Mỹ lục lại ký ức cựu binh chiến tranh Việt Nam

Robert Szponder, 17 tuổi, là một anh chàng đẹp trai có đôi mắt màu xanh dương. Darlene Bernard vừa bước sang tuổi 15, cô học năm thứ nhất trung học. Họ ngồi tán chuyện trong căn nhà nhìn ra biển ở Miami.

[Caption]
Bức họa Robert Szponder được đóng góp để xây dựng “bức tường ảnh” của Quỹ Tưởng niệm Cựu binh chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Miami Herald

Szponder sẽ chết trong chiến tranh ở Việt Nam vài năm sau đó.

Nhưng lúc này, anh và bạn gái mải mê cười đùa vô tư và thắm thiết. Họ đã có những buổi chiều cùng nhau trên bãi biển tưởng chừng như kéo dài vô tận, họ nắm tay nhau, họ cùng nhau nói về tương lai của hai đứa, cho đến khi mà Szponder lên đường nhập ngũ vào mùa hè năm 1968, cách xa bạn gái hàng nghìn dặm.

Hai năm sau, thi thể của Szponder được đưa trả về vùng phía nam Florida. Anh chết bởi một phát bắn trúng tim tại chiến trường Bình Định năm 1970. Robert Allan Szponder khi đó mới chỉ 21 tuổi. Bạn gái của Szponder giữ kín những tấm hình của họ mãi tới 40 năm sau.

Một dự án xây dựng trung tâm về giáo dục chiến tranh Việt Nam, nơi hơn 58.000 lính Mỹ thiệt mạng trong cuộc can thiệp quân sự, đang kêu gọi dân chúng cung cấp các tài liệu về những người đã thiệt mạng hoặc mất tích. Bernard, nay có cơ hội chia sẻ những kỷ niệm về bạn trai xưa, đã lục tìm nơi bà cất giấu những kỷ niệm riêng. Những bức ảnh và câu chuyện về mối tình say đắm của họ là đóng góp nhỏ bé cho chiến dịch tìm kiếm thông tin ở tầm quốc gia, nhằm hàn gắn những lỗ hổng còn lại của chiến tranh.

Trên bức tường tưởng niệm chiến tranh ở Việt Nam, The Wall, tên của những người đã chết được khắc lên đá. Giờ đây, cùng với những bức ảnh, những chi tiết nhỏ nhất từ trong ký ức được khơi lại, để cho mỗi cái tên được nhớ đến đầy đủ hơn.

Bernard, giờ là một phụ nữ 62 tuổi, nói: “Bobby là tình yêu của cuộc đời tôi. Tôi muốn tất cả mọi người biết rằng, Bobby là một người tốt. Ông ấy có tính cách cũng như khiếu hài hước tuyệt vời”.

[Caption]
Darlene Bernard tìm tên của Robert Szponder trên Bức tường ghi danh các Cựu binh chiến tranh Việt Nam năm 1998. Ảnh: Miami Herald

Trong hơn 58.000 cái tên trên bức tường tưởng niệm, còn hơn 26.000 tên chưa có ảnh hay những câu chuyện đi kèm để mọi người có hình dung rõ hơn về người lính đó. Vì thế dự án nói trên đang kêu gọi thu thập các hình ảnh, câu chuyện, từng chi tiết xoay quanh những người đã chết hoặc mất tích trong chiến tranh, xây dựng nên một phần mới có tính tương tác hơn khu tưởng niệm, dự kiến mở cửa năm 2014.

“Những bức hình là rất quan trọng đối với trung tâm và cho khách tham quan. Chúng đưa một con người trở lại cuộc sống thực, đưa đến trước mắt chúng ta những gương mặt”, Jan C.Scuggs, chủ tịch quỹ tưởng niệm các cựu chiến binh Việt Nam cho biết.

“Chỉ riêng những cái tên thôi đã có một sức mạnh khủng khiếp rồi, nhưng khi bạn nhìn nó cùng với một hình ảnh, có một điều gì đó khác biệt sẽ làm bạn cảm thấy vô cùng xúc động. Có lẽ đâu đó một chút cảm giác ớn lạnh nếu đơn giản chỉ là một cái tên và phần ảnh thì bị bỏ trống”.

The Wall, khánh thành năm 1982, thu hút khoảng 4,5 triệu khách tham quan mỗi năm. Họ đến đây để tìm kiếm những cái tên thân thuộc của người thân, và cũng để đánh giá đúng mức độ của sự mất mát lớn đến thế nào.

Đài tưởng niệm được trải dài trên hai bức tường, mỗi bức lại chứa 72 bảng ghi riêng biệt. Tên của Szponder được ghi lại trên đó. Hơn một nửa trong số 58.282 cái tên trên tường có một bức ảnh đi kèm hay hồ sơ lý lịch, với hy vọng rằng rồi tất cả những người đã phục vụ trong quân đội Mỹ cuối cùng cũng sẽ được nhớ đến, và sẽ không có câu chuyện nào phải rơi vào quên lãng. Tuy nhiên, chiến tranh thì đã kết thúc hơn 38 năm về trước và những ký ức thì đang mờ nhạt dần.

“Điều cấp bách hiện giờ là chúng ta cần phải tìm được những bức ảnh đó trước khi quá muộn”, Scruggs, một quân nhân từng bị thương, từng được trao tặng huân chương cựu chiến binh Việt Nam, người đã đi đầu trong những nỗ lực thu thập thôn tin cho bảo tàng, nói.

“Chỉ cần mỗi ngày chúng ta nhận được một bức ảnh… Bây giờ rất nhiều trong số đó được gửi đến từ những người anh chị em ruột, trong khi cha mẹ thì đã ở độ tuổi 80-90. Đôi lúc chúng tôi nhận được những bức ảnh hết sức chân thực từ Việt Nam, nơi mà những người bạn thân thiết đã chụp được và đem nó trở lại khi họ quay về”.

Năm 2003, tổng thống Mỹ George W.Bush đã ký đạo luật cho phép  xây dựng một cơ sở giáo dục dưới lòng đất gần The Wall như một cách giúp các thế hệ tương lai hiểu và đánh giá đúng những di sản để lại.

Một trung tâm như vậy, ước tính mức giá vào khoảng 95 triệu USD, sẽ cung cấp những hình ảnh, hiện vật và câu chuyện về những người đã bị quên lãng.

my-2-5563-1380340734.jpg
Mike Carricarte là anh trai của Louis Carricarte (ảnh đen trắng), một binh sĩ thiệt mạng tại chiến trường Việt Nam năm 1963. Mike ngồi trầm ngâm bên di ảnh và bộ quân phục của em trai trong nhà tại Miami. Ảnh: Miami Herald

Jameson Barton từ Miami, 23 tuổi, thiệt mạng trong một tai nạn trực thăng quân sự vào ngày 18/10/1971. Dì của anh ấy, bà Wanda đã gửi tới cho trang web của dự án những bức hình của anh khi còn nhỏ và cả những bức khi đã trưởng thành, lúc anh đang đứng cạnh một chiếc máy bay.

Một người bạn của Barton, David Henson, thì viết: “Tôi từng là người hướng dẫn nhảy dù của Jamie, chúng tôi đã có rất nhiều những kỷ niệm vui cùng nhau ở Đại học Florida và những khu nhảy khác ở Florida. Khi tàu cập bến Việt Nam, anh ấy chợt dừng lại và muốn thực hiện một cú nhảy cùng tôi….tôi chắc rằng đó là lần cuối cùng anh ấy thỏa sức bay lượn trên bầu trời. Chúng tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời cùng nhau”.

