Westmoreland rất sai lầm khi nói về Tướng Giáp và Chiến tranh Việt Nam

“Tướng Giáp chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước ông. Còn Westmoreland tàn sát sinh linh để chứng minh rằng chúng ta có thể ném bom đẩy Việt Nam về thời kỳ đồ đá.”

Sau khi đăng tải trên New York Times, bài viết của nhà báo Nick Turse mang tựa đề “Với người Mỹ, mạng sống ở Việt Nam từng quá đỗi rẻ mạt” đã nhận được rất nhiều ý kiến đồng tình của độc giả.

Tất cả đều tán thưởng những lập luận sắc bén của tác giả bài báo khi phản bác lại quan điểm ngụy biện đầy phi lý và giả dối của tướng Westmoreland, cựu Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, rằng quân đội Mỹ thua là vì Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã “không tiếc tính mạng binh lính để đổi lấy chiến thắng”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc gặp với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara năm 1995
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc gặp với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara năm 1995

Bạn đọc Tina ở Monroe, bang Oregon bình luận: Bài viết hoàn toàn chính xác. Chính nước Mỹ đã coi thường tính mạng của những người Việt Nam vùng dậy chống lại sự xâm lược của Mỹ. Những kẻ chỉ trích Tướng Giáp không hài lòng vì người Việt Nam đã giành thắng lợi trong cuộc chiến. Một câu hỏi đơn giản như thế này: Tướng Westmoreland có được vị thế anh hùng ở Mỹ như vị thế của Tướng Giáp ở Việt Nam hay không?

Ý kiến này ngay lập tức nhận được sự ủng hộ của một độc giả khác, Craig Geary ở Redlands, bang Florida: Tướng Giáp chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước ông. Còn Westmoreland tàn sát sinh linh để chứng minh rằng chúng ta có thể ném bom để đẩy Việt Nam về thời kỳ đồ đá.

Độc giả Eduardo Rios, ở Chicago bày tỏ: Những người còn chưa dám nhìn thẳng vào sự thật đang làm vấy bẩn giá trị của một người đã chiến đấu chống lại chiến tranh phi nghĩa. Ông xứng đáng được coi là một anh hùng, không chỉ bởi người dân của mình, mà bởi hầu hết mọi người trên thế giới.

Một độc giả khác ở Oakland viết: Có hai điểm cần lưu ý: Thứ nhất, Tướng Giáp, cũng giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong rất nhiều năm, đã chiến đấu bảo vệ tổ quốc của mình trước các cường quốc phương Tây với sức mạnh vượt trội. Ông xứng đáng có một vị trí trong lịch sử Việt Nam. Thứ hai, Tướng Westmoreland đã sử dụng một công thức bất minh để tính toán con số thương vong. Cách đó không dựa trên những báo cáo thực mà dựa vào số đầu đạn bắn ra. Kết quả là, con số thương vong đã bị phóng đại lên rất nhiều để biện minh cho những tổn thất khổng lồ về mạng sống và tiền bạc trong cuộc chiến bất hạnh này.

Bạn đọc Asher, Brooklyn, New York cũng chia sẻ: Thật khủng khiếp. Giết hại hàng ngàn người ở các ngôi làng, trên phố chợ và ngoài cánh đồng, đó không phải là điều đáng vinh quang hay tự hào. Đó là hành động tàn sát. Những gì xảy ra nhiều năm trước đây ở Việt Nam lại đang diễn ra ở Afghanistan. Tôi cảm ơn Tổng thống, Liên Hợp Quốc đã ngăn chặn thêm một thảm họa nữa ở Syria.

JJ Coker ở Mandeville Louisiana bình luận: Những người phương