán bộ Sư đoàn Phòng không Hà Nội đến “nhận quân” và động viên Tiểu đoàn 72 cũng diễn ra chóng vánh. Các chỉ huy nhìn anh em từ xa về, trận địa còn ngổn ngang nên cũng thông cảm.

Bữa ăn trưa hôm ấy ở Tiểu đoàn 72 không thể nói là ngon miệng, dẫu khá nhiều rau và thịt, vì ai cũng hồi hộp với những suy nghĩ mông lung không biết quả đạn mình phóng ra có hạ được B-52 không. Thành thử ai cũng ăn quáng quàng rồi tranh thủ “làm một giấc”. Giấc ngủ giữa trận địa Đại Chu, với các chiến sĩ tên lửa thật quý giá vì đã vạ vật trên xe mất hai ngày trời. Nhưng chỉ được một lúc họ đã phải bật dậy vì tiếng còi báo động hú lên xé tan bầu không khí tĩnh lặng buổi trưa. Lúc đó khoảng hơn 13 giờ.

Trên xe điều khiển, tiêu đồ 5×5 cặp bút chì vào kẽ tay theo hút tốp mục tiêu vào hướng X, cự ly ngắn dần. Lệnh “phát sóng” “sục sạo”, rồi “đồng bộ”… phóng!.. Xe rung lên nhè nhẹ cùng tiếng nổ xé từ ngoài bệ đạn. Cháy rồi! Chỉ trong khoảnh khắc mục tiêu mất dạng trên màn hình trước mặt các trắc thủ. Tiếng hô reo mừng từ bên ngoài lọt cả vào xe. Cả xe chiến đấu hừng hực khí thế chuyển hướng ăng-ten, nhưng lệnh về cấp 2 nhanh chóng truyền về. Nhanh quá! Kíp trắc thủ ai nấy đều hể hả xuống xe. Ngoài kia, trời tháng Chạp vẫn hun hút gió lạnh. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt mừng lắm, nhìn đồng hồ 13 giờ 36 phút, như thế là vừa triển khai, nhưng khí tài kỹ thuật tốt. Chuẩn, chuẩn! Anh nói ra mồm với Nguyễn Văn Dựng. Thoáng 1 chút chau mày, anh nghĩ gì? Dựng nhìn anh bối rối, không dám hỏi. Ừ! Có thể anh lo mấy xe đạn chưa về, chở từ Ruồn lên đây phải hai ngày, mà chưa có tin gì. Ngoài kia trận địa chỉ còn 2 trái đạn. Đúng ra lúc này đã phải nạp đạn bổ sung rồi.

* * *

Đúng là tuổi trẻ vô tư, niềm phấn khích bắn rơi máy bay F4 khiến các trắc thủ, pháo thủ của Tiểu đoàn 72 xôn xao khắp từ bếp ăn đến cả khi về nhà bạt. Họ đã chia lửa cho Hà Nội từ ngày đầu tiên lên đây. Nhưng niềm khát khao hạ gục B-52 vẫn đau đáu trong lòng các anh. Dựng về, kéo mấy trắc thủ ra nói nhỏ: Trên phê bình tiểu đoàn ta. Sao? Mọi người thắc mắc, gương mặt ai nấy ỉu xìu. Dựng nói giọng nghiêm trọng, bắn rơi bọn F4, trên không khuyến khích, dành đạn đánh B-52. Các đơn vị ở Hà Nội đang khan đạn. Này anh em nhớ nhé, bây giờ không có kiểu bắn bồi, bắn nhồi hai ba đạn nữa đâu nhá!

Trở về nhà bạt, nằm xuống, trắc thủ góc phương vị Tuyền trăn trở lắm. Hôm qua anh tranh luận với mấy người, biết rõ hơn, trận địa này cùng với “thằng” 71 cũng từ Hải Phòng lên, có nhiệm vụ đánh bên sườn các đường bay vào Hà Nội. Đánh theo phương pháp P hay phương pháp T thì cũng phải “vê” tay quay giữ cho thao tác ổn định. B-52 cơ động hướng không nhiều, nhưng sai một ly đi một dặm.