Năm 1966, John T.Weaver và Richard Alfred Wardrobe, thuộc Fort Lauderdale, trở thành bạn thân, họ cùng học tại Học viện quân sự Miami với nhau. Chỉ 3 tháng sau sinh nhật thứ 18 của mình (tháng 6/1967), Wardrobe, một lính thủy đánh bộ, đã thiệt mạng ở Quảng Trị.

“Anh ấy là người thông minh, chu đáo nhưng nóng vội. Chúng tôi đã hỗ trợ, giúp đỡ nhau rất nhiều. Sau khi hoàn thành năm thứ 2, tôi chuyển sang theo học một trường khác… Lần cuối tôi nhìn thấy anh ấy là lúc chúng tôi ôm tạm biệt vào tháng 6 năm 1966″, Weaver viết trong một cuốn hồi ký năm 2004. “Giờ đây, đã 37 năm trôi qua, tôi vẫn nghĩ về anh ấy, vẫn nhớ khuôn mặt, vẫn cảm nhận được sự nóng vội, và vẫn nhớ anh ấy”. Bức ảnh của Wardrobe mặc bộ đồng phục đã được gửi dự án bảo tàng từ một nhóm gia đình và những người bạn giấu tên.

Tuy nhiên, với những cái tên khác, không có một bức ảnh nào cho họ, không có chút hồi ức cá nhân nào, thậm chí là những thông tin cơ bản nhất. Bên cạnh tên của họ vẫn còn khoảng trống.

Hoàng Linh (Miami Herald/VNExpress)

Hội chứng chiến tranh Việt Nam trong điện ảnh Mỹ

chien tranh viet nam

Cuộc chiến tranh xâm lược mà đế quốc Mỹ triển khai tại Việt Nam là một trong những cuộc chiến nổi tiếng nhất lịch sử cận đại. Cho đến nay một số cựu binh Mỹ vẫn còn mang nỗi ám ảnh được gọi với cái tên Hội chứng chiến tranh VN . Đây là vết thương lớn mà người Mỹ không muốn nhắc tới nhưng lại là một đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà làm phim Hollywood.

Vào đầu năm 1988, lần đầu tiên Chính phủ Mỹ buộc phải chính thức thừa nhận rằng 15% (khoảng 50.000 người) cựu chiến binh Mỹ từ chiến tranh VN trở về bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng mà nguyên nhân do họ đã tham chiến tại VN và những ám ảnh về tội ác họ từng gây ra (Hội chứng chiến tranh VN). Các nhà xã hội học Mỹ khẳng định bình quân mỗi ngày có ba cựu chiến binh Mỹ tự sát. Điều đáng lưu ý là hiện tượng trên chưa hề xảy ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Triều Tiên. Đề tài này đã mở ra một trào lưu làm phim về Hội chứng chiến tranh VN và tạo được sự chú ý của dư luận thế giới như các phim Người lái taxi (1976, đạo diễn Martin Scorsese), Sinh ngày 4-7 (1989), Trời và đất (1993) – đều của đạo diễn Oliver Stone, Cuộc chiến trong gia đình (1996, đạo diễn Emilio Estevez)…

Năm 1976, Người lái taxi ra đời được coi là một trong những phim đầu tiên khai thác tâm lý phức tạp, hỗn loạn của cựu chiến binh Mỹ, cụ thể trong phim là nhân vật Travis – cựu binh thủy quân lục chiến tham gia chiến tranh VN năm 1972. Đạo diễn không thể hiện cuộc sống của Travis khi anh còn trong quân ngũ, mà khi anh đã trở về đời sống thường nhật tại thành phố New York. Theo chân Travis, một xã hội Mỹ hoàn toàn khác được mở ra, không phải một nơi hiện đại với những tòa nhà tráng lệ, mà là những khu ổ chuột đầy rẫy tệ nạn, ma túy, ma cô, gái điếm. Và đó là một phần cuộc sống hiện tại của Travis. Ngay từ đoạn đầu phim, khán giả đã có cảm giác “bất ổn” về nhân vật này. Một con người mắc chứng mất ngủ kinh niên, lái chiếc xe taxi đi lang thang mỗi đêm, đến những nơi dơ bẩn bệnh hoạn trong thành phố hoặc xem phim cấp 3. Ngày từ đầu, Travis đã được khắc họa là một con người có những suy nghĩ lệch lạc, kì quặc, mất lòng tin vào đất nước, và tính cách này ngày một phát triển theo hướng khác thường, khốc liệt hơn. Cao trào phim là lúc Travis cứu cô (bé) gái điếm Iris khỏi ổ điếm sau một trận bắn súng đẫm máu. Số phận Travis là bi kịch của một con người không hòa nhập được với cuộc sống bình thường, trở nên đơn độc trên chính quê hương mình. Taxi Driver chiếm vị trí 86 trong danh sách 250 phim hay nhất mọi thời đại. Với khoản kinh phí vỏn vẹn 1,3 triệu USD, tác phẩm thu lại hơn 28 triệu USD khi chiếu ngoài rạp, và gần 13 triệu USD khi phát hành băng video. Nhân vật Travis Bickle được xếp vào vị trí 30 trong danh sách Những nhân vật phản diện vĩ đại nhất trong 100 năm, còn bản thân bộ phim nằm trong danh sách 100 phim kinh dị hay nhất trong 100 năm của Viện Điện ảnh Mỹ. Phim cũng được lựa chọn để lưu trữ trong thư viện Quốc hội Mỹ, với tư cách là di sản văn hóa cho các thế hệ sau.

Các phim Sinh ngày 4-7, Trời và đất, Cuộc chiến trong gia đình nói về một dạng chung thường thấy của “ hội chứng VN”, đó là sự săn đuổi của quá khứ, sự dằn vặt về những tội ác mà mình đã gây ra. Nhân vật Ron (Sinh ngày 4-7), Steve (Trời và đất), Jeremy (Cuộc chiến trong gia đình) sau khi trở về nhà, về với cuộc sống đời thường đều có nỗi ám ảnh bởi những cảnh giết chóc, những lần ra tay tàn sát người già, trẻ em và những người dân thường VN vô tội trong cuộc chiến. Điều này như một cơn ác mộng khủng khiếp luôn đi theo họ từng ngày. Hậu quả là những trận cãi vã mà nguyên nhân là những người cựu binh Mỹ không nhận được sự cảm thông, thấu hiểu từ phía người thân trong gia đình. Bi kịch đến đỉnh điểm khi gia đình tan nát, những con người đang bị nỗi ân hận dày vò nay mang thêm sự đau đớn vì không còn chỗ dựa, họ trở nên cô độc. Có người tự chữa trị cho căn bệnh tâm lý của mình bằng cách tìm một mục đích sống, một hành động nào đó để có thể dũng cảm đối mặt với quá khứ, thừa nhận quá khứ và dần quên được quá khứ (nhân vật Michael, Ron và Jeremy), nhưng cũng có người tự giải thoát bằng con đường tự sát (nhân vật Steve), một cái chết bi thảm của một tâm hồn tội lỗi không thể thoát khỏi cơn ác mộng của mình.

