‘Chụp ảnh người hùng của chiến tranh Việt Nam’

Catherine Karnow, phóng viên phương Tây duy nhất được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý cho phỏng vấn riêng và theo ông tới Điện Biên Phủ năm 1994, có những kỷ niệm đặc biệt về Tướng Giáp.

Karnow kể về lần gặp gỡ Tướng Giáp trên báo Huffington Post của Mỹ năm ngoái, trong bài viết có tiêu đề “Chụp ảnh người hùng chiến tranh của Việt Nam”. Sau đây là nội dung của bài viết.

“Tướng Giáp là người chỉ huy trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu vào tháng 5/1954, sự kiện giúp Việt Nam giành được độc lập từ tay của thực dân Pháp. Ông cũng là người tham gia cuộc chiến tranh chống Mỹ với thắng lợi hoàn toàn vào tháng 4/1975. Người Pháp gọi ông là “ngọn núi lửa phủ tuyết” vì mái đầu bạc và sự mạnh mẽ của ông.

Năm 1994, tôi là phóng viên phương Tây duy nhất được Tướng Giáp đồng ý cho theo ông đến Điện Biên. Tôi đã tới nhà của ông từ vài ngày trước đó, chụp ảnh và cùng dùng bữa tối với gia đình ông.

Các phóng viên và nhiếp ảnh gia vốn đã tề tựu ở Hà Nội suốt nhiều ngày liền. Họ băn khoăn liệu Tướng Giáp có tới Điện Biên Phủ để kỷ niệm 40 năm chiến thắng lẫy lừng này hay không. Nhưng chỉ có tôi là người duy nhất được ông mời đi cùng, mà lại đi trước ngày kỷ niệm 7/5.

Nhưng hãy để tôi “lạc đề” một chút để giải thích về việc tôi đã có mối quan hệ riêng với nhân vật lịch sử này như thế nào. Cha tôi, Stanley Karnow, nhà báo kiêm sử gia về chiến tranh Việt Nam, đã phỏng vấn Tướng Giáp cho tờ New York Times vào năm 1990. Vài tháng sau, tôi tới Việt Nam và gặp Tướng Giáp để chụp hình ông cùng gia đình. Một mối quan hệ đã được xây dựng và kéo dài tới tận bây giờ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được các phóng viên phương tây mệnh danh là “ngọn núi lửa phủ tuyết”. Ảnh: Catherine Karnow

Ngày 1/5/1994, tôi khá lo lắng và hồi hộp trên chuyến bay từ Hà Nội tới Điện Biên Phủ. Lần này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ thăm chiến trường và nghĩa trang liệt sĩ, ông còn quay lại căn cứ Mường Phăng lần đầu tiên sau 40 năm. Đó là nơi ông đã trú ẩn trong những tháng vạch ra chiến dịch, để rồi từ đây đưa ra chiến lược thiên tài tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chiến lược thiên tài đó là gì? Cách thức của Đại tướng về cơ bản là sử dụng sức người để kéo những khẩu pháo nặng lên những con đốc đứng rồi nã xuống các đồn bốt của Pháp ở dưới. Trận địa pháo này rất có uy lực. Người Pháp bị áp đảo đến nỗi sĩ quan pháo binh của họ đã tự sát trong chiến hào.

Lả đi vì đói khi chờ trực thăng của Đại tướng

Khi chiếc máy bay thương mại cỡ lớn hạ cánh, tôi bị một số người đưa đi vì họ không hiểu vai trò đặc biệt của tôi. Trong một phút chốc, tôi bị tách khỏi Tướng Giáp mà không biết có thể gặp lại như thế nào. Tôi cũng không rõ ông được bố trí nghỉ lại ở nơi đâu.

Bỏ lại hành lý ở một khách sạn nhỏ, tôi yêu cầu họ đưa tôi đến gặp Đại tướng. Nhưng chính họ cũng không biết nên đưa tôi tới đâu. Đột nhiên, tôi nhìn thấy một nhà khách lớn trên một đỉnh đồi. Trực giác mách bảo tôi rằng đó chính là nơi Tướng Giáp đang nghỉ. Vì vậy, tôi yêu cầu lái xe dừng lại.

Sau đó, tôi nhìn thấy người trợ lý của Đại tướng đang ngồi nghỉ ở hiên nhà. Chúng tôi đã biết nhau và ông ấy không ngạc nhiên khi thấy tôi. Sau đó, tôi được biết rằng chúng tôi sẽ đến thăm chiến trường năm xưa vào ngày hôm sau.

Tướng Giáp sẽ di chuyển bằng trực thăng, còn tôi đi bằng xe jeep. Tôi được thông báo là sẽ tới nơi vào đầu buổi chiều. Đại tướng cũng sẽ tới trong khoảng thời gian này.

Hàng trăm người dân đã tụ tập ở nơi là trận địa năm xưa để chờ Tướng Giáp đi trực thăng đến. Đoán rằng ông sẽ tới trong chốc lát nữa, tôi kiểm tra lại để chắc rằng máy ảnh đã lắp phim và tự kiếm một vị trí tốt để bấm máy. Nhiều phút trôi qua. Thế rồi một giờ và một giờ nữa qua đi. Tôi không có gì mang theo để ăn, mà chỉ có một chai soda cam để uống.

Khi đó, trời rất nóng và nắng gắt. Nếu tôi chạy ra chỗ rừng cây để trốn ánh nắng mặt trời, tôi sẽ bỏ lỡ cơ hội bấm máy khi Đại tướng đến. Ngớ ngẩn hơn là tôi lại không mang đủ phim, nên tôi thậm chí không thể giết thời gian nhiều bằng cách chụp ảnh những người dân bản xứ. Điều đó thật tệ đối với tôi, vì khi đó họ trông rất thú vị. Nhiều người trong số họ là người Thái Đen, một dân tộc thiểu số ở vùng cao. Nhiều trẻ em còn mặc đồng phục, quàng khăn đỏ và cầm những biểu ngữ chào mừng.

Tôi bắt đầu cảm thấy lả đi vì đói và kiệt sức.

Mọi người bắt đầu chạy về phía trực thăng khi nó đang hạ cánh. Ảnh: Catherine Karnow.

Cuối cùng, tôi nghe thấy tiếng động trên bầu trời và nhìn thấy chiếc trực thăng đang tiến lại gần. Người dân chạy về phía trước trực thăng sau khi nó đáp xuống. Đại tướng bước ra và vẫy tay chào đám đông. Chúng tôi bắt đầu đi bộ lên núi để thăm nơi trú ẩn bí mật trong rừng.

Chúng tôi bước trên những tấm ván gỗ hẹp trên các con suối và trèo qua nhiều thân cây đổ. Đã 83 tuổi, Tướng Giáp vẫn thể hiện ông có sức khỏe rất tốt.

Khi chúng tôi tới nơi mà Đại tướng từng sống suốt nhiều tháng liền để chỉ huy trận đánh cuối cùng, người dân chào ông với sự tôn kính và niềm vui lớn lao. Ông đã không gặp lại một vài người trong số họ suốt 40 năm.

Chúng tôi bước vào căn lán nhỏ, vốn chính là nơi mà Tướng Giáp đã vạch ra chiến lược cho trận Điện Biên Phủ. Một tấm bản đồ, mô phỏng lại chính bản đồ mà ông và các chỉ huy khác đã sử dụng 40 năm trước, được treo trên tường. Đại tướng ôn lại những kỷ niệm về những ngày ông ở lán này. Tướng Giáp nói: “Điều duy nhất tôi cảm thấy tiếc là những người chỉ huy đã cùng có mặt với tôi khi đó nay đã không còn nữa và không thể có mặt ở đây hôm nay”.

Với tôi, việc ở trong căn lán nhỏ giữa núi rừng miền bắc của Việt Nam và chứng kiến một huyền thoại sống kể về những khoảnh khắc riêng trong lịch sử quả là một điều trọng đại”.

Theo Nguyễn Tâm (Huffington Post / VNExpress)

10 đối thủ của Tướng Giáp mắc chung sai lầm gì?

Có một điều thú vị ít biết là cả 10 tướng Pháp và Mỹ bị Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh bại trong chiến tranh vì cùng mắc sai lầm giống nhau.

Không hình dung được mặt trận

Điều dễ nhận thấy trong cả 2 cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc ta là kẻ thù luôn luôn tìm mọi cách xây dựng hệ thống chính quyền tay sai để kìm kẹp nhân dân về chính trị. Đồng thời với đó là cho xây dựng các hệ thống đồn bốt để kiểm soát giao thông nhằm khu biệt khu vực chiến trường với hậu phương. Từ phòng tuyến De Latte de Tassigny của Pháp đến hàng rào điện tử McNamara của Mỹ đều nhằm thực hiện một việc là ngăn cách hậu phương với mặt trận một cách rõ rệt.

Tướng 4 sao Westmoreland – một trong những chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam. Ảnh: Internet.