Còn Nguyễn Văn Chiêu, trắc thủ góc tà thì khẽ nhắm đôi mắt, tay múa nhẹ như “lên đồng”. Nhưng không phải múa, anh đang hình dung ra khi “thằng B” vào đến cự ly bị phát hiện thì dẻ sóng góc tà của anh phải hạ xuống ra sao, đều đều, chắc chắn thế nào. Rồi khi chuyển về bám tự động, bàn tay mở ra sao để ấn tay quay “ngọt” nhất…

Cũng là sinh viên vào bộ đội tên lửa như Chiêu và Tuyền, Khoa hình dung và nắm được các phương pháp bám sát, lái đạn. Bắn khi nhìn thấy mục tiêu và bắn khi không nhìn thấy mục tiêu, đều là phương pháp bắn có cơ sở khoa học. Có điều là nhiễu B-52 nặng quá, trắng đục màn hình… thời cơ quan trọng lắm. Khoa hiểu sĩ quan điều khiển Dựng, người chỉ huy của anh cũng trăn trở không kém. Trên Hà Nội, các tiểu đoàn bắn theo dải nhiễu khá tốt…

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt không giấu anh em lời nhắc nhở của cấp trên, về việc các anh đã “cao hứng” bắn rơi tốp F4. Nói xong anh thấy lòng nhẹ hơn. Cấp trên có lý, là cấp chỉ huy hướng đánh trả, chỉ huy chiến dịch tổng hợp, chỉ huy lực lượng chiến dịch, họ có nỗi lo lớn. Còn cấp tiểu đoàn như anh là cấp chỉ huy xạ kích, phải lo bắn cho trúng. Trên giao cho anh quản lý hướng chủ yếu là NN.

Bắn theo phương pháp nào là hợp lý? Chỉ câu hỏi vậy thôi mà anh phải nhiều đêm mất ngủ. Khi phát hiện chính xác dải nhiễu, đánh theo phương pháp 3Đ, liệu có chắc ăn. Còn bắn theo phương pháp T, các trắc thủ của anh có bám sát tốt? Dẫu là kíp 2 tham gia trực trận này, anh hiểu rõ từng người, họ vốn là các sinh viên kiến thức về hình học không gian. Dựng, sĩ quan điều khiển vốn là sinh viên, Dựng và anh đã nhiều lần “đồ giải”, đưa ra các tình huống B-52 vào. Theo các phương pháp mà cấp trên dày công tập huấn, các anh chú trọng phân tích tính chất mục tiêu, tốc độ và đường bay cụ thể.

Trên hướng NN các anh được phân công chặn địch, nó sẽ vào tới đâu? Đâu sẽ là cự ly “nó” chuyển góc bay? Nếu là cự ly A, nếu là cự ly B… các giả định được đưa ra. Nguyễn Văn Chắt tin ở anh em. Địch đánh vào Hải Phòng, thời gian xuất hiện ngắn mà anh em còn bình tĩnh bám sát. Ở trên này, thời gian B-52 xuất hiện chắc chắn dài hơn, các tốp hộ tống cũng vậy. Động thái của các tốp hộ tống, cự ly giãn cách… Phải làm chủ cự ly phóng. Chắt trao đổi cùng anh em khá kỹ. Cự ly, cự ly! Các trắc thủ của Chắt tuy chỉ là hạ sĩ quan, chưa qua trường bài bản, nhưng qua luận giải, Chắt biết cái đầu của họ đã mang cách nghĩ phân tích già dặn hơn chức trách. Cách nghĩ của cấp chỉ huy bắn.

Trong chiến đấu, có những “binh sĩ” hiểu ý định của chỉ huy, hành động ăn ý, thì đó là niềm vui, là phúc chứ không bao giờ là họa.