Cái chết không phải là địa ngục, địa ngục chỉ thực sự bắt đầu khi người lính trở về nhà. Hội chứng chiến tranh Việt Nam đã khiến họ không hòa nhập được với cuộc sống bình thường, bị ám ảnh bởi cuộc chiến, về cái chết và cả những gì họ đã làm, họ mang tâm hồn bị tổn thương bởi chiến tranh. Những người lính Mỹ sau khi trở về mang một thân thể tàn tạ, ý chí mệt mỏi, mất lòng tin vào đất nước, sống không có mục đích. Họ rơi vào bế tắc với nỗi đau không thể bù đắp được. Cái chết về thể xác không đáng sợ bằng cái chết của tâm hồn, của lương tâm và ý chí. Và cho đến tận bây giờ, đề tài này vẫn đang được các nhà làm phim Mỹ tiếp tục khai thác.

Theo Trần Mai Khanh (VH)

Chiến tranh Việt Nam trong văn học Mỹ – từ sự thật đến tác phẩm

“HỘI CHỨNG CHIẾN TRANH VIỆT NAM”

Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là “Hội chứng Chiến tranh Việt Nam”.

Nhà báo, nhà văn Mỹ Jack Fletcher đã kể một câu chuyện về một lính Mỹ đã từng tham chiến ở Việt : anh ta đã bắn một bà cụ nông dân từ phía sau lưng, khi bà vừa bước ra từ ngôi nhà lợp bằng lá dừa của mình. Nhiều năm sau khi trở về nước, anh ta phải vào bệnh viện tâm thần dành cho các cựu chiến binh Mỹ. Đến tháng 10 năm 1982, anh ta đã tự sát bằng cách dùng dây nối với cò súng để viên đạn bắn vào sau lưng mình… Trong y học, hiện tượng đó được gọi là “hội chứng chấn thương thần kinh”.

Vào năm 1988, lần đầu tiên chính phủ Mỹ đã chính thức thừa nhận rằng 15% cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam trở về, nghĩa là khoảng 50 vạn người, vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng, mà nguyên nhân của căn bệnh đó là họ đã tham chiến ở Việt Nam. Các nhà xã hội học Mỹ đã khẳng định, trung bình mỗi ngày có ba cựu chiến binh tự sát bằng những cách thức ghê rợn. Nhiều người đã để lại những ghi chép về chiến tranh, về  quân đội và về những cơn ác mộng khủng khiếp từng ám ảnh họ. Điều đó chưa hề xảy ra sau chiến tranh thế giới thứ hai và cả sau cuộc chiến tranh Triều Tiên. Vậy cái gì ở cuộc chiến tranh Việt Nam cho đến nay vẫn đang làm nảy sinh bao nhiêu điều khủng khiếp, điên rồ như vậy? Câu trả lời thông thường là: cuộc chiến tranh này đã chà đạp lương tri, lẽ phải, nó đã xô đẩy những con người bình thường vào những hoàn cảnh phi lý, và sự điên rồ đã trở thành phản ứng bình thường đối với nó.

TỪ SỰ THẬT CHIẾN TRANH VIỆT NAM…

Người Mỹ đã chia thời gian thực hiện chiến tranh Việt Nam của họ thành 3 giai đoạn: 1. “Giai đoạn cố vấn” (1954-1965); 2. Giai đoạn: Chúng ta có thể chiến thắng không?” (1965-1968); 3. Giai đoạn “Chúng ta thoát ra như thế nào đây ?” (1968-1973). Cách chia này của họ tương ứng với cách chia trong lịch sử Việt Nam cũng gồm ba giai đoạn: “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Trong bài viết này, tôi không điểm lại sách lược của Nhà trắng và Lầu năm góc trong suốt cuộc chiến tranh. Sự thật của chiến tranh chỉ có thể tìm thấy ở chiến trường. Trong khoảng những năm từ 1965 đến 1972, Chính phủ Mỹ đã điều sang tham chiến ở Việt Nam chừng 5 triệu thanh niên Mỹ và thời hạn quân dịch của một người là 365 ngày. Chỉ có những người thanh niên Mỹ này, những ngươì trong cuộc, mới hiểu rõ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam hơn ai hết. Philip Capote, nguyên là lính thủy đánh bộ bổ sung sang Việt Nam đầu những năm 70, đã trả lời một cuộc phỏng vấn: … “Trước khi đặt chân lên đất Việt, chúng tôi được học một “cua” về văn hóa Việt Nam. Những gì nghe được đại để không ngoài mục đích để chúng tôi căm ghét đất nước này, căm ghét “Việt Cộng”. Phải bắn vào tất cả những gì khả nghi, tất cả những gì động đậy. Người ta dạy tôi tìm cách diệt Việt Cộng. Kết quả, suốt thời gian quân dịch ở Việt Nam tôi chưa hề bắt gặp một bóng dáng Việt Cộng nào, còn đơn vị của tôi bị thiệt hại khá nặng nề, trong số hàng chục nghìn lính Mỹ bị chết, tôi có 15 người bạn thân vĩnh viễn ra đi. Ngay trong thời gian ở Việt Nam một câu hỏi thường làm tôi mất ngủ: những người lính Mỹ chết vì cái gì, và nếu như Việt Cộng quả là xấu như người ta tuyên truyền thì tại sao họ lại được nhân dân che chở đùm bọc như vậy, mà nhân dân thì không thể xấu là không thể nhầm. Càng ngày cái “lý tưởng” mà chính phủ Mỹ đặt lên vai chúng tôi – lý tưởng “ngăn chặn cộng sản” càng là một tảng đá nặng nề và cuối cùng chỉ là sự bịp bợm. Người ta đã đánh tráo ngay ở chỗ mà tưởng như không thể dễ dàng đánh tráo, đó là sự đánh tráo niềm tin thiêng liêng của mỗi chúng tôi” (2).

Larry Rottman, nguyên là lính bộ binh sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới”, đã phát biểu: “… Tôi đến Việt Nam mà không hề biết một tí gì về đất nước này. Nói cho đúng ra tôi chỉ biết Việt Nam nhỏ như một bang của Mỹ. Nếu như trong chiến tranh con người có thể tìm thấy tình yêu, tình người, thì với tôi, ngay trong cuộc chiến tranh vô nhân đạo này, tôi đã tìm thấy nó. Tôi hiểu, chỉ có lăn lộn trong chiến tranh con người mới hiểu được lòng nhân hậu của con người. Điều đó cần thiết biết bao. Cũng như đi vào chiến tranh tôi hiểu kẻ thù thực sự của con người là sự ngu dốt… Bản thân những người lính Mỹ giết người thì họ cũng là những người ngu xuẩn, bởi vì không ngu xuẩn thì họ sẽ không giết người bao giờ, bởi nếu anh có sự hiểu biết thì anh sẽ đồng cảm với nỗi đau của người khác… Những năm chiến tranh, tôi có 23 người bạn bị giết, trong đó có một người bạn rất thân. Cho nên, cái chết như một nỗi kinh hoàng cứ ám ảnh tôi. Cháy, bom đạn, tên lửa, bụi bặm, bẩn thỉu, ẩm ướt, trì trệ, buồn chán, nỗi nhớ vợ và đáng sợ nhất là tất cả mọi người Việt Nam, kể cả trẻ con đều rất căm thù mình, đã làm tôi cực kỳ ghê tởm chiến tranh”(3).