Tuy nhiên, đây lại chính là chỗ thể hiện sự không hiểu biết về cuộc chiến tranh ở Việt Nam của các tướng lĩnh từ Pháp đến Mỹ. Trong cuốn sách Võ Nguyên Giáp một cuộc đời, Đại tướng của chúng ta đã phân tích rất rõ điều đó cho tác giả Alain Ruscio. Ông nói: “Một ví dụ là “phòng tuyến De Latte” nổi tiếng. Trong đầu óc ông ta đã có mầm mống ý tưởng về xây dựng một phòng tuyến nhằm ngăn chặn các cuộc xâm nhập vào vùng châu thổ của các chiến sĩ chúng tôi. Điều này chứng tỏ ông ta thật sự không hiểu gì về tính chất cuộc chiến tranh mà ông ta phải tiến hành! Sai lầm nghiêm trọng! Người ta không thể chặn đứng một cuộc chiến tranh nhân dân mà đâu đâu cũng là mặt trận…Sai lầm này lại được người Mỹ lặp lại với phòng tuyến McNamara”.

Điều Đại tướng muốn nói đến ở đây là tất cả các tướng lĩnh Pháp cho đến Mỹ đều nhìn cục diện chiến trường Việt Nam theo cách nhìn của chiến tranh cổ điển. Tức là luôn phải có tiền tuyến, có hậu phương. Trong khi đó, cuộc chiến tranh về phía người Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân đã phát triển đến trình độ rất cao. Bất kỳ người dân nào cũng là 1 người lính. Từng làng mạc là những tòa thành.

Và đây là cách mà Đại tướng đã khai thác triệt để sự sai lầm từ cách nhìn lạc hậu của các đối thủ. Ông nói: “Chúng tôi quan tâm biến hậu phương của địch thành mặt trận để tiêu hao lực lượng địch, làm mất phương hướng khiến địch luôn luôn phải đề phòng và không biết đâu là mặt trận. Chiến thuật của chiến tranh nhân dân là đối với kẻ địch, mặt trận ở khắp nơi và không ở đâu cả. Đối với chúng tôi đâu đâu cũng là hậu phương và không ở đâu là hậu phương thật sự”.

Đối với địch mặt trận ở khắp nơi và không ở đâu cả là vì vào những khi địch lơ là sơ hở, chúng có thể bị tiêu diệt bởi những du kích có mặt khắp nơi. Nhưng khi địch tổ chức hành quân càn quét để tiêu diệt chủ lực đối phương thì chúng chẳng tìm đâu ra. Những cú đánh của địch tung ra chỉ đánh vào khoảng không.

Tử huyệt không khắc phục được

Có người nói rằng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất sắc sảo trong việc lợi dụng và khoét sâu các mâu thuẫn nội tại của địch. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhìn vào 30 năm chiến tranh, Đại tướng không mắc phải 1 sai lầm chiến lược nào nhưng ông không bỏ qua bất kỳ một sai lầm nào của đối thủ để khoét sâu.

Điều quan trọng nhất, từ đầu đến cuối, Đại tướng đã nhìn ra cái mâu thuẫn căn bản nhất của một đội quân xâm lược. Đó là mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng và phân tán lực lượng. Nguyên tắc quân sự phải tập trung lực lượng. Có tập trung mới có đủ sức tiến hành các cuộc hành quân lớn. Nhưng một đội quân xâm lược lại luôn phải chú ý đến việc chia quân giữ các vùng đất đai mới chiếm được để làm hậu phương cho chúng.

Khi nhắc đến kế hoạch Navarre, tướng Giáp đã phân tích rõ cái mâu thuẫn căn bản và không khắc phục được của những đội quân xâm lược. Ông nói: “Tôi nhấn mạnh: kế hoạch đó không thiếu tính chặt chẽ, nhất quán và sáng tạo. Nhưng ông ta đã không giải quyết được cái mâu thuẫn căn bản của mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Quân đội viễn chinh muốn tập trung lực lượng để giành chiến thắng bằng sức mạnh tiềm tàng trên một số điểm được xác định, nhưng nó lại thua, theo tỷ lệ chính xác trong việc kiểm soát đất đai”.

Tướng Navarre cùng Cogny và De Casries. Ảnh: Internet.

Đây là mâu thuẫn căn bản và là câu hỏi mà các chỉ huy quân sự từ Pháp đến Mỹ đều đau đầu tìm lời giải nhưng vô hiệu. Navarre muốn tập trung lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ để tổ chức những cuộc tiến công lớn kết thúc chiến tranh. Tập trung lực lượng cơ động thì các vùng chiếm đóng sẽ phải dàn mỏng lực lượng. Bởi thế khi quân ta tiến công các vùng Thượng Lào, Tây Nguyên, Tây Bắc đã dễ dàng giải phóng đất đai. Nhưng Pháp không thể để mất nhiều đất đai vì vốn dĩ vùng chúng kiểm soát cho đến năm 1953 đã còn rất ít rồi.

Thế là Navarre lại phải xén bớt lực lượng cơ động đi ứng cứu để bảo vệ các vùng còn lại hoặc hành quân giải vây. Cho đến khi bước vào trận Điện Biên, về cơ bản kế hoạch của Navarre đã phá sản hoàn toàn. Tất cả nguyên nhân chỉ nằm trong ngay mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng.

Đến kháng chiến chống Mỹ cũng vậy. Trong 2 mùa khô 1966 và 1967, Mỹ tập trung quân để tổ chức các cuộc hành quân lớn thì lại khiến quốc sách ấp chiến lược của họ ngày càng lao đao có nguy cơ phá sản vì thiếu quân để bảo vệ. Bởi thế, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tổng kết: “Trong thực tế, mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung lực lượng không bao giờ được giải quyết, vì không thể giải quyết được, do tính chất của cuộc chiến tranh mà kẻ xâm lược tiến hành”.

Tướng Giáp nói ông không bao giờ xem thường bất kỳ một tướng lĩnh đối phương nào vì họ đều được đào tạo bài bản trong trường lớp danh giá. Nhưng điều căn bản nhất khi họ đến Việt Nam là họ ở trong thế phi nghĩa nên không nhìn ra được tính chất thực sự của cuộc chiến. Đó là nguồn gốc đưa họ đến những phán đoán và hành động sai lầm để rồi chuốc lấy thất bại.

Đại tướng chia sẻ với Alain Ruscio một điều mang tính bản chất: “Sai lầm chính của những kẻ thù của chúng tôi là đã không hiểu điều đó (chiến tranh nhân dân – PV). Thật ra đặt trong hoàn cảnh của họ là kẻ chịu trách nhiệm gây ra chiến tranh xâm lược, họ không thể nào hiểu được chiến lược đó, mà dù có hiểu cũng không thể nào áp dụng được để thắng chúng tôi”.

Vũ Tiến Đức (Kiến Thức)

Tướng Giáp – Người thay đổi khái niệm ‘đối thủ’ với lính Pháp

Những cựu chiến binh Pháp dành cho “đối thủ” của họ – Tướng Giáp, sự tôn trọng, ngưỡng mộ và nể phục.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm thay đổi khái niệm truyền thống về “đối thủ” trong binh lính Pháp – Đó là kết luận đã được chuyên gia về lịch sử quân sự Pierre Journoud rút ra được từ các cuộc trò chuyện với các cựu chiến binh Pháp sống sót trở về sau trận Điện Biên Phủ.

Những cựu chiến binh này dành cho “đối thủ” của họ – Tướng Giáp, sự tôn trọng, ngưỡng mộ và nể phục. Và cuốn “Điện Biên Phủ – Tiếng nói từ những nhân chứng còn sống sót” của Pierre Journoud đã dành riêng một chương nói về khái niệm “Đối thủ” trong trận đánh lịch sử năm 1954.

Nhà sử học nghiên cứu chính trị quân sự Pháp Pierre Journoud

 

Phóng viên VOV phỏng vấn chuyên gia về lịch sử quân sự Pierre Journoud:

PV: Là chuyên gia lịch sử quân sự chuyên về chiến tranh Đông Dương, đặc biệt là về trận đánh Điện Biên Phủ, chắc hẳn ông đã nghiên cứu nhiều về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước hết, xin ông chia sẻ cảm xúc khi biết tin Đại tướng qua đời ?

Ông Pierre Journoud: Tôi thực sự có một cảm xúc đặc biệt. Trước hết tôi nghĩ về người dân Việt Nam, Tướng Giáp là nhân vật vô cùng đặc biệt đối với nhân dân Việt Nam nên chắc chắn các bạn rất buồn và tôi xin chia sẻ nỗi mất mát lớn này.

Với nước Pháp, chúng ta có những trang sử chung và bản thân Tướng Giáp đã ghi dấu ấn đặc biệt trong đó. Riêng cá nhân tôi, tôi nhớ lần duy nhất tôi được gặp Tướng Giáp năm 2004, khi tham dự hội thảo về Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneva. Trong một tiếng đồng hồ, Đại tướng đã trả lời câu hỏi những của chúng tôi một cách say sưa. Giờ đây, vị thiên tài quân sự ấy, một nhà lãnh đạo lỗi lạc thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi.