Trận đánh của Tiểu đoàn 72, đối mặt với B-52 trên bầu trời Hà Nội vào đêm hôm sau 27-12. Lúc 23 giờ 1 phút, sau khi tiểu đoàn vào cấp 1, lệnh trên giao cho Tiểu đoàn 71 và 72 tiêu diệt tốp B-52 lao vào đánh phá Hà Nội.

Nhìn lên bảng tiêu đồ, Chắt thấy phương vị 190 có 3 tốp B-52 đang vào gần. Tiểu đoàn 72 được lệnh diệt tốp 491. Anh suy tính rất lung. Lúc đầu anh xác định sẽ đánh theo phương pháp 3Đ, nhưng Chắt hiểu ý định của trên khi giao cho tiểu đoàn anh chặn hướng chính, nếu bắn ở xa theo phương pháp 3Đ không chắc, Lập tức Chắt quyết định để mục tiêu vào cự ly, theo anh là “đắc địa” nhất, lệnh phát sóng.

Lại nói Dựng, lúc này anh lập tức quay ăng-ten về giẻ quạt 180-21 độ. Quả nhiên tại phương vị 190, trên nền nhiễu đục, Dựng cảm nhận mỗi lúc một rõ có dấu hiệu mục tiêu ở cự ly X km. Không còn nghi ngờ.

Lệnh bắn theo phương pháp T. Lần lượt trắc thủ phương vị, góc tà bật về chế độ bám sát T. Sau đó một khắc, trắc thủ cự ly cũng quyết đoán bật về TĐ.

- Tiêu diệt tốp 491, cự ly B2!

- Phóng!

Một tiếng “cạch” rất lạnh, trái đạn lao lên lừng lững, kéo theo vệt lửa màu cam ngùn ngụt. Ngay sau đó, trái thứ hai cũng phụt lên bám theo, cả trận địa mù mịt khói cam và mùi thuốc đạn. Họ đã bắn bồi trái nữa.

Tất cả các cặp mắt trong xe điều khiển ngắm theo tín hiệu đạn “bắt cửa sóng” bay lên theo quỹ đạo, rất nhanh đạn lao vào mục tiêu gần dần, gần dần rồi nhòe sáng… Chiêu nhìn trên màn hình góc tà, mục tiêu hạ thấp độ cao gấp gáp.

Rơi rồi! Rơi rồi!

Sĩ quan điều khiển Dựng thở nhẹ một cái thật khoan khoái. Cửa xe UNK bật mở, tiếng hô từ bên ngoài vang động. B-52 cháy rồi! Lúc đó là 23 giờ 03 phút đêm 27 tháng Chạp. Chiếc máy bay B52 do Tiểu đoàn 72 bắn rơi tại chỗ. Ta bắt được phi công ngay tại Hà Nội. Hai trái đạn phóng lên tại trận Đại Chu đêm ấy, có ai ngờ là hai trái đạn cuối cùng kết thúc đợt đánh chặn Không quân Mỹ lao vào suốt 12 ngày đêm khét lẹt.

* * *

Sau 40 năm, lời khen ngợi của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với trận đánh của Tiểu đoàn 72 vẫn còn vang vọng: “Chiến công đặc biệt xuất sắc”. Xuất sắc vì bắn rơi tại chỗ. Các cơ quan chức năng đều xác nhận, chiếc máy bay vẫn còn nguyên hàng chục quả bom. Nếu tốp B-52 đó nó kịp ném ra, nếu… thì Hà Nội bị thêm một vệt bom đau thương biết ngần nào.

Cung lửa bên sườn Hà Nội đã phát huy uy lực của một trận địa lợi hại, chặn đứng các tốp B-52 đánh vào từ phía Đông Nam.

Chúng tôi đã về thăm quê của sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng. Anh quê ở xã Việt Ngọc, Tân Yên, Bắc Giang, là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp, nhập ngũ năm 1966. Dựng về Tiểu đoàn 72 năm 1968, nơi có kinh nghiệm đánh máy bay trinh sát bay thấp nổi tiếng toàn quân chủng.