Bộ sách nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam có tựa đề (4), đã phân tích cuộc chiến tranh này từ nhiều góc độ với quan điểm tương đối khách quan. Ở chương 78 của bộ NAM đã mô tả hiện tượng chống lại kỷ luật trong binh lính Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam như sau: “Ngay từ sau năm 1967, 60% cựu chiến binh, đa số là binh sĩ quân dịch, đã thú nhận họ đã chống lại cuộc chiến tranh này, hoặc không biết chiến đấu để làm gì. Cuộc chiến càng kéo dài, tinh thần binh sĩ càng xuống và ý muốn giữ mạng để về nước trở thành mối bận tâm chính của họ. Khẩu hiệu sau đây gây nhiều tiếng vang: “Đừng trở thành người cuối cùng chết tại Việt Nam”. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đóng góp thêm một thuật ngữ vào từ điển quân sự: fragging. Từ này lúc đầu mang ý nghĩa là dùng lựu đạn tự sát hại cấp trên, sau đó fragging còn chỉ mọi hành động sát hại cấp trên bằng mọi phương tiện. Fragging là “đỉnh cao của hiện tượng chống lại kỷ luật trong quân đội Mỹ tại Việt Nam: “Đã qua rồi thời kỳ mà người lính thủy nghiêm chào cấp trên. Giờ đây chẳng ai chào ai nữa, ăn mặc tùy thích. Muốn đội nón rừng cứ đội. Muốn xắn một tay áo, còn tay áo kia thả xuống, cứ việc, muốn để râu tha hồ. Chẳng ai làm phiền ai nữa. Các sĩ quan hiểu rằng nếu họ “láng cháng” với binh sĩ, có thể sẽ bị bắn một viên đạn vào đầu. Đây là chuyện xảy ra thường ngày trong các đơn vị bộ binh. Những hành vi vô kỷ luật đó đã dẫn đến hiện tượng fragging. Cách đơn giản nhất để xử lý một viên sĩ quan ưa hành hạ cấp dưới hay ưa thí quân là “khử” hắn ngoài mặt trận. Có hai cách fragging và mỗi cách có những bước khác nhau. Trong cách thứ nhất, viên sĩ quan bị nhắm đến còn cơ cơ hội để “phục thiện”. Đầu tiên là ném một quả lựu đạn khói vào trong hố cá nhân của hắn. Nếu hắn vẫn chưa đổi tính, sẽ bị một quả lựu đạn cay. Nếu lời cảnh cáo này không được “tiêu hóa”, cái chết sẽ đến với hắn tại bất cứ đâu. Còn cách thứ hai, chỉ có hạ sát mà không cần cảnh cáo…”.

… ĐẾN TÁC PHẨM VĂN HỌC

Trong văn học, vào những năm đầu của thập kỷ 1960, chiến tranh Việt Nam bắt đầu gợi sự chú ý của các nhà văn Mỹ. Đến thập kỷ 1970 thì nó đã trở thành một đề tài nóng bỏng trong văn học, và cho đến hôm nay đề tài này vẫn còn lôi cuốn nhiều người cầm bút ở Mỹ. Tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam hết sức phong phú và đa dạng. Về thơ và truyện ngắn thì chưa ai thống kê được hết, còn riêng tiểu thuyết thì có hơn 500 cuốn đã được xuất bản, ngoài ra còn có các thể loại khác như : phóng sự, ký, hồi ký… với các sắc thái, giọng điệu rất khác nhau.

Những người viết về chiến tranh Việt Nam có hai dạng. Một là, những nhà văn chuyên nghiệp (trong số này có nhiều người viết theo đơn đặt hàng của quân đội); hai là, những người lính trực tiếp viết về cuộc chiến tranh mà họ tham gia. Ở những người viết thuộc dạng thứ hai này, tác phẩm của họ có cái được viết ngay trong chiến tranh (chủ yếu là thơ, nhật ký…), còn phần lớn là được viết sau chiến tranh. Những tác phẩm được viết sau chiến tranh, ngoài một số lượng thơ rất phong phú, thì tiểu thuyết là một hình thức phát triển hơn cả. Tiểu thuyết có một vị trí quyết định, nó ảnh hưởng một cách sâu sắc nhất, cơ bản nhất, nhạy bén nhất sự chuyển biến của hiện thực chiến tranh. Với một hệ chủ đề hết sức đa dạng và cơ bản, tiểu thuyết đã lưu giữ và làm sống lại bộ mặt thật của chiến tranh Việt Nam với nhiều tầng phản ánh cực kỳ sinh động. Nó thực sự là tiếng nói đa nghĩa về đất nước, văn hóa và ý thức con người Mỹ trong cuộc chiến tranh này. Trong hơn 500 tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam, theo Fletcher (5) thì hơn 300 cuốn là loại văn chương lá cải và đầy bạo lực. Nhận xét về loại văn chương này, Fletcher viết: “Những cựu chiến binh mà tôi quen biết không ưa những cuốn tiểu thuyết tầm thường này về Việt Nam với lý do là, Việt Cộng trong những cuốn tiểu thuyết ấy luôn được miêu tả như những kẻ cuồng tín, vụng về và thiếu lòng dũng cảm. Rambo và những nhân vật trong phim và truyện mà người ta dựng lên dường như đánh nhau với Việt Cộng và thắng họ thật dễ dàng. Nhưng trên thực tế là vô cùng khó khăn và chúng ta đã thất bại”. Khảo sát những tác phẩm nghiêm túc viết về chiến tranh Việt Nam , tôi dựa vào trục thời gian – chủ yếu là thời gian sự kiện – để làm rõ một số nội dung chính của mảng văn học này. Ở bộ phận tiểu thuyết chiến tranh, người lính là hình tượng trung tâm. Họ được đặt vào trung tâm các sự kiện, biến cố, là điểm xoắn của các mâu thuẫn. Tính cách người lính được soi rọi từ nhiều góc độ: tâm lý và hành động, văn hóa và chính trị, danh dự và nạn phân biệt chủng tộc, ý thức và vô thức, khoa học và lương tâm… Toàn bộ các vấn đề đó, sự vận động nhận thức về chúng đều gắn liền với sự vận động thời gian (thời gian trong cuộc chiến tranh và thời gian sau cuộc chiến tranh). Căn cứ vào trục thời gian, ta nhận thấy có hai kiểu cấu trúc hình tượng : thứ nhất là loại hình tượng được đặt ở thì hiện tại (trong chiến tranh ở Việt Nam hoặc sau chiến tranh ở Mỹ); thứ hai là loại hình tượng được xây dựng đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Ở kiểu hình tượng thứ hai này thủ pháp đồng hiện thời gian giữ vai trò quan trọng…

Ngay từ giai đoạn thứ nhất của cuộc chiến tranh, có những nhà văn đã “nhìn xa trông rộng”, sớm thấy được nguy cơ của việc can thiệp sâu vào Việt Nam, và đã gián tiếp phản đối chiến tranh. Nhà văn David Halbatstam là một trường hợp tiêu biểu. Tiểu thuyết Một ngày nắng gắt (1968) của ông đã chiếm một vị trí nổi bật trong dòng văn học Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam. Đứng ở trung tâm tiểu thuyết là hai cố vấn Mỹ – đại úy Bob và trung úy Anderson . Tòan bộ tác phẩm “tóat lên sự kinh ngạc và căm phẫn (một cách kín đáo) trước tính cách tàn bạo và vô nghĩa lý của tất cả những việc đang diễn ra”. Từ trang đầu tiên đến trang cuối của Một ngày nắng gắt, Bob luôn bị ám ảnh bởi cảm giác rằng trong cuộc chiến tranh này, chính nghĩa không thuộc về quân đội Mỹ. Cảnh cuối tiểu thuyết có ý nghĩa tượng trưng, đại úy Bob thoát chết trong cuộc càn quét, vác trên vai xác trung úy Anderson. Một chủ đề khác của văn học giai đoạn này là giới chóp bu của chính quyền Sài Gòn đã bắt đầu làm tha hóa người Mỹ như thế nào. Tiểu thuyết Người đàn ông đảo Corse (1983) của nhà văn Keffernel đã mô tả một quá trình một sĩ quan Mỹ tham gia vào việc buôn bán ma túy và đồng ý chuyển heroin về Mỹ bằng cách dùng các quan tài để chứa. Tiểu thuyết Thành công riêng của đại úy Peter Rossille (1983) của F. Woodray nói về sự hoang mang “không hiểu ai là kẻ thù thực sự” của một bộ phận sĩ quan cố vấn Mỹ.