PV: Trong tác phẩm “Điện Biên Phủ – Tiếng nói từ các nhân chứng còn sống sót” của ông có một chương riêng về khái niệm “Đối thủ” trong trận Điện Biên Phủ. Tại sao ông lại nêu ra vấn đề đó ?

Ông Pierre Journoud: Chúng tôi làm một cuộc điều tra trong giai đoạn 2003-2004. Tôi đã trực tiếp gặp gỡ và nói chuyện với các cựu chiến binh Pháp còn sống sót sau chiến tranh tại Việt Nam. Và chính những suy nghĩ của họ đã thúc đẩy tôi phải dành một chương cho khái niệm “Đối thủ” trong cuốn sách của mình.

Những cựu chiến binh ấy, thậm chí cả các cựu tướng lĩnh của Pháp, đã nói với tôi về ấn tượng sâu đậm của họ đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người đã lãnh đạo Quân đội Việt Nam chiến thắng họ. Họ bày tỏ sự tôn trọng, ngưỡng mộ đối với tính cách, lòng dũng cảm của vị Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Họ chia sẻ với chúng tôi một cách chân thật suy nghĩ của mình. Đó là điều khác hẳn khái niệm “đối thủ” thông thường, nhất là những người thua cuộc, hiếm khi nào lại dành sự ngưỡng mộ với đối thủ đã chiến thắng mình.

Riêng cá nhân tôi, tôi đã có cơ hội tuyệt vời để cảm nhận sự thần kỳ về con người huyền thoại ấy, khi tôi được gặp ông năm 2004. Dù lúc đó tuổi đã cao, ông vẫn rất tinh nhanh, ông nói tiếng Pháp thật tuyệt vời, trả lời sâu sắc mọi câu hỏi được đặt ra về chiến lược tại Điện Biên Phủ, quyết định lùi ngày tấn công, và tự tôi hiểu vì sao các cựu chiến binh Pháp lại ngưỡng mộ và tôn trọng ông như thế.

PV: Báo chí phương Tây có so sánh nhiều giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp như một “Napoleon đỏ”. Ông nghĩ sao về sự so sánh này?

Ông Pierre Journoud: Đúng là qua những tài liệu tôi đã đọc và nghiên cứu, thì chiến lược quân sự của Bonapart là một trong những nguồn tham khảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng có nói đến chiến lược của Bonapart, ông thường gọi thế chứ không nhắc đến Hoàng đế Napoleon đệ nhất, bởi chức tước này không gây hấp dẫn đối với Đại tướng. Nhưng đó chỉ là một nguồn tham khảo của Đại tướng.

Đại tướng còn học hỏi từ chính trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, từ danh nhân Nguyễn Trãi là một điển hình. Chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự kết hợp tuyệt vời giữa những kiến thức quân sự sâu rộng học được từ nhiều nguồn, với một đầu óc thiên tài biết tổng hợp và kết hợp rồi áp dụng phù hợp với hoàn cảnh của từng chiến trường, đặc tính của đối thủ. Và nhất là Đại tướng Võ Nguyên Giáp có những trao đổi, bàn bạc quan trọng với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bìa cuốn sách Điện Biên Phủ – Tiếng nói của những người còn sống sót

 

PV: Sắp tới, ông có kế hoạch nghiên cứu sâu hơn nữa về Điện Biên Phủ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp để công chúng hiểu hơn về một giai đoạn lịch sử chung giữa hai nước hay không?

Ông Pierre Journoud: Tôi nghĩ còn nhiều điều để nghiên cứu, để viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Dù đã có nhiều nghiên cứu về ông, nhưng còn nhiều điều kể cả về khía cạnh đã được nói nhiều là một chiến lược quân sự. Ông có sự am hiểu vô cùng rộng lớn về quân sự, và cũng thật thú vị khi con người này tự học, tham khảo các chiến lược và cả tự rút ra từ chính một số thất bại của mình.

Đặc biệt ông học từ các kinh nghiệm về chiến trường, nghiên cứu địa bàn rất kỹ, tính toán về hậu cần một cách đáng kinh ngạc. Bên cạnh đó, phải mở rộng nghiên cứu nhiều khía cạnh khác của con người ông. Ví dụ cần đào sâu về cuộc đời ông với tư cách một nhà giáo – một thầy giáo về lịch sử vô cùng đặc biệt, đi sâu nghiên cứu niềm đam mê của ông về lịch sử Việt Nam và cả lịch sử Pháp; cần nghiên cứu cuộc đời một nhà lãnh đạo chính trị… Tất cả sẽ cho thấy tầm vóc vĩ đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

PV: Xin cảm ơn ông./.

Thùy Vân/VOV-Paris

Lời kêu gọi nguỵ binh quay về với Tổ quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lời kêu gọi nguỵ binh quay về với Tổ quốc (15-11-1951)

Hỡi các người đi lính cho Pháp và bù nhìn!

Giặc Pháp muốn cướp nước ta lần nữa. Chúng bày ra một thứ độc lập giả hiệu để lừa bịp dân ta và bắt các người đi lính cho chúng.

Bọn bù nhìn Bảo Đại bán nước cho Pháp cũng như tổ tiên nó đã hàng Pháp suốt 80 nǎm. Chúng bắt buộc đồng bào ta đi lính để chết thay cho Pháp.

Đi lính cho giặc Pháp, cho bù nhìn tức là giúp giặc giết hại đồng bào, chống lại Tổ quốc.

Chính phủ và nhân dân ta kháng chiến để tranh lại độc lập thực sự cho Tổ quốc, tự do thực sự cho đồng bào. Vì vậy, sức kháng chiến ngày càng tǎng, và kháng chiến nhất định thắng lợi.

Tôi biết rằng: các người đều là con dân nước Việt, song vì bị Pháp bắt buộc, hoặc bị chúng lừa gạt, cho nên đi lính cho chúng. Chứ thật không ai muốn “cõng rắn bắt gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng Việt gian.

Trong các trận vừa qua, nhiều nguỵ binh đã chạy về với Chính phủ.

Những người mang súng đạn về đã được Chính phủ thưởng.

Những người muốn được về quê quán đã được Chính phủ giúp cho về.

Những người muốn đánh giặc lập công đã được Chính phủ cho vào bộ đội.

Tôi thiết tha kêu gọi các người mau mau quay về với Tổ quốc, các người sẽ được đối đãi tử tế.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Con Hồng cháu Lạc phải thương nhau cùng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 32, ngày 15-11-1951.

Thư gửi các nguỵ binh – Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thư gửi các nguỵ binh (28-9-1951)

Tôi đã nhận được thư 300 nguỵ binh công giáo bị bắt trước mặt trận, xin tha.

Tôi cũng đã nhận được thư của những nhóm nguỵ binh khác, hứa hẹn.

Tôi trả lời như sau:

- Một mặt, vì các người chưa hiểu rằng: giặc Pháp đương mưu mô cướp nước ta, bù nhìn Bảo Đại đang mưu bán nước ta. Kháng chiến là cốt làm cho nước ta được độc lập thực sự, cho nhân dân được tự do, đồng thời cho đồng bào công giáo được tự do thờ Chúa.

- Một mặt khác, các người hoặc bị giặc Pháp và bù nhìn ép buộc, hoặc bị chúng lừa phỉnh mà đi lính cho chúng, chống lại Tổ quốc. Nhưng các người cũng là máu đỏ da vàng, khi đã hiểu thì chắc không ai nỡ lòng làm nanh vuốt cho giặc, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng xấu muôn đời.

Tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ quốc, song Chính phủ kháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các người như những đứa con lầm đường, cho nên nặng về giáo dục nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các người bỏ đường tà, theo đường chính.

Vì lẽ đó, đối với những nguỵ binh đã bị bắt và đã biết tội, thì Chính phủ sẽ dần dần tha thứ cho về với cha mẹ, vợ con.

Đối với những nhóm nguỵ binh có thư hứa hẹn, thì tôi có lời khuyên rǎn và dặn dò: anh em phải cẩn thận, sẽ có cán bộ kháng chiến liên lạc và hướng dẫn anh em.

Đối với tất cả nguỵ binh, thì Chính phủ sẽ khoan hồng những người sớm quay về với Tổ quốc, sẽ trọng thưởng những người và những nhóm đái tội lập công lớn (1) .

Nguỵ binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đình kháng chiến.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1915,
ngày 28-9-1951.

Tướng Giáp – Bậc thầy nghệ thuật quân sự

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã đánh bại mọi quân đội đối phương với khả năng chỉ huy tài tình và nghệ thuật quân sự riêng có.

Vietnam-Obit-Giap-067a7-1192-1380952779.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp mặt nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara tại Hà Nội năm 1997. Ảnh: AP

Các báo và hãng truyền thông lớn trên thế giới đều có bài viết về chân dung đại tướng Võ Nguyên Giáp sau khi hay tin ông từ trần. Dưới đây là lược dịch một trong số đó, của tờ Washington Post:

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị công thần có tuổi thọ lớn nhất trong hàng ngũ lãnh đạo cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Ông là Tổng chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam, chiến thắng hai cường quốc Pháp, Mỹ, từ đó giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị của phương Tây.