Bí thư chi đoàn xã Kiền Bái, Thủy Nguyên, Hải Phòng là cô Nguyễn Thị Sê, hoa khôi của vùng khi ấy. Trai tài, gái sắc gặp nhau, Dựng-Sê nên duyên vợ chồng. Đứa con đầu của họ sinh năm 1971. Họ có với nhau tới 4 mặt con.

Sau chiến tranh, Dựng được trên cử đi học chỉ huy phòng không ở Liên Xô. Trở về nước, dần dần Dựng được giao chức tiểu đoàn trưởng hỏa lực. Nhưng không may, năm 1986 căn bệnh trọng đã cướp đi cuộc sống của anh.

Gái Hải Phòng về làm dâu miền bán sơn địa Bắc Giang, Sê tần tảo nuôi 4 con thơ dại. Nhưng nghiệt ngã thay, chứng bệnh suy tim cấp chẳng bao lâu lại nhằm vào Sê. Năm 1992, Sê đã đi theo chồng.

Những đồng đội phòng không miền Kinh bắc suốt những năm tháng sau này, luôn quan tâm về tinh thần và chút ít vật chất cho những đứa con của người sĩ quan điều khiển tên lửa hào hoa, can trường ấy.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt nay vẫn còn. Ba trắc thủ đã vào tuổi lục tuần. Nguyễn Văn Chiêu hiện là chủ một gia đình tương đối đông đúc và đầm ấm tại ngõ 43, phố Trung Kính (Hà Nội). Sau khi rời quân ngũ, Nguyễn Văn Chiêu học tiếp đại học và về công tác tại Tổng cục Kỹ thuật vào năm 1979. Năm 1986, anh chuyển ngành về Bộ Công nghiệp nhẹ và làm việc tại Nhà máy Cơ khí Quang Trung.

Nguyễn Văn Tuyền thì sau khi xuất ngũ tiếp tục học và trở thành giáo viên. Anh tham gia giảng dạy tại Đại học Thương mại, đến năm 2002 thì chuyển về Đại học Bách khoa, nơi anh đã từ biệt giảng đường đi chiến đấu. Nguyễn Văn Tuyền từng giữ cương vị Trưởng khoa Mác – Lê-nin của đại học có tiếng này.

Trắc thủ phương vị Trương Đăng Khoa hiện công tác tại Tỉnh ủy Thái Bình. Mỗi người đều có một cuộc sống riêng với những bận rộn về gia đình và xã hội. Họ có chung niềm tự hào bình dị, được chia lửa cùng Hà Nội những ngày gian lao ấy.

TRẦN DANH BẢNG (QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN)

Bí mật Điện Biên Phủ trên không lần đầu công bố

Bí mật ‘Điện Biên Phủ trên không’ lần đầu tiên công bố

Đâu phải ở tận nước Mỹ, ở Thái Lan hay đảo Guam mới biết được được kế hoạch ném bom B52 của Mỹ, Đại tá Mạc Lâm chia sẻ.

… Năm 1996 sau khi theo học một lớp đào tạo, tôi được chuyển về Tổng cục II. Về đây được nghe các anh kể lại trong chiến công đánh thắng B52 có một phần đóng góp quan trọng của Tổng cục. Có người đáng lẽ phải được tuyên dương anh hùng. Tôi nghe mà nửa tin, nửa ngờ. Tin vì đúng là để đánh thắng được siêu “pháo đài bay” phải là chiến công chung của cả nước, phải có sự chỉ đạo từ Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, đặc biệt là các anh ở Cục Tác chiến. Ngờ là không biết Tổng cục II đóng góp vào chiến thắng bằng cách nào.