Trong giai đoạn hai của cuộc chiến tranh (1965-1968), nằm ở trung tâm phản ánh của tiểu thuyết là những  người lính thường. Fletcher đã nhận xét: “Cũng như những tiểu thuyết Mỹ viết về chiến tranh thế giới lần thứ hai, tiểu thuyết về Việt Nam cho thấy rằng, những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Mỹ và thậm chí những vấn đề đáng nguyền rủa của đời sống mà nói chung bất kỳ người nào chạm phải đều có thể tìm thấy được trong bức tranh thu nhỏ của mối quan hệ qua lại giữa binh lính của bất kỳ tiểu đội, trung đội hay đại đội nào” (6). Tuy mỗi cuốn tiểu thuyết giải thích những sự kiện chính trị từ một góc độ hơi khác nhau một chút, nhưng tổng thể của chúng đã tạo thành sự hoàn chỉnh về chiến tranh Việt Nam với tất cả chủ đề. Tiểu thuyết Commados Sài Gòn (1983) của J. Kelville kể lại đời sống chiến tranh của lực lượng quân cảnh Mỹ ở nội thành. Tiểu thuyết Tất cả những thứ chúng ta có (1981) A. Skelltole đã tập hợp tất cả các câu chuyện của 33 người lính và những ngày tháng địa ngục của họ ở Việt Nam. Tiểu thuyết Máy bay khu trục (1983) của R. Marson kể lại câu chuyện người phi công chở lính Mỹ tới trận địa và lại chở về căn cứ chính những người ấy nhưng đã bị thương hoặc là những xác chết. Tiểu thuyết Những cánh đồng bốc cháy (1978) của J. Weeffer đi sâu vào phân tích tâm lý những người lính bị thương trong chiến đấu. Tiểu thuyết Đơn vị xạ kích (1975) của J. Kranzer và Anh em trai: Những người lính da đen ở Việt Nam (1982) của S. Gowffer nói về số phận người lính da đen ở Việt Nam và nạn phân biệt chủng tộc trong quân đội Mỹ. Tiểu thuyết Đếm xác (1973) của W. Hughet mô tả những nỗi kinh hoàng của chiến tranh ở vùng Khe Sanh, Huế, Đà Nẵng… sự khủng khiếp của chiến tranh và sự hòai nghi tột cùng của người lính là những chủ đề nổi bật nhất của tiểu thuyết giai đoạn này. Trong từng cuốn tiểu thuyết, cuộc chiến tranh diễn ra (xuất hiện) trong giây lát, trong tiếng nổ của một quả mìn, những tràng đạn của súng tiểu liên AK, tiếng rít của súng cối, tiếng thình thịch của những chiếc xẻng… gây tác động mạnh và những tiếng kêu thét của người lính Mỹ bị thổi thành từng mảnh, bị thương cụt chân, cụt tay, đang chảy máu và chết. Chiến tranh phả vào con người như hơi nóng của bom đạn, nỗi đau đớn của những người chết, đều được mô tả sinh động trong các cuốn tiểu thuyết, nó “rất thực và sống động, vượt xa hẳn bất kỳ chương trình vô tuyến nào đã phát trong thời gian chiến tranh (7). Chiến tranh Việt Nam, đó là “cơn ác mộng đa tầng” cắm vào đầu những người lính.

Cuộc chiến tranh càng kéo dài, mức độ ác liệt và nặng nề của nó càng làm suy nhược đời sống tinh thần của người lính. Thực tế chiến tranh còn vượt xa hư cấu văn học, những sự việc có thật đã vượt quá trí tưởãng tượng của con người. Sự điên rồ thật sự của chiến tranh được thể hịên cả trong cuộc sống, trong văn học. Tiểu thuyết ở giai đoạn thứ ba ở cuộc chiến tranh (1968-1973) đã đặc biệt chú ý đến thể hiện tinh thần thảm bại của binh lính Mỹ. Theo sách NAM đến năm 1968, tỷ lệ đào ngũ trong quân đội Mỹ tại Việt Nam thấp hơn so với các cuộc chiến tranh trước. Song, qua đến năm 1969 con số đào ngũ tăng gấp 4 lần. Những binh sĩ thừa lúc đi phép tại Sài Gòn, Hồng Kông, Tokyo… đã biến mất, để rồi sau đó xuất hiện tại , Thụy Điển hay Thái Lan. Người ta phân biệt hai kiểu đào ngũ: đào ngũ thực sự và “đào ngũ mà không bỏ ngũ”- tức vắng mặt mà không lý do mỗi khi được lệnh ra trận (AVOL, Absence without leave). Năm 1967, tỷ lệ đào ngũ là 2,1% và AVOL là 7,8%; năm 1969 tỷ lệ đào ngũ là 4,2% và AVOL là 11,23%, năm 1971 tỷ lệ đào ngũ là 7,4% và AVOL là 17,4%. Cũng sau năm  1968, binh sĩ bắt đầu công khai dùng ma túy. Viên sĩ quan nào dám nói về chuyện này thì bị đe dọa, thậm chí bị giết. Tiểu thuyết Bông hoa của con rồng (1972) của R. Boille viết về những vụ giết sĩ quan và nổi loạn trong quân đội. Cuốn Kết liễu cuộc đời (1968) của Michell đã đi sâu hơn nữa vào những nổi loạn của rất nhiều binh lính Mỹ ở Việt Nam. Các tiểu thuyết Những điều sửa đổi – 22 (1969) của D. Keller, Chiếc giường tre (1969) của Yalker và Trung tâm Kachiater (1975) của T. Brael đã miêu tả những hành vi kỳ quặc của người lính. Những người lính, kẻ thì thu mình lại, kẻ thì hóa điên. Và ở một nơi như Việt Nam, thì không phân biệt được và cũng không ai hiểu được là anh ta bị điên hay không.

“MẢNH ĐẠN CÒN GĂM TRONG TIM”

Kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, rất nhiều cuốn tiểu thuyết viết về nhưng cơn ác mộng riêng tư của những cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam đã được phát hành. Đây là thời gian họ nhớ lại, cảm xúc lại những ngày ở Việt Nam. “Họ là sự phản ánh hy vọng của một nền văn hóa Mỹ với sự sợ hãi sâu lắng, và sự ghi nhận chắc chắn, xác thực về đời sống nước Mỹ hiện đại. Họ là những gương mặt, những hồi tưởng, kỷ niệm trong nghệ thuật và lịch sử về một dân tộc tự nhận thức về mình”(8).