Trong con mắt giới học giả quân sự thế giới, Đại tướng là một trong những nhà quân sự vĩ đại nhất thế kỷ 20, với đường lối chiến tranh du kích cách mạng hiện đại.

Chỉ với 34 người những ngày đầu thành lập, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sáng lập nên Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vũ khí mà họ có trong thời gian đó rất thô sơ, chỉ là 2 khẩu súng lục, 17 khẩu súng trường, 14 quả lựu đạn mà một phần trong đó là khí tài sót lại từ chiến tranh Nga – Nhật 1904 – 1905, sử gia Cecil Curry, người viết tiểu sử Đại tướng cho biết.

34 thành viên đầu tiên ấy đã thề chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì nền độc lập của Việt Nam, quyết không hỗ trợ, hợp tác với thực dân hay bất kỳ chính phủ nước ngoài nào.

Đến tháng 8/1945, khi Thế chiến thứ II kết thúc với sự đầu hàng của Nhật Bản, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phát triển lên đến 5.000 người, được trang bị vũ khí hiện đại hơn, để chống lại người Nhật lúc này đang chiếm đóng Việt Nam.

Trong gần ba thập kỷ sau đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lãnh đạo quân đội Việt Nam chiến đấu với những kẻ thù hùng mạnh hơn, được trang bị tiên tiến hơn, có nguồn cung cấp dồi dào hơn.

Năm 1954, ông đã kết thúc nhiều thập kỷ thống trị của thực dân Pháp với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 55 ngày đêm. Đối với hàng triệu người dân VIệt Nam, đây không chỉ đơn thuần là một chiến thắng quân sự, mà còn mang ý nghĩa tinh thần to lớn sau một thời gian dài bị thống trị.

Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng khiến Đại tướng trở thành huyền thoại của nền lịch sử hiện đại Việt Nam.

Ngày 30/4/1975, chính quyền Sài Gòn sụp đổ, đánh dấu thất bại của chính quyền được Mỹ bảo hộ.

“Đó là những phút giây hạnh phúc nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của tôi”, ông từng chia sẻ khi được hỏi về cảm xúc của mình trong thời khắc sụp đổ của chính quyền Sài Gòn.

Lần đầu tiên kể từ năm 1954, nước Việt Nam một lần nữa lại được thống nhất dưới một chính thể duy nhất. Tướng Giáp đảm nhiệm chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng trong chính phủ Việt Nam thống nhất.

Trong phần lớn sự nghiệp của mình, ông đã lãnh đạo hàng triệu chiến sỹ thuộc ba lực lượng quân sự: quân đội chính quy, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Ông đã đến những miền xa xôi nhất của đất nước, học được từ tiền nhân nghệ thuật đấu tranh.

Tướng Giáp đã vận dụng tất cả các loại hình nghệ thuật chiến tranh. Ông cũng đã vận động toàn dân tham gia vào cuộc kháng chiến. Những người phụ nữ nông dân có nhiệm vụ vận chuyển đạn dược, vật tư và che giấu bộ đội. Trẻ em trở thành những liên lạc viên truyền tải thông tin chiến trường. Mỗi một người dân như chiếc radar sống theo dõi máy bay địch.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tồn tại lâu hơn mọi kẻ thù. Người Pháp phải trả giá đắt cho cuộc chiến ở Đông Nam Á. Và nước Mỹ cũng phải trả cái giá tương tự với 58.000 binh sỹ bỏ mạng trong một cuộc chiến từng được hứa hẹn là sẽ không diễn ra quá lâu.

“Đế quốc Mỹ muốn đánh nhanh. Đối diện với một cuộc chiến trường kỳ sẽ là một thất bại lớn của họ. Tinh thần của họ còn thấp hơn ngọn cỏ… Cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc sẽ mất một thời gian, một thời gian dài… Người Mỹ không hiểu rằng chúng ta có quân tại khắp nơi và chúng ta cũng không hề ngạc nhiên về điều đó”, Tướng Giáp trả lời trong một bài báo xuất bản tại Hà Nội năm 1967.

Là bậc thầy trong công tác hậu cần và điều hành quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo xây dựng, bảo trì và tận dụng đường mòn Hồ Chí Minh, con đường huyết mạch vận chuyển người và vũ khí từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam.

Dưới sự chỉ huy của ông, một đoàn quân gồm 100.000 người Việt Nam và Lào đã lên núi xuống rừng, không ngừng tiếp tế vật tư, vũ khí, đạn dược cho cuộc chiến.

Với một mạng lưới đường bộ được sử dụng bởi người dân trong hàng thế kỷ, người Việt Nam đã xây dựng một hệ thống đường mòn được ngụy trang dài 19.000 km. Một số đoạn đường hai làn được trải nhựa, cho phép xe tăng và xe tải nặng đi qua. Còn lại là đường đất nguyên thủy, trên đó có hầm trú bom, trạm dừng chân và cầu. Tất cả đều được yêu cầu không ngừng duy tu, bảo trì.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, khi ba nước Đông Dương là Việt Nam, Lào và Campuchia đang là thuộc địa của Pháp. Vị tướng tương lai tham gia cách mạng từ sớm, và đã ngồi tù vì những hoạt động cách mạng giai đoạn năm 1930-1932. Sau khi được trả tự do, ông học ở Hà Nội và có bằng Tú tài năm 1934. 4 năm sau, ông tốt nghiệp đại học ngành Luật.

Cuối những năm 1930, ông kết hôn với một người đồng chí mà ông gặp trong tù. Họ đã sinh cô con gái đầu lòng năm 1940, lấy tên là Hồng Anh. 4 tháng sau, ông được Trung ương Đảng cử đi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc đó đang ở Trung Quốc, để chuẩn bị cho cách mạng.

Ngay sau khi Tướng Giáp đi Trung Quốc, người vợ trẻ bị chính quyền Pháp bắt giữ, và chết trong tù. Do Thế chiến thứ II đang diễn ra, nên phải một vài năm sau ông mới biết tin dữ đó. Năm 1947, cha ông cũng chết trong nhà tù thực dân vì không chịu tiết lộ hành tung của con mình.

“Cha tôi mang trong mình vết thương tâm hồn mà nhiều năm sau cũng không thể hàn gắn”, bà Hồng Anh, con gái vị Đại tướng chia sẻ với sử gia Curry.

Sau này, tướng Giáp kết hôn với bà Đặng Bích Hà, con gái một vị giáo sư. Họ có với nhau 4 người con.

Ở miền Nam của Việt Nam, sau khi Pháp thất trận, Mỹ nổi lên như một thế lực ngoại bang thay thế, gia tăng hiện diện mà đỉnh điểm là năm 1968 với 500.000 nhân viên quân sự.

Cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 được chỉ huy bởi tướng Giáp, là bước ngoặt của cuộc chiến.

Để khởi động chiến dịch này, ông đã điều động 100.000 quân và hàng tấn vật tư đến những điểm chiến lược trên toàn miền Nam. Ngày 30/1/1968, bộ đội miền Bắc đã tấn công 40 thị xã và thành phố lớn, trong đó có một cuộc tấn công vào tòa Đại sứ quán Mỹ.

Cuộc Tổng tấn công gây chấn động lớn trên chính trường Mỹ. Niềm tin về chính sách Việt Nam của Mỹ bị lay chuyển, khiến Tổng thống Lyndon Johnson phải tuyên bố không kiếm tìm cơ hội tái cử.

Tháng Giêng năm 1973, với việc ký kết một hiệp định hòa bình, Mỹ chính thức rút khỏi Việt Nam. Khi không có sự hỗ trợ của Mỹ, chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ nhanh chóng hai năm sau đó.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp về hưu năm 1991 ở tuổi 80. Những năm cuối đời, ông sống tại biệt thự số 30 đường Hoàng Diệu, Hà Nội.

Theo Đức Dương (VNExpress/Washington Post)

Những nước cờ cao của Tướng Giáp trên chiến trường

Ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại.

Chưa từng học qua trường võ bị nào nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng 10 đại tướng Mỹ, Pháp bằng những tư duy quân sự độc đáo của mình.

Lãnh đạo một đội quân từ những khẩu súng kíp ban đầu với những người lính xuất thân nông dân ít được học hành, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng cả 2 cường quốc quân sự của thế giới.

Trong 30 năm cầm quân ấy, hẳn có vô số sự kiện chứng minh phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng. Tuy nhiên, ở đây, chỉ xin điểm lại một vài quyết định của Đại tướng ở những thời điểm quan trọng trước mỗi chiến dịch, trận đánh mà có ảnh hưởng quyết định tới thắng lợi.

Đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung

Mùa đông năm 1947, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc với mục tiêu lùng bắt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh để kết thúc chiến tranh. Địch chia quân 2 cánh hòng tạo ra 2 gọng kìm vây lấy quân ta.

So sánh mọi mặt, lúc này quân ta ở thế yếu hơn địch, từ quân số đến vũ khí trang bị. Cần phải có phương án tác chiến thích hợp để đập tan được cuộc tấn công của địch, mà vẫn bảo toàn được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài.

Trong đợt toàn quốc kháng chiến năm 1946, có lúc ta tổ chức đánh lớn, dàn quân ra đánh với địch như ở Hà Đông, nhưng không hiệu quả do trang bị của ta thô sơ, bất lợi khi giao chiến theo hình thức chiến tranh quy ước với địch.

Trong tình thế nguy hiểm đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nghe báo cáo có 1 đại đội bị lạc đơn vị đã nương tựa vào dân ở Hà Bắc, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng. Câu chuyện đã lóe lên trong đầu vị tướng tài một câu trả lời mà bấy lâu ông đang tìm kiếm. Ta sẽ phân tán lực lượng ra, kẻ địch sẽ không thể tìm thấy thứ chúng muốn tìm (chủ lực ta) và chúng sẽ bị nhấn chìm trong núi rừng Việt Bắc.

Và thế là ngay sau đó, Đại tướng liền trình kế hoạch lên Trung ương Đảng và Bác Hồ. Trong cuộc họp ngày 14/101947, Trung ương và Bác đã nhất trí thông qua kế hoạch, cho tổ chức quân đội ta thành những đại đội độc lập đi vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm để biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.

Nhờ công thức “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, quân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động chiến trường đẩy quân Pháp vào thế bị động đối phó. Sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp ngày càng phải lo lắng nhiều đến việc giữ gìn vùng chiếm đóng vì các đại đội chủ lực của ta đã đi vào hoạt động thúc đẩy phong trào đấu tranh của du kích và nhân dân lên một bước mới, không cho chúng rảnh tay tập trung quân càn quét.

Đòn điểm huyệt “rúng động” biên giới

Chiến dịch Biên Giới 1950 mở ra với mục đích khai thông biên giới Việt – Trung để nối liền vùng giải phóng của ta với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Xã hội Chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến của ta. Vì ý nghĩa đó, đây là một chiến dịch quan trọng phải đảm bảo chắc thắng.

Đây cũng là chiến dịch đầu tiên ta tập trung lực lượng bộ đội lớn gồm 5 trung đoàn chủ lực của Bộ, 3 tiểu đoàn của Liên khu Việt Bắc và các lực lượng vũ trang 2 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Về phía địch, lực lượng cũng xấp xỉ quân ta và phần lớn là lính Âu Phi thiện chiến lại được trang bị tốt hơn ta rất nhiều.

Ban đầu cơ quan tham mưu xác định lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch. Tuy nhiên, khi thị sát chiến trường, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp lại nhận thấy tấn công vị trí này có nhiều bất lợi.

Trong hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ”, Đại tướng Tổng tư lệnh viết: “Lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch có phải là sự lựa chọn đúng không? Cao Bằng là một vị trí đột xuất nằm sâu trong hậu phương ta ở phía bắc. Ở đây, địch có 2 tiểu đoàn. Nếu đánh thắng, ta sẽ giải phóng được một thị xã quan trọng ở biên giới, ảnh hưởng chính trị sẽ rất lớn. Nhưng bộ đội ta chưa hề đánh một vị trí 2 tiểu đoàn Âu-Phi. Cao Bằng như tôi đã biết, nằm giữa hai con sông, và có ngôi thành cổ rất vững chắc. Đánh Cao Bằng sẽ thực sự là một trận công kiên lớn mà chúng ta còn chưa có kinh nghiệm”.

“Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê. Ở đây địch đóng 1 tiểu đoàn, nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Mất Đông Khê, Cao Bằng sẽ trở nên hoàn toàn cô lập. Địch nhất định phải chiếm lại Đông Khê. Bộ đội ta sẽ có điều kiện tiêu diệt bộ binh địch trên địa hình rừng núi. Tôi đã nói với Bộ Tổng tham mưu, tạm thời chưa đụng vào những vị trí địch trên đường số 4, chưa đánh động chúng”, hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng viết.

Những suy tính này cùng với quá trình thị sát Cao Bằng sau đó, Đại tướng đã quyết định thay đổi điểm đột phá. Thay vì đánh vào Cao Bằng, ta chọn đánh cứ điểm Đông Khê để cô lập Cao Bằng rồi bố trí phục binh đánh địch cứu viện bên ngoài công sự và khi chúng rút chạy.

Thực tế chiến sự sau đó đã diễn ra hoàn toàn theo suy tính của Đại tướng. Điều đó thể hiện một tư duy quân sự sắc sảo, linh hoạt và thiên bẩm của vị Đại tướng chưa một ngày học qua trường lớp võ bị nào.

Lối đánh điểm diệt viện này về sau trở thành một lối đánh quen thuộc và lợi hại của quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, đến mức tướng Westmoreland phải để tâm nghiên cứu và đưa ra những “cẩm nang” cho thuộc cấp Mỹ và quân đội Sài Gòn để ứng phó. Tuy nhiên, tác dụng của những cẩm nang đó không được bao nhiêu vì chiến thuật ấy, quân ta đã vận dụng thành nghệ thuật. Bởi vậy, quân Mỹ vẫn thua những trận đau như ở Sa Thầy, Pleime…

Buôn Ma Thuột hay Đông Nam Bộ

Từ cuối năm 1973, khi những dấu hiệu vi phạm Hiệp định Paris của quân đội Sài Gòn đã rõ ràng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng bắt đầu nghiên cứu đề án quân sự. Trong đó, vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất là chọn hướng tiến công chính ở đâu khi bắt đầu một kế hoạch quân sự mới.

Bộ Tổng tham mưu đưa ra mấy hướng để lựa chọn là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Quảng Đà, Trị Thiên. Các cuộc thảo luận còn tiếp tục trong nhiều ngày tháng nhưng cá nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp ủng hộ hướng đánh vào Tây Nguyên vì khu vực này tiện cho ta tiếp tế hậu cần mà địch lại phòng thủ sơ hở. Thêm nữa, Tây Nguyên là nóc nhà Đông Dương – là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong quân sự. Chiếm được Tây Nguyên sẽ cắt đôi thế phòng thủ hiện tại của quân đội Sài Gòn ở miền Nam.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng nếu đánh Tây Nguyên sẽ động, địch sẽ ra sức đối phó ở Sài Gòn và đồng bằng Nam Bộ, sau này ta đánh sẽ khó khăn. Vì vậy nên chọn Nam Bộ là hướng chính, phía Tây Nguyên chỉ đánh Đức Lập để mở đường và đồng bằng Nam Bộ. Cuộc trao đổi vẫn chưa ngã ngũ.

Khoảng cuối năm 1974, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghỉ ở Đồ Sơn và trực tiếp làm kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Bản kế hoạch này đã sửa chữa đến lần thứ 6. Trong bản này, về hướng tiến công chủ yếu chỉ còn để lại 2 hướng là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Tháng 12/1974, đoàn cán bộ B2 và khu 5 ra Hà Nội họp với Bộ Tổng tham mưu. Trong vấn đề chọn hướng chiến lược, các đồng chí B2 muốn chọn Đông Nam Bộ làm hướng tiến công chiến lược. Tuy nhiên, ngay trong hướng Đông Nam Bộ, giữa Bộ Tổng tham mưu và đoàn cán bộ B2 cũng có sự khác biệt về địa điểm đột phá. Bộ Tổng muốn đánh Bù Đăng, Bù Na để có thêm đạn pháo chiến lợi phẩm đánh Đồng Xoài trong khi các đồng chí B2 muốn trước hết đánh Đồng Xoài vì nó là quận lỵ quan trọng của Phước Long. Cuối cùng kế hoạch tiến công chọn cả Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài và cả Phước Long.

Trong hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp ngày 18/12/1974, trước những thông tin mới nhất của tình hình bố phòng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại nêu ý kiến: “Kế hoạch phải nêu rõ diệt địch ở Tây Nguyên, mở đầu bằng đánh Buôn Ma Thuột. Có thể sau khi ta tiêu diệt Buôn Ma Thuột, địch sẽ dao động, rối loạn, lúc đó ta phải chớp lấy thời cơ giải phóng Huế. Nếu lúc đó ta chậm chân, mỏi mệt, để mùa mưa đến thì lỡ mất thời cơ. Cho nên phải có kế hoạch bao vây chia cắt ngay từ bây giờ, không để cho địch co cụm chiến lược, rút về miền Đông Nam Bộ hay rút về phía đông dọc theo bờ biển Trung Bộ…. Chúng ta phải chủ động tạo ra thời cơ, chứ không thể bị động ngồi chờ. Khi thời cơ đến thì phải kiên quyết, kịp thời chớp lấy thời cơ”.

Càng ngày hướng Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột càng được nhiều người ủng hộ qua các cuộc họp, thảo luận và cuối cùng đã được lựa chọn làm hướng mở màn chiến dịch Tây Nguyên và cũng là mở màn cho kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Như sau này nhiều người nói, đòn đánh vào Buôn Ma Thuột thực sự là một đòn điểm huyệt vào toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch đưa chúng đến chỗ tan rã nhanh chóng.

Quyết định đánh tan 10 vạn quân trong 3 ngày

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch “rúng động” và tan rã cũng là lúc quân ta mở chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng. Mất Quảng Trị rồi Huế, lực lượng địch dồn về Đà Nẵng tới 100.000 tên với đủ các sắc lính và hô hào tử thủ.

Ngày 26/3 tại Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp với tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh mặt trận Quảng Đà vừa được chỉ định và một số tướng lĩnh khác để bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng. Tướng Tấn đã chuẩn bị sẵn một phương án tác chiến trong 5 ngày gồm các việc họp đảng ủy, tập kết bộ đội và tổ chức hiệp đồng chiến đấu.

Tuy nhiên, Đại tướng Tổng tư lệnh lại nghĩ khác. Địch kêu gào tử thủ trong khi nhuệ khí đã không còn, hệ thống phòng thủ sau khi mất Tây Nguyên đã không còn căn cứ nào để tử thủ. Tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch tháo chạy vẫn tồn tại. Nếu đánh chuẩn bị đánh trong 5 ngày địch rút được thì sẽ hỏng việc lớn. Do vậy Đại tướng ra lệnh cho Cục Quân báo về nghiên cứu thời gian nhanh nhất địch có thể rút khỏi Đà Nẵng và hẹn sáng hôm sau trả lời.

Sáng hôm sau, Cục Quân báo trả lời địch có thể rút nhanh nhất trong 3 ngày. Đại tướng liền nêu ý kiến cần chuẩn bị phương án đánh trong 3 ngày nhưng tướng Tấn vẫn giữ ý kiến và trình bày là “Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp”.

Tướng Giáp viết trong hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng: “Không thể đồng ý với đề nghị của anh Tấn chuẩn bị chiến đấu 5 ngày cũng như cách tính toán của anh Thanh, tôi phân tích ngắn, gọn, nêu rõ trong tình huống địch “tử thủ”, ta có thể chuẩn bị 5 ngày, 7 ngày hoặc hơn nữa. Nhưng phải dự kiến tình hình đột biến, cần có kế hoạch đánh thật nhanh. Tôi chỉ thị làm kế hoạch đánh địch theo tình huống chúng rút trong 3 ngày”.

Anh Tấn vẫn giữ ý kiến, và trình bày: Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp. Tôi nói, giọng có phần gay gắt: “Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị 3 ngày. Nếu chuẩn bị 5 ngày, địch rút mất cả thì sao? Huế đã giải phóng rồi. Mặc dầu pháo binh và hải quân địch có thể bắn phá, cứ cho bộ đội hành quân theo đường số 1 tiến công thẳng vào Đà Nẵng. Từ phía nam cũng theo đường số 1 tiến công lên. Không họp đảng uỷ, chỉ trao đổi bằng điện”.

Sau đó tướng Tấn đã chấp hành nghiêm lệnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chỉ trong 3 ngày đã đưa một quân đoàn đánh tan 100.000 quân địch, giải phóng Đà Nẵng.

Một vài mẩu chuyện không thể nói hết được những phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng nó cũng cho thấy, ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại.

VŨ TIẾN ĐỨC (KIẾN THỨC)

‘Chiều lòng dân làng’, nhà thơ Trần Đăng Khoa viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Cái chuyện “Xông đất” vị tướng huyền thoại diễn ra cách đây cũng đã lâu lâu rồi. Tôi ngỡ nó đã được lưu giữ và đã ngủ yên trong bảo tàng “Cõi nhớ” của cá nhân tôi. Nhưng rồi Bạn đọc khả kính của VOV đã “đánh thức” nó dậy.

Trần Đăng Khoa đã mở màn bài viết của anh như thế.

Tôi rất bất ngờ, không hiểu sao VOVonline đã kiếm đâu được bức ảnh của tôi chụp với Tướng Giáp và công bố trên tờ báo đang rất đông người đọc này. Và càng bất ngờ hơn nữa là những lời bình, nói đúng ra là những bài viết bổ sung cho những gì còn khiếm khuyết trong các bài viết của tôi của đông đảo độc giả. Nhiều bài viết vô cùng sâu sắc, hay hơn gấp nhiều lần những bài viết của tôi. Trong lễ ra mắt “Chuyên mục”, trong một comment, tôi có nói, nói rất thành tâm chứ không phải õng ẹo làm mẽ, rằng, Khoa chỉ làm công việc của Mẹ Đốp Mõ Làng, là trải cái chiếu quê ra giữa sân đình VOV, để kính cẩn mời các cụ ra ngự rồi bàn chuyện.

Tôi cũng không ngờ “Các cụ” đến rất đông. Có cụ đã 52 tuổi Đảng, có cụ phừng phừng sức lực thanh tân. Có cụ còn “xưng cháu” với gã mõ làng làm công việc trải chiếu. Nhiều cụ muốn biết chuyện xông đất nhà vị tướng Huyền thoại. Bởi thế, câu chuyện năm xưa mới lại có mặt trên cái chiếu quê Blog Tòa soạn này.

Nhà thơ Đaghextan nổi tiếng thế giới Raxun Gamzatov thật có lý và cũng thật sâu sắc khi ông cho rằng, khi anh đi ra thế giới rộng lớn, người ta muốn biết anh là người thế nào, thì anh có thể chìa chứng minh thư, chìa tấm hộ chiếu ra, trong đó đã ghi mọi điều cần thiết. Còn nếu khi có ai hỏi một dân tộc, xem dân tộc đó thế nào, thì dân tộc đó cũng cần phải đưa ra “giấy tờ” của mình, là các nhà bác học, các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất hay các vị tướng lĩnh tài giỏi. Họ chính là “giấy thông hành” để dân tộc đó đi ra với thế giới rộng lớn.

Có lẽ cũng vì thế chăng, mà có lần tham gia trong đoàn Việt Nam dự Festival thanh niên thế giới, tôi rất ngạc nhiên khi phái đoàn của ta vừa xuất hiện thì cả cầu trường vang dội những tiếng hô nồng nhiệt của cả một biển người trên hành tinh: “Hồ Chí Minh – Giáp Giáp! Hồ Chí Minh – Giáp Giáp!” Hồ Chí Minh thì đã rõ rồi. Bác là vị lãnh tụ lỗi lạc, là danh nhân văn hoá thế giới. Thế còn Giáp Giáp là gì? Tiếng Tây chăng? Tôi lần hỏi mới hay, họ đã hô vang tên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đối với thế giới, cái tên quen thuộc ấy đồng nghĩa với Việt Nam, nên không cần phải phiên dịch, diễn giải. Cùng với Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, vị tướng huyền thoại ấy, cũng đã trở thành cái giấy thông hành để dân tộc ta có thể hiên ngang đi vào cõi mênh mông bát ngát của xứ người.

Bây giờ thì vị tướng huyền thoại ấy đang ngồi trước mặt tôi. Một ông già hiền lành, đôn hậu. Nước da đỏ au, mái tóc bạc trắng như mây. Trông ông có dáng dấp của một ông Tiên trong những câu chuyện cổ tích dành cho con trẻ.

- Nhân dịp năm mới, tôi xin chúc Đại tướng khoẻ mạnh, hạnh phúc. Cầu mong Đại tướng luôn gặp những chuyện tốt lành.

- Mình cám ơn thiện tâm của các cậu!

Còn nhớ cách đây đã hơn chục năm, tôi cùng nhà văn Lê Lựu và nhóm phóng viên Tạp chí Văn nghệ quân đội đến gặp Đại tướng, và viết bài “Hỏi chuyện anh Văn” nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài viết in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội đầu tháng 5 năm 1994. Trung tuần tháng đó, tôi có dịp sang thăm Mỹ theo lời mời của của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ. Nhà thơ nổi tiếng Mỹ Bruce Weigl cười tủm tỉm: “Tôi có xem bài viết của ông với ông Lựu trong thư viện của Trường đại học Harvard, cũng xem cả bức ảnh ông và ông Lựu chụp chung với tướng Giáp. Trong ảnh, tôi thấy tướng Giáp là người trẻ trung nhất, sau đó mới đến ông Lựu, còn người già nua nhất thì lại là… ông”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cười hiền hậu:

- Họ đùa đấy! Dân nước ngoài họ rất hay đùa. Sự thật thì mình đâu còn trẻ mà cậu thì cũng đâu đã già!

- Vâng, tôi cũng biết là họ đùa, nhưng trong câu nói đùa ấy cũng hàm chứa ít nhiều sự thật, là cụ rất được yêu mến. Dân mình, lính mình yêu cụ đã đành, nhưng ngay cả những kẻ thù từng bị cụ đánh bại cũng rất kính phục cụ. Được kẻ thù của mình kính phục và trọng nể, kể cũng không phải dễ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp dường như không để ý đến câu nói ấy. Ông chỉ tủm tỉm cười. Nụ cười thật hiền hậu. So với lần gặp trước cách đây chừng chục năm, tôi thấy Đại tướng chẳng có gì thay đổi, mặc dù ông cũng đã qua cái tuổi cổ lai hy từ rất lâu rồi. Dường như Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ra để chống lại tạo hoá. Sự già nua không đánh được vào ông. Một ánh mắt tinh nhạy, trẻ trung, một trí tuệ rất minh mẫn. Nhân ngày đầu xuân, tôi hỏi ông có bí quyết gì mà có được sức lực dẻo dai như thế? Ông cười hiền lành:

- Mình chẳng có bí quyết gì đâu. Chỉ chịu khó tập thể dục, sống thanh thản và không vẩn vơ nghĩ về cá nhân.

Theo cô con gái rượu của ông, giáo sư – tiến sĩ vật lý Võ Hồng Anh, thì hàng ngày, Đại tướng sống rất điều độ. Buổi sáng ông dậy sớm tập thể dục, rồi đi bách bộ quanh khu vườn. Bảy rưỡi ăn điểm tâm. Mỗi bữa thường chỉ có một bát xúp nhỏ, một lát bánh mì. Buổi trưa ông ăn rất ít. Tối cũng vậy, chỉ thêm bát xúp ngô với một ít rau tươi. Còn cơm, ông ăn không đầy một bát. Nhưng ngày nào ông cũng làm việc. Công việc vẫn bề bộn. Bắt đầu từ tám giờ sáng. Ông tiếp khách trong nước, quốc tế, hoặc dự hội thảo, thăm nơi này, nơi kia, theo kế hoạch mà đồng chí thư ký đã chuẩn bị từ trước. Rỗi thì ông đọc sách. Ông đọc khá nhiều. Đủ các loại sách. Sách quân sự. Sách khoa học. Sách danh nhân. Rồi tiểu thuyết. Rồi thơ. Rồi lý luận phê bình.

Đại tướng tặng tôi mấy cuốn sách, và cả những bài báo rất hay viết về khoa học, kinh tế mà ông thấy tâm đắc, ông phôtô tặng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì thấy ông đọc rất nhiều. Tôi hiểu vì sao ông có được sự minh mẫn đến thế. Trí tuệ loài người nằm hết trong sách. Không phải ngẫu nhiên, khi cô con gái rượu của Các Mác hỏi bố: “Công việc gì mà ba yêu thích nhất”. Mác đã trả lời: “Lục lọi ở trong sách.”

- Vừa rồi tôi có đọc cuốn hồi ký của anh Trà. Anh ấy có viết về tôi. Trong đó có một câu làm tôi rất xúc động: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người tiếc đến từng giọt máu của lính. Anh ấy là người rất hiểu tôi…

Nói rồi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi lặng. Gương mặt thâm thấm một nỗi gì hiu hắt. Trông ông như một đỉnh núi vừa tắt nắng. Hình như ông đang nhớ lại một thời oanh liệt đã qua. Trong trận Điện Biên Phủ, ông là Đại tướng Tổng tư lệnh, nhưng nắm chắc đến từng đại đội một. Nghĩa là ngay một anh đại đội trưởng dưới cơ sở cũng có thể báo cáo thẳng cho Tổng tư lệnh về đơn vị của mình, kể cả những con số hy sinh và thương vong.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người rất thận trọng. Vào trận, bao giờ ông cũng nắm rất chắc địa hình, tính toán thật chi li, cụ thể. Bộ đội hành quân, tập kết trận địa, nếu trong đội hình tiểu đoàn, hoặc đội hình trung đoàn, có trang bị từng loại vũ khí cụ thể thì đi hết bao lâu. Trận đánh diễn ra bao nhiêu phút, rồi sau đó anh em rút ra như thế nào cho thật an toàn trước khi máy bay địch ập đến. Chỉ khi nào Đại tướng tính toán kỹ lưỡng, tìm được cách rút lui sau trận đánh, để bảo toàn tính mạng cho từng người lính rồi, ông mới ra lệnh tấn công.

Thật bất ngờ khi một vị tướng huyền thoại, “bách chiến, bách thắng”, mà khi vào trận, ông lại quan tâm trước nhất là chuyện “rút lui”. Bí kíp dành thắng lợi của ông là thế chăng? Và ta cũng lại bất ngờ nữa khi biết, có trận thắng vang dội, người ta vỗ tay rầm trời, còn Đại tướng thì lặng lẽ khóc ở sở chỉ huy, vì mất nhiều lính quá. Nhiều khi cứ úp mặt xuống phên tre mà khóc. Nước mắt đầm đìa cả cái gối mây. Nhưng điều ấy thì không phải ai cũng biết được. Tôi chợt nhớ đến hồi Mậu Thân, nhớ đến câu thơ Hữu Thỉnh:

“Có trận đánh trở về/

Nhìn đống súng thừa như nhìn thừa đũa bát/

Thừa đến nỗi những người sống sót/

Cũng không nỡ nhận mình là may/

Hồi Mậu Thân toan tính biết bao điều…”

Có lẽ cũng vì thế mà Thiếu tuớng Nguyễn Chuông, Tư lệnh Quân đoàn 29, một trong những người lính quả cảm của tướng Giáp, khi về hưu, được quân đội chia cho ít đất để làm nhà, ông đã dành một khoảng đất để xây một cái miếu ngay ở trước cửa nhà để ông thờ lính. “Các em đã lặn lội theo anh vào sinh ra tử bao nhiêu năm nay, không may phải nằm lại dọc đường, bố mẹ già khuất núi rồi, vợ con lại chưa kịp có thì biết lấy ai hương khói trong những ngày tết nhất hay ngày rằm, mồng một. Anh may mà thoát chết, vừa được quân đội cho tý đất đây, anh lập cái am này để các em về đây quây quần với anh”. Rồi ông dặn dò con cháu, nếu không may ông có phải ra đi thì những ngày Tết hay ngày rằm, mồng một, hoặc ngày 27-7, chúng nhớ thay ông thắp hương cho những người lính của ông đã, rồi sau đó mới thắp cho ông.

Có lẽ cũng vì thế chăng mà khi tôi có nhã ý muốn được đọc một cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về chính mình thì ông đã từ chối. Thực tình thì ông cũng đã viết hoặc kể cho người khác viết. Nhưng đó là những trang hồi ký về Bác, về Đảng, về cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân. Đó là một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, là chuyện của lãnh tụ, của đồng bào chiến sĩ, là toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng được nhìn qua con mắt của một vị tướng. Còn thực sự vị danh tướng ấy thế nào, số phận ra sao, thì cho đến nay, vẫn chẳng có mấy ai biết.

- Đời mình có gì đâu mà viết. So với Bác Hồ, với đồng bào, chiến sĩ, mình chỉ là một giọt nước rất nhỏ giữa đại dương mênh mông…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói vậy. Ông vốn là một người rất đỗi khiêm nhường. Ông mong gì ư? Nếu có sức lực và có điều kiện, ông muốn được trở lại những vùng chiến trường xưa, thăm lại những người dân nghèo đã từng san sẻ với ông nửa củ sắn lùi, đắp chung với ông một cái chăn rách.

Tôi chợt nhớ đến một ông già bản mà tôi gặp trên đường vào Mường Phăng. Ông già hồ hởi:

- Chuyện Đại tướng chứ gì? Đại tướng thì tôi biết. Tôi cũng đã mấy lần gặp Đại tướng rồi. Vùng này là quê của Đại tướng đấy. Năm nọ Đại tướng có về quê. Đại tướng nói chuyện với đồng bào bằng tiếng dân tộc. Đại tướng là già làng của chúng tôi đấy. Nhà Đại tướng ở chỗ kia kìa…

Nói rồi, ông già chỉ lên núi Mường Phăng. Một dải rừng xanh um giữa mênh mông đồi trọc. Ở Điện Biên và cả mấy vùng lân cận, rừng cơ bản đã bị phá xong. Nửa đêm, tôi còn thấy những dải lửa cháy rừng rực vắt giữa lưng chừng trời. Đồng bào đốt nương đấy. Chẳng còn cách nào ngăn được. Đói thì phải phá rừng. Rừng núi nhiều nơi đã trơ trụi, nhưng Mường Phăng thì vẫn um tùm rậm rạp như rừng nguyên sinh. Tôi đã đi dưới những tầng cây ấy, nghe chim rừng hót ríu ran. Một làn suối âm thanh trong trẻo và mát rượi rót xuống từ lưng chừng trời. Không một rảnh cây nào bị chặt phá hay bị bẻ gẫy. Ở đây, người dân còn đói cơm, thiếu mặc, nhưng họ vẫn nâng niu gìn giữ khu rừng.

Họ tự đặt tên cho khu rừng là “Rừng Đại tướng”. Đấy là ngôi đền thiêng, ngôi đền xanh thiên nhiên mà người dân đã tự lập để thờ ông. Đối với vị tướng trận, đó là hạnh phúc lớn. Một hạnh phúc mà không phải ai cũng có được trong cõi trần này…/.

Theo Đài Tiếng Nói Việt Nam và blog Trần Đăng Khoa

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một đại diện tiêu biểu của dân tộc Việt Nam

Cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tấm gương phản chiếu của gần trọn thế kỷ XX – thế kỷ dữ dội nhất và cũng bi hùng nhất của dân tộc Việt Nam. Không chỉ lừng danh là một vị tướng thiên tài của thời đại, ông còn được biết đến là một vị tướng tài đức, văn võ song toàn, một nhà chính trị vì dân.

Đức độ, tài năng của ông đã đem lại cho ông niềm tin yêu trọn vẹn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; lòng mến mộ của bạn bè quốc tế và cả sự khâm phục của những người hôm qua còn là đối thủ của ông. Ông là một trong số ít các nhân vật trở thành huyền thoại ngay cả khi còn đang tại thế.

Nhà chiến lược và chỉ huy quân sự lỗi lạc

Trong tất cả những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và những cahiến dịch quân sự trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn là một trong những nhân vật lịch sử đứng ở vị trí hàng đầu dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, với tư cách là Tổng tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng Chiến dịch, ông đã quyết đoán đề nghị thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đề nghị này của ông đã được Thường vụ Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch phê chuẩn. Phương án “đánh chắc, tiến chắc” trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã giành được toàn thắng cao nhất với sự hy sinh xương máu thấp nhất.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ và nỗ lực của toàn quân, toàn dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tư lệnh đã thiết kế nên một thế trận giải phóng miền Nam với mưu kế kỳ diệu: Căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến. Phía Bắc giữ địch ở mặt trận Huế-Đà Nẵng, phía Nam giữ địch ở Sài Gòn, làm cho địch bộc lộ sơ hở ở quãng giữa miền Trung và Tây Nguyên. Khi địch đã rơi vào thế trận của ta sắp đặt, ta bất ngờ phá vỡ Tây Nguyên, tạo ra đột biến về chiến lược. Lợi dụng thời cơ, ta giải phóng Huế, Đà Nẵng, đẩy địch vào thế tan rã, và sau đó ta tập trung toàn bộ lực lượng gồm 5 quân đoàn giải phóng Sài Gòn.

Có thể nói, những chiến thắng vĩ đại của cách mạng Việt Nam mà Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp góp phần làm nên đã tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lịch sử của dân tộc. Những chiến tích ấy đã nâng ông lên tầm một vị tướng huyền thoại, một thiên tài quân sự của mọi thời đại, để lại dấu son rực rỡ trong lịch sử quân sự thế giới.

Nhà ngoại giao chính trị sắc sảo, khoan hòa

Sắc sảo và cảnh giác, lịch lãm và kiên định lập trường là những phẩm chất giúp Đại tướng luôn nắm quyền chủ động khi đối mặt với những người đối thoại.

Qua những lần tiếp xúc, thương thuyết với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội và ở Hội nghị Đà Lạt (năm 1946), những tướng Pháp như Leclerc, Salan, Valluy, Molière, những chính trị gia Pháp như Sainteny, Max André, Messmer, D’Argenlieu đã rất có ấn tượng về ông và thừa nhận ở ông một “bản lĩnh chính trị đáng nể”.

Họ thừa nhận ở ông một ý chí kiên cường bảo vệ quyền lợi dân tộc không gì lay chuyển nổi. Tất cả những khái niệm mơ hồ, lập lờ của họ đưa ra khi thương thuyết đều không thể qua được mắt ông. Trí tuệ tinh tường, sáng suốt và sự uyên bác của ông đã khiến họ phải ngầm cảm phục.

Với những người Mỹ gặp ông sau chiến tranh Việt Nam, họ đều nhận thấy ở ông một nhà chính trị sắc sảo mà khoan hòa, có tinh thần độc lập tự chủ rất cao. Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert Strange McNamara trong 2 lần đến Việt Nam để tiếp xúc với ông đã có những ấn tượng khá sâu sắc.

Trong một cuộc tiếp xúc với cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Có lúc có những chính khách lớn của Mỹ tưởng rằng giao thiệp với Bắc Kinh hoặc với Mátxcơva là sẽ giải quyết được vấn đề Việt Nam. Họ đã nhầm. Trong chiến tranh, Trung Quốc và Liên Xô đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều, nhưng vấn đề Việt Nam là do Việt Nam giải quyết”.

Trả lời câu hỏi: Cái giá phải trả cho chiến thắng có tương xứng không? Đại tướng nói: “Đối với nhân dân Việt Nam thì “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là một chân lý đã được khẳng định bởi lịch sử. Việt Nam là một quốc gia – dân tộc đã hình thành từ rất sớm, hàng mấy ngàn năm, có một triết lý sống, một hệ tư tưởng mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần làm chủ đất nước, ý thức tự lực tự cường, có trách nhiệm lớn đối với vận mệnh Tổ quốc… Những bài học từ cuộc chiến tranh Việt Nam mà Ngài đã nêu lên trong cuốn Hồi tưởng của mình, tôi tin là nhân dân Mỹ đều hiểu. Trong cuốn sách của Ngài, có một bài học nữa đáng lưu ý, đó là: Không thể áp đặt ý muốn của một dân tộc (dù mạnh đến đâu) cho một dân tộc khác. Chỉ trên cơ sở độc lập, chủ quyền và bình đẳng thì giữa các dân tộc mới có hòa bình và hữu nghị”.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara nói: “Ngài đã rất đúng khi nhấn mạnh rằng: Hòa bình chính là nền tảng vững chắc nhất để phát triển kinh tế – xã hội cũng như để phát triển quan hệ giữa hai quốc gia chúng ta”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thêm: “Hòa bình trên cơ sở bình đẳng…”. Câu nói thêm đó của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khắc họa được một khái niệm hoàn chỉnh để trao đổi, biểu hiện một tính chính xác rất cao trong tư duy và ngôn ngữ của Đại tướng.

Trong một lần dự lễ kỷ niệm Ngày độc lập ở Angiêri, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp Cố vấn an ninh của Tổng thống Carter là Brzezinski và được hỏi: “Nếu được phép, xin được hỏi Đại tướng một câu: Chiến lược của Ngài là gì?”. Đại tướng trả lời: “Chiến lược của tôi là chiến lược hòa bình. Nhưng là hòa bình trong độc lập và tự do”.

Thực vậy, nguyên lý “Hòa bình trong độc lập tự do” đã là nguyên lý chính trị cao nhất, là mục tiêu của mọi hoạt động chính trị đối ngoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, mục tiêu mà ông đã kiên trì phấn đấu để đạt được, sau bao nhiêu năm chiến đấu dũng cảm trên mặt trận quân sự.

Nhà hoạt động đối nội vì mục đích “tự do, hạnh phúc cho nhân dân”

Nếu trong đường lối chính trị đối ngoại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lấy “Hòa bình trong độc lập tự do” làm mục tiêu cao nhất, thì về mặt đối nội, mọi hoạt động của ông đều nhằm mục đích “Tự do, hạnh phúc cho nhân dân”.

Ngay từ những năm đầu xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, tuy là người được phân công đặc trách về quân sự để bảo vệ nền độc lập mới giành được, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với năng lực của một nhà luật học cách mạng, đã tham gia phần đáng kể trong việc xây dựng dự thảo Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội từ khóa đầu tiên cho đến nhiều khóa sau.

Với nhãn quan chính trị sắc bén, nhìn Việt Nam và thế giới, nắm rõ xu thế toàn cầu, bên thềm Đại hội IX của Đảng, trong ý kiến phát biểu lần thứ nhất với Thường trực Tiểu ban xây dựng Báo cáo chính trị trình Đại hội, Đại tướng đã có bài viết: “Đổi mới, tiếp tục đổi mới, dân chủ, dân chủ hơn nữa, nâng cao trí tuệ, đoàn kết tiến lên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”.

Đại tướng mong muốn Việt Nam nhanh chóng phát huy nội lực để hội nhập với thế giới mà không để mất vị thế và bản sắc của mình. Trong nhiều năm, ông đã đề xuất với Đảng những phương án đấu tranh xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, phát huy dân chủ trong Đảng, dân chủ trong dân, lấy đó làm động lực để tiến nhanh, tiến mạnh, khắc phục tình trạng thoái hóa, biến chất, chặn đứng tệ nạn tham nhũng, quan liêu, khắc phục nguy cơ “nội xâm” khiến cho những mưu toan “diễn biến hòa bình” không thể phát triển được.

Tất cả những ý kiến của Đại tướng đều được nhìn nhận là xuất phát từ ý chí bảo vệ quyền lợi của dân, lấy lợi ích của dân làm lợi ích tối cao, tối thượng. Ông luôn đặt sinh mạng chính trị của đất nước, nhân dân lên trên hết, tìm cách thu hẹp mọi bất đồng, mâu thuẫn nhằm khắc phục những khuyết điểm, sai lầm gây nguy hại cho quốc gia, dân tộc.

Đức độ và tài năng, khiêm tốn và giản dị, dân chủ và bao dung, thanh cao và quyết đoán – đó là nhân cách Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài đức vẹn toàn – “một con người Việt Nam đã thuộc về toàn thế giới”.

Theo Thông Tấn Xã Việt Nam