Cuối năm 1999, trên trang báo nội bộ của Tổng cục, tôi cũng đọc được bài của một tác giả trẻ viết về những đóng góp của Tổng cục II vào chiến thắng 12 ngày đêm năm ấy. Đọc xong tôi nghĩ bài viết quá sơ lược. Viết như vậy ai cũng có thể nhận mình là người góp phần đánh thắng B52. Toàn là những câu, những sự kiện chung chung. Nào là Tổng cục đã chủ động nắm tin tức, nào là đã vạch ra được mặt mạnh, mặt yếu, nào là đã biết tính năng kỉ thuật…Toàn những cái đọc ở đâu mà chả có. Đối với người đọc, điều cần là phải chỉ ra ai, nắm thế nào, thời gian cụ thể, báo cáo cho ai…Là người làm công tác nghiên cứu, tôi rất “dị ứng” với những từ như: nói chung là, nhìn chung là, cơ bản là, chúng ta đã góp phần, chúng ta đã chủ động…

Gần đây tôi đọc một cuốn truyện trong đó Đại tá Mạc Lâm có viết về cái đêm phát hiện máy bay B52 đánh vào miền Bắc. Tôi liền gọi điện xin gặp. Ông hẹn vào sáng hôm sau.

Mặc dù đến sớm nhưng loanh quanh mãi mới tìm đến được phòng làm việc của ông. Ông đang ngồi đợi, đứng dậy bắt tay và chỉ chiếc ghế gần đấy mời tôi ngồi, ông đi luôn vào việc (đúng là tác phong của một người chuyên hỏi tù binh- tôi thầm nghĩ).

- Thế này nhé, mình đã suy nghĩ rồi, yêu cầu của các cậu rất khó. Bây giờ tớ đưa những tài liệu này, cứ suy nghĩ xem có dùng được gì thì dùng.

Tôi liếc nhìn, nào là danh sách những người cùng khai thác tù binh với ông; nào là chuyện ông viết về giàn nho ở nhà giam Hoả Lò Hà Nội – “khách sạn Hilton” những ngày đón tiếp “giặc nhà trời” mà ông đã từng gặp; chuyện ông ghi lại đêm thức canh B52 những ngày tháng chạp 1972; rồi cả một vài tên tuổi của những viên phi công. Tôi thấy có cả tên John McCain.

Một tài liệu tôi đặc biệt chú ý: “Báo cáo đặc biệt về công tác Tình báo phục vụ đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không của đế quốc Mỹ trong 12 ngày đêm vào khu vực Hà Nội”.

Tôi quay sang tập tài liệu mà mình chú ý:

- Thế ngành mình (tình báo) đã góp phần đánh thắng B52 như thế nào?

- Cậu cứ đọc tài liệu rồi sẽ biết. Nhưng xin nói trước, chỉ hiểu đại thể thôi. Ví dụ mình mới chỉ viết đến cách đánh B52, lực lượng máy bay, tính năng kỹ thuật, về tổ chức đội hình B52 trong tác chiến, về hiệp đồng với các máy bay khác, sự phân chia khu vực…

Nghe ông nói mà tôi thấy cứ rối tung cả lên. Tôi hỏi nhỏ ông:

- Bác dạo ấy đặc trách mảng này hay sao mà biết được những chi tiết kỹ thế? Có phải ta có người “cài cắm” ở bên ấy không?

- Đấy mới là điều bí mật vì vậy suốt thời gian dài không thể nói được cũng vì thế.

- Ghê quá nhỉ, ngay từ thời ấy mà đằng mình cũng có người sang tận bên ấy – Tôi xuýt xoa?

- Cậu này! cứ gì phải ở tận nước Mỹ, ở Thái Lan hay đảo Guam mới biết được.

- Vậy thì ta làm cách nào?

- Thế cậu tưởng nghề hỏi tù binh của mình chỉ hỏi cho vui thôi hay sao? Bí quyết là ở đấy.

Rồi ông kể vì sao ta lại nắm chắc được âm mưu của chúng. Đặc biệt là âm mưu dùng B52 đánh Hà Nội. Tôi liền cắt ngang lời ông:

- Âm mưu dùng B52 đánh Hà Nội khi còn sống, Bác Hồ đã từng tiên đoán rồi còn gì?

- Đúng! Ông cụ đã tiên đoán, nhưng vào thời điểm nào mới quan trọng chứ. Làm “nghề” đánh địch phải biết rất cụ thể.

Rồi ông nói tiếp: Trước đấy ta đã bắn rơi và bắt đơợc một số phi công Mỹ, mà tên nào khi bị bắt làm tù binh chẳng ham sống sợ chết. Có gì là chúng khai ra hết. Cũng có vài thằng ngoan cố nhưng khi cả sáu bảy thằng khai ra thì một thằng giấu cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Các cậu biết đấy, lực lượng không quân Hoa Kỳ đánh miền Bắc không phải ở một nơi. Từ biển vào, từ Thái Lan sang, từ mãi tận Guam…Đặc biệt đối với loại B52, không phải sân bay nào cũng đậu được, không như mấy anh F4, F5, F105. Dạo ấy chỉ có sân bay ở Thái Lan, Philipin, Guam là B52 có thể cất cánh và hạ cánh được. Tuy nhiên, đã là giặc lái với nhau chúng phải biết chủ trương của những ông chủ của chúng.

Cậu còn nhớ không, trước trận “Điện Biên Phủ trên không” ta làm gì đã hạ đơợc B52 rơi tại chỗ. Nhưng cái thằng B52 khi đi phải có mấy tay tiêm kích hộ tống không có máy bay ta “xơi tái” ngay. Chính bọn đó đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho bọn mình khai thác.

Ông kể tiếp, do nắm được không khí chính trị tại Hội nghị Pari, trên nhận định địch sẽ hành động điên cuồng. Khả năng chúng sẽ sử dụng át chủ bài, bảo bối cuối cùng làm lá bùa hộ mệnh. Vì vậy, mình được chỉ thị của cấp trên khi hỏi cung tù binh phải xoáy sâu vào vấn đề trên. Trước đấy, qua tin tức tình báo, ta nắm được ngày 02.04.72 Mỹ cấp tốc điều hai tàu sân bay Kittyhawk và Costelltion từ Subic đang di chuyển tới vùng biển Việt Nam. Ngày 03.04.72 Mỹ điều tiếp một đại đội máy bay oanh tạc chiến lược B52 gồm 20 chiếc từ Mỹ sang Utapao (Thái Lan). Chính động thái ấy khi hỏi cung tù binh mình đặc biệt xoáy sâu vào những câu hỏi được trên chỉ đạo như:

- Về lực lượng máy bay oanh tạc chiến lược B52 của Mỹ và khả năng bố trí trên các căn cứ ở châu á- Thái Bình Dương.

- Về tính năng kỹ thuật, trong đó chú trọng về trang bị vũ khí, bom đạn, trang bị điện tử, đặc biệt là khả năng gây nhiễu của B52 và những tên đi hộ tống.

- Về tổ chức đội hình B52 trong tác chiến, việc hợp đồng với các loại máy bay khác, việc phòng chống máy bay ta.

- Sự phân chia khu vực và mục tiêu giữa không quân chiến thuật và không quân chiến lược trên địa bàn miền Bắc và khu vực Hà Nội…

Trong số tù binh bắt được có mấy tên ở căn cứ Taklee (Thái Lan) hiểu biết rõ về B525. Có tên đã từng yểm trợ cho B52 thực hiện các “phi vụ” oanh kích ở Quảng Bình và một số khu vực khác ở miền Bắc. Chúng đã cung cấp những đường bay vào khu vực Hà Nội như: Từ hướng biển vào phải bay như thế nào, từ Thái Lan sang thì bay ra sao. Rồi còn đội hình tác chiến, chi tiết số liệu về độ cao, thành phần yểm trợ không chiến, yểm trợ chế áp cao xạ, tên lửa, Ra đa, nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực…toàn những điều “trên cả tuyệt vời”, đúng như yêu cầu của ta.

Rồi ông ghé vào tai tôi nói nhỏ:

- Cái này mới đặc biệt, qua khai thác ta nắm đơợc tại các căn cứ không quân, chúng đang tập trên sa bàn cách đánh vào Hà Nội.

Rồi ông cười:

- Đấy bảo bối chính là ở điểm này.

Tất cả những chi tiết trên được viết thành một bản báo cáo có minh hoạ rất chi tiết trên tấm bản đồ châu á- Thái Bình Dương và Đông Dương. Báo cáo được trình bày trong một hội nghị quan trọng của Bộ Tổng Tham mưu tháng 10.1972. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là chủ tịch hội nghị và mình là báo cáo viên.

Còn điều này mới là cú quyết định- Ông ngừng giây lát, rít nhẹ điếu thuốc đã gần tàn trên tay rồi thong thả kể tiếp- ngày giờ cụ thể lại phải nhờ vào “tay” Trinh sát kỹ thuật.

Ngày 15 tháng 12, nghĩa là trước ngày mở màn chiến dịch 2 ngày, Trung tâm 75 báo về: Phát hiện được lệnh đình phép phi công lái máy bay chiến lược B52 tại Guam và đề nghị khí tượng báo cáo tình hình thời tiết ở Bắc Việt Nam trong những ngày tới. Ngày 16 tháng 12 ta nắm được tin hai tàu sân bay Enterprise và Saratoga đang tiến vào Biển Đông, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên 6 chiếc. Nhiều máy bay tiếp dầu trên không KC 135 đang được bổ sung đến Philippines. Rồi lại nhận được tin Lầu Năm Góc đã thành lập cấp tốc một cơ quan chỉ huy để điều khiển chung hai căn cứ không quân chiến lược ở Guam và Utapao. Tàu cứu hộ đã được lệnh di chuyển lên vĩ tuyến 21.

Qua phân tích, khẳng định địch chuẩn bị mở chiến dịch đánh lớn vào miền Bắc. Tin này được báo lên cấp trên và lệnh báo động cho cả nước và Quân chủng Phòng không- Không quân được ban ra. Cho đến chiều 18.12 Trinh sát kỹ thuật lại báo phát hiện máy bay tiếp dầu cho B52 được lệnh xuất phát. Đến lúc này thì ta hoàn toàn khẳng định chắc chắn tối 18.12 B52 sẽ đánh Hà Nội, Hải Phòng.

Tôi hỏi nhỏ ông:

- Những chi tiết quan trọng thế sao trong các cuốn sách viết về 12 ngày đêm ấy, nhất là bộ sử của Quân chủng Phòng không- Không quân không thấy nhắc đến?

- Thế cậu đọc họ có nhắc đến Bộ Tổng Tham mưu không?

- Bộ Tổng Tham mưu phải có công đầu chứ, làm sao không nhắc được, nhưng cũng rất chung- tôi thành thật.

- Đấy, Bộ Tổng Tham mưu là cánh mình cả đấy thôi. Tin tức về địch là do Ngành mình phục vụ chứ còn ai nữa.

- Thì ra là như vậy. Đến điều ấy mà cũng không nghĩ ra. Tôi nhớ lại trường hợp này cũng giống nhơ trường hợp anh hùng Đinh Thị Vân, khi tuyên dương công trạng, mọi người chẳng biết chị là Tình báo, chỉ biết là công tác tại Bộ Tổng Tham mưu.

Biết ông đã mệt, tôi xin phép được mang những tài liệu về nhà tham khảo. Tiễn tôi xuống cầu thang ông còn dặn: Nhớ giữ những tài liệu này cho cẩn thận nhé. Nó vẫn còn có giá trị cho hôm nay và mai sau đấy.

Nguyễn Đăng Tấn
VNN