Những người lính trở về nhận ra rằng họ bị lừa dối, họ là nạn nhân của cuộc chiến tranh tàn khốc mà chính phủ Mỹ đã đẩy họ vào. Họ sống trong sự hối hận và cay đắng, lương tâm bị cắn rứt và mọi giá trị đạo đức đều bị sụp đổ. Nhà văn S. Freedman đã viết: “Trong các loại hình nghệ thuật, phản ánh đời thường của cựu chiến binh, phần lớn họ: là những con người sống sót đã chiến đấu trong cảnh tồi tệ và trở về sống trong một nước Mỹ kinh hoàng”. Trong phần lớn tiểu thuyết, họ đều có số phận bi đát, chết mòn vì sự suy sụp thần kinh ngay giữa những người thân. Tiểu thuyết Những năm tháng đẹp nhất của chúng ta của H. Russell, Sinh ngày 4 tháng 7 của John Cowike nói về những thanh niên bị chiến tranh làm tàn phế và sự căm phẫn của họ đối với chính phủ Mỹ. Nhân vật Robert Muller cay đắng thừa nhận: “Tôi đã mất 3/4 thân thể. Tất cả những gì đối với tôi, với bọn tôi đều vô nghĩa” (Sinh ngày 4 tháng 7). Cùng âm hưởng như vậy, tiểu thuyết Từ địa ngục trở về của A. Murthy và tiểu thuyết Người anh hùng có một trăm gương mặt của J. Cambell là những suy nghĩ về sự vô nghĩa, sự bất lực của cuộc chiến tranh Việt Nam. Tiểu thuyết Câu chuyện Pacô (Giải thưởng quốc gia Mỹ năm 1987) của Larry Heneman là một sự hài hước, buồn thảm và nặng nề về số phận những người lính Mỹ ở Việt Nam. Tiểu thuyết Máu Mỹ của John Nicholair đã lên án sự tàn bạo của cuộc chiến tranh, “nước Mỹ là tên sát nhân của thế giới, là cái chợ bán thịt của trần gian”.

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt từ lâu, nhưng đối với những cựu chiến binh Mỹ “mảnh đạn còn găm trong tim”. Văn học viết về chiến tranh Việt Nam là viết về những mất máu đau thương, những bi kịch của con người trong và sau chiến tranh, để cho người dân Mỹ biết cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh dã man và vô nghĩa. Văn học viết về chiến tranh chính là nói về “Người Mỹ tìm ra chính bản thân mình”, đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh “người Mỹ phải sống như thế nào và đừng để xảy ra một cuộc chiến tranh nào giống như ở Việt Nam nữa”.

Theo NGUYỄN HỒNG DŨNG (Tạp chí Sông Hương)

———————————
(1), (5), (6). Jack Fletcher đã từng có mặt tại Việt những năm 1964-1965. Tư liệu sử dụng trong bài viết được rút từ Việt và Apganixtan : cuộc sống và văn học, in trong Cái mới trong khoa xã hội, Viện thông tin KHXH, số 17-1991.
(2), (3). Tạp chí Văn nghệ quân đội. Tháng 12-1990.
(4). là từ Việt gọi tắt của lính Mỹ ở Việt Nam. Họ gọi những gì có ở xung quanh va mọi việc xảy đến với họ là “NAM”, còn tất cả những gì thuộc không gian và thời gian khác họ gọi là “Miền đất lớn”. Những trích dẫn trong bài viết được rút ra từ bài in trên báo
Thanh niên, phát hành ngày 16.11.1997, Danh Đức dịch.
(7). Shackler. Các cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt viết về những cơn ác mộng của họ. Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 5-1991.
(8). Lê Đình Cúc. Cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt và một số tiểu thuyết Mỹ gần đây. Tạp chí Văn học, số 5-1991.

Nanci Griffith – Nỗi ám ảnh của cuộc Chiến tranh Việt Nam

chien tranh viet nam

Bốn năm sau khi album Clock without hands được giới phê bình đánh giá cao, tháng 2.2005 vừa qua, Nanci Griffith đã chính thức trở lại với một đĩa nhạc mới mang tên Hearts in mind (Những trái tim trong tâm hồn).

Thật đáng ngạc nhiên, cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc từ 30 năm trước vẫn hằn nguyên dấu ấn bi thương trong tâm tư của nữ nghệ sĩ folk pop tài hoa người Mỹ này. Không hề tham gia vào bất cứ cuộc chiến nào nhưng Nanci Griffith cứ khắc khoải vì vết thương chiến tranh bởi vì Eric Taylor, một nghệ sĩ nhạc folk, chồng cô trước đây là một cựu binh Mỹ bị rối loạn và suy sụp tinh thần vì hội chứng chiến tranh Việt Nam.

Album mới của cô, với 14 ca khúc, trong đó có 8 bài hoặc do cô sáng tác hoặc đồng sáng tác, là một đĩa nhạc phản chiến dành cho vong hồn của “từng người lính và từng người dân lành đã thiệt mạng trong sự kinh hoàng của chiến tranh”.

Những sáng tác mới của Nanci Griffith, từ Old Hanoi (Hà Nội cổ, thực sự ru lòng người tìm đến cái đẹp cổ của Hà Nội với âm thanh guitar thùng) đến Heart of Indochine (Trái tim của Đông dương) là dấu chỉ về sự tiếp tục vùi mình vào những nỗ lực hàn gắn vết thương tinh thần gây ra bởi cuộc chiến. “Heart of Indochine nói về hoà bình ở Việt Nam, một điều chúng ta đã có lúc tưởng sẽ không bao giờ có được”, Nanci Griffith nói. Cô đã nhiều lần bay sang Việt Nam, đại diện cho Hội Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam và Chiến dịch vì một thế giới không mìn sát thương. “Tôi hy vọng sẽ không phải mất 30 năm để có một ca khúc mừng hoà bình thực thụ đã đạt được ở Iraq”.       Big blue ball of war (Quả cầu xanh to chiến tranh) là một ca khúc phản chiến khác còn Before là bài “nhấn mạnh đến những sai lầm của chính quyền Mỹ khi gây chiến tranh mới ở Iraq,” cô giải thích. “Vì cuộc chiến mới này mà chúng ta, những người Mỹ, lại phải sống trong lo sợ, hoang mang hàng ngày”.

Griffith cho rằng nay không còn là thời điểm giữ im lặng nữa, nhưng theo cô Hearts in mind không chỉ là đĩa nhạc liên quan đến chiến tranh, vì còn có những bài ca yêu đời, yêu người, chẳng hạn như  bài mang âm hưởng jazz Beautiful .

Ngoài ban nhạc thuỷ chung với cô từ rất lâu là The Blue Moon Orchestra ra, đĩa Hearts in mind còn có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ khác, chẳng hạn như Mac MacAnally (Rise to the occasion), Jimmy Buffet (bài nghe rất rộn ràng, nặng âm hưởng nhạc Nam Mỹ, I love this town), Keith Carradine (Our very own, là ca khúc chính của phim sẽ chiếu trong năm 2005 do anh thủ vai chính).

Hearts in mind là album ghi âm studio thứ 15 trong sự nghiệp sáng tác gần 30 năm của Nanci Griffith. Những album xuất sắc khác của cô gồm: The last of the true believers;  Other voices, other rooms (đoạt giải Grammy 1994 Album folk đương đại xuất sắc nhất); One fair summer evening; Once in a Very Blue Moon;  Other voices, too (A trip back to bountiful); Winter marquee…

Vân Anh (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Một lính Mỹ sống trong núi rừng Tây Bắc suốt 45 năm qua

Bộ phim tài liệu “Unclaimed” kể câu chuyện về một cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam. Trung sĩ John Hartley Robertson được khẳng định là đã chết vào năm 1968 nhưng suốt 45 năm qua, ông đã sống như một người Việt bản địa trong núi rừng Tây Bắc.

Trung sĩ John Hartley Robertson thuộc lực lượng đặc nhiệm mũ nồi xanh. Sau khi sống gần 45 năm trong núi rừng Tây Bắc Việt Nam, ông đã quên mất thứ ngôn ngữ từng được coi là tiếng mẹ đẻ của mình – tiếng Anh.

Khi cuộc chiến tranh tại Việt Nam kết thúc, ông Robertson vẫn ở lại núi rừng Tây Bắc Việt Nam, không trở về Mỹ. Sau nhiều năm, khả năng nói tiếng Anh của ông gần như đã mất nhưng trong ký ức, ông vẫn biết mình sinh ra ở bang Alabama. Chiếc máy bay do ông lái bị bắn hạ trên địa phận Lào trong quá trình ông đang thực hiện một nhiệm vụ bí mật được giao vào năm 1968. Khi còn ở Mỹ ông đã lập gia đình và có con nhỏ.

Nhà làm phim Michael Jorgensen trong bộ phim tài liệu mang tên “Unclaimed” (tạm dịch: Không đòi hỏi) đã ghi lại hình ảnh trung sĩ Robertson năm xưa – giờ đây đã là một cụ già 76 tuổi, lưng hơi còng nhưng vẫn rắn chắc và khỏe mạnh. Ông Robertson sống trong một bản làng xa xôi ở miền rừng núi Tây Bắc. Ông không còn nhớ nổi ngày sinh của mình hay tên của những đứa con đang sống ở Mỹ. Ông chỉ còn nói được tiếng Việt.

“Unclaimed” sẽ được công chiếu tại Liên hoan phim tài liệu ở Toronto đúng ngày 30/4 này.

Trung sĩ John Hartley Robertson năm xưa
Trung sĩ John Hartley Robertson năm xưa

Ông Robertson nhớ lại máy bay của ông đã bị quân du kích bắn rơi ở khu vực núi rừng phía Bắc Việt Nam, sau đó họ đã bắt gọn ông. Một nữ y tá người Việt Nam đã chăm sóc cho ông khi bị thương, sau khi lành lại, ông được thả ra, Robertson quyết định kết hôn với cô nữ y tá và bắt đầu gây dựng cuộc sống gia đình tại Việt Nam.

Đạo diễn Jorgensen đã gặp phải rất nhiều cản trở trong quá trình thực hiện bộ phim này, đặc biệt trong việc liên hệ với gia đình cựu binh Robertson.

“Unclaimed” được sản xuất sau khi một cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam – ông Tom Faunce trong một chuyến hoạt động tình nguyện của mình ở khu vực Đông Nam Á hồi năm 2008 đã tình cờ được nghe kể câu chuyện về trung sĩ John Hartley Robertson – một người anh em trên chiến trường của ông năm xưa. Trước đó, ông Faunce vẫn đinh ninh rằng Robertson đã tử trận.

Ông Faunce đã lặn lội đi tìm Trung sĩ John Hartley Robertson năm xưa, ông quyết định phải làm gì đó để giúp đỡ người đàn ông đã bị lãng quên trong suốt thời gian qua.

“Khi nghe kể câu chuyện về một cựu binh Mỹ vẫn còn sống trong rừng già Tây Bắc Việt Nam, Faunce đã tới tìm gặp Robertson. Dù ban đầu rất nghi ngờ, nhưng sau khi gặp mặt, Faunce đã khẳng định đây chính là người đồng đội của mình năm xưa”, nhà làm phim Jorgensen kể lại.

Câu chuyện về Trung sĩ Robertson thật khó tin. Chính Jorgensen thoạt tiên cũng không tin khi Faunce liên lạc với ông vào năm 2012 để thuyết phục ông làm một bộ phim tài liệu về Robertson với hy vọng giúp Robertson được đoàn tụ với gia đình ở Mỹ.

Robertson đã được mời tới Đại sứ quán Mỹ để lấy dấu vân tay từ năm 2010. Faunce sau đó nhận được kết luận rằng: “Không có đủ chứng cứ để chứng minh đây là John Hartley Robertson”. Faunce liền hồi đáp lại: “Các ông cũng không có đủ chứng cứ để chứng minh đây không phải là anh John Hartley Robertson”.

Ông John Hartley Robertson và đồng đội cũ - Tom Faunce
Ông John Hartley Robertson và đồng đội cũ – Tom Faunce

“Unclaimed” là một bộ phim tài liệu thuyết phục. Bản thân đoàn làm phim đã đưa ra những bằng chứng xác thực về nơi sinh của Robertson, bộ quân phục còn lưu lại, cuộc gặp xúc động giữa Robertson và một người lính từng do ông huấn luyện vào năm 1960, cuộc đoàn viên giữa Robertson và người chị gái duy nhất còn sống của ông – bà Jean Robertson-Holly năm nay 80 tuổi… Phim đã khiến những khán giả được xem tại buổi chiếu thử nghiệm ở Toronto phải lau nước mắt.

Bà Jean – chị gái của Robertson nói: “Không nghi ngờ gì nữa. Tôi chắc chắn đó chính là em trai tôi. Tôi đã dám chắc điều đó từ khi xem đoạn băng ghi hình nhưng khi tới tận nơi để gặp, tôi đã có thể khẳng định đó chính là em trai tôi”.

Về việc thử DNA, bà Jean nói rằng điều đó là không cần thiết vì cảm nhận của bà đã nói lên tất cả. Về phần vợ con của Robertson tại Mỹ, ban đầu họ đồng ý làm kiểm tra DNA nhưng sau đó lại bất ngờ từ chối.

Đạo diễn Jorgensen cho rằng: “Có lẽ con gái của Robertson không muốn biết liệu đó có phải cha của chúng hay không. Đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa bị phản đối, vả lại, cũng đã quá lâu rồi. Tất cả chúng ta đều muốn mọi chuyện trôi đi êm đẹp. Tôi không biết nữa. Điều gì khiến những đứa con không muốn biết liệu đây có phải cha đẻ của chúng hay không?”

Anh Hugh Tran, một cảnh sát người Mỹ gốc Việt đã cùng với đoàn làm phim tới Việt Nam để làm vai trò thông dịch viên. Anh nhận định Robertson phát âm như một người Việt bản địa và không có bất cứ một dấu hiệu nào cho thấy Robertson là người nước ngoài nếu không nhìn thấy dáng vóc, khuôn mặt ông.

Jorgensen cho biết: “Ký ức đôi khi vẫn bất ngờ hiện ra trong đầu Robertson. Ví dụ như khi ông đoàn tụ với chị gái Jean của mình, ông đã quay ra nói với anh rể Henry – A, tôi nhớ rồi, ông làm việc trong một hiệu thuốc.”

Về phần Robertson, ông quyết định sống tại Việt Nam và không trở về Mỹ. Ông chỉ có một mong muốn duy nhất là được gặp lại những người thân trong gia đình ông ở Mỹ – gồm vợ và các con gái một lần cuối trước khi ông qua đời.

Bích Ngọc
Theo Dân Trí & The Star

‘Hội chứng Chiến tranh Việt Nam’ vẫn ám ảnh người Mỹ

Mỗi người Mỹ, tùy theo sự hiểu biết, mối quan tâm, sẽ có cách hiểu về Việt Nam khác nhau. Nhưng phải nói rằng, đã gần 40 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc, quá khứ nặng nề ấy vẫn còn hiện diện tại Mỹ.

Sau gần bốn năm làm nghiên cứu về truyền thông tại Mỹ, tác giả bài viết này đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với người Mỹ, cũng như theo dõi sát truyền thông nước này. Từ những trải nghiệm và tìm hiểu của bản thân, tác giả chia sẻ góc nhìn về cách người dân và truyền thông Mỹ hiểu về Việt Nam của hiện tại.

Ánh mắt ái ngại và sự “vỡ lẽ” của tôi

Tuy không có một con số chính thức, nhưng dường như với nhiều người Mỹ, Việt Nam vẫn là một cuộc chiến. Qua những cuộc tiếp xúc của chính người viết bài này, không ít người Mỹ vẫn lầm tưởng: Mỹ đã rút khỏi Việt Nam, nhưng hai miền vẫn chia cắt như Nam – Bắc Triều Tiên.

Không phủ nhận, có một số lượng lớn người Mỹ đã biết đến một Việt Nam sau chiến tranh. Đó là khách du lịch, nhân viên chính phủ, nhà đầu tư, nhà nghiên cứu, hay đơn giản là những người Mỹ chọn Việt Nam là nơi làm việc, v.v… Còn lại, với rất nhiều người, Việt Nam vẫn là một cái tên gắn với quá khứ.

Năm 2009, người viết bài này có dịp đến Mỹ. Điểm dừng chân là một bang miền Trung, nơi vốn được coi là bảo thủ so với các bang khác của Mỹ. Khi biết tôi từ Việt Nam tới, nhiều người nhìn với ánh mắt ái ngại. Lúc đầu tôi cho rằng chắc vì họ thấy tôi phải đi quá xa, vất vả. Nhưng trò chuyện lâu hơn, tôi mới “vỡ lẽ” người đối thoại thấy ái ngại vì nghĩ đất nước tôi vẫn đang còn chia cắt.

“Chúng tôi thống nhất đất nước từ lâu rồi, từ năm 1975 cơ!”. Tôi cố không cười, vì e có thể làm ông ấy thấy ngượng. Có thể thấy ông ấy thuộc thế hệ trưởng thành vào thời cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra.

“Thế à? Vậy mà tôi cứ tưởng Việt Nam vẫn còn bị chia cắt như Nam, Bắc Triều Tiên” – ông ấy nói, hơi ngượng. Ông cũng thừa nhận chưa tiếp xúc với người Việt nào bao giờ.

Ban đầu tôi tưởng đó chỉ là trường hợp cá biệt. Tuy nhiên, về sau, thỉnh thoảng tôi vẫn gặp những câu hỏi tương tự, mà có lần là từ một sĩ quan quân sự.

Tôi bắt đầu băn khoăn tại sao? Tôi mở Google news phần tiếng Anh và gõ từ khóa Việt Nam. Tôi click tiếp một số trang tiếp theo trên phần tìm kiếm. Có những tin về thị trường chứng khoán, và kinh tế Việt Nam, nhưng lượng tin trong đó có từ Việt Nam dùng để chỉ cuộc chiến vẫn chiếm một lượng đáng kể, nếu không muốn nói là đa số.

Nhìn lại lịch sử quan hệ hai nước, Việt Nam và Mỹ bình thường hóa cũng đã gần 20 năm. Trong gần 20 năm đó, kim ngạch giao thương giữa hai nước tăng đến hàng trăm lần. Theo website của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, năm 2011 kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 22 tỷ USD, tăng hơn 1.200% so với 10 năm trước đó.

Bên cạnh kinh tế, hợp tác trên các lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, y tế, phát triển, nhân đạo, tìm kiếm quân nhân và kể cả quân sự cũng đã được thúc đẩy nhanh chóng.

Truyền thông ‘nhớ dai’

Tò mò, tôi quyết định làm một khảo sát xem truyền thông Mỹ đưa tin về Việt Nam thế nào trong suốt mấy chục năm sau chiến tranh. Tôi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên hơn 400 bài báo có chứa từ Việt Nam trong 30 năm, từ 1980 đến 2010 của hai tạp chí lớn nhất của Mỹ: Time và Newsweek [1]. Đây là hai tạp chí có tiếng về đưa tin các vấn đề quốc tế của Mỹ.

Kết quả thu được đã lý giải mối nghi ngờ của tôi. Trong các bài báo khảo sát, Việt Nam thường được nhắc đến trong bối cảnh các vấn đề liên quan đến cuộc chiến. Chẳng hạn, vấn đề cựu chiến binh Mỹ, hay vấn đề xây dựng chiến lược quân sự cho Mỹ trong các cuộc chiến như Iraq hay Afghanistan (khi đó chiến tranh du kích tại miền Nam Việt Nam được sử dụng để so sánh).

Đặc biệt, trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ gần đây, các ứng cử viên đều có điểm mạnh hoặc yếu liên quan đến cuộc chiến tại Việt Nam. Tin tức khơi dậy quá khứ của các ứng cử viên tràn ngập truyền thông, như việc Bill Clinton từ chối tham gia chiến tranh, hay John Kerry và John McCain với quá khứ tham chiến tại Việt Nam.

Việt Nam trước và sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ được mô tả không mấy khác biệt. Từ “Việt Nam” thường là cách gọi tắt về cuộc chiến. Thậm chí từ “Tết” được dùng để chỉ… Tết Mậu thân 1968.

Quả thực, truyền thông là kênh quan trọng cung cấp thông tin cho độc giả Mỹ. Những người chưa từng đến hoặc không có cơ hội tiếp xúc để tìm hiểu về Việt Nam của hiện tại, sẽ chủ yếu dựa vào tin tức của truyền thông.

Ngay từ cuối những năm 1980, giáo sư Daniel Riffe, một học giả nghiên cứu về truyền thông tại Đại học North Carolina tại Chapel Hill đã chỉ trích truyền thông các nước phát triển thường “làm ngơ” những tin tức về các nước thuộc thế giới thứ ba. Theo giáo sư này, các nước nghèo thường chỉ được lên mặt báo phương Tây khi có thiên tai, bệnh dịch hay các cuộc nổi dậy.

So với các nước lớn khác, ảnh hưởng thương mại của Việt Nam, cũng như vai trò đối tác trong các lĩnh vực vẫn chưa đủ để thu hút sự chú ý của truyền thông Mỹ. Trong khi đó, “bóng mây” quá khứ của cuộc chiến tại Việt Nam vẫn tồn tại cả trên chính trường, cũng như trong nhiều vấn đề xã hội nước Mỹ.

Chính lý do trên khiến truyền thông Mỹ tiếp tục hướng chú ý vào những vấn đề quá khứ. Với những người dân bận bịu hoặc ít quan tâm đến các vấn đề quốc tế, Việt Nam đã “dừng lại” không thay đổi trong suốt mấy chục năm qua. Bởi, trên truyền thông Mỹ, cuộc chiến cách đây gần bốn thập kỉ vẫn còn “đeo bám”.

——————————————

Chú thích:

[1] Nghiên cứu này đã được trình bày tại Hội nghị của Hiệp hội truyền thông quốc tế (International Communication Association) tháng 5/2011, sau đó được xuất bản trên tạp chí Asian Journal of Communication vào tháng 8/2012.

Vũ Tiến Hồng (từ Mỹ)
TUẦN VIỆT NAM

Nhạc cách mạng hay trong Chiến tranh Việt Nam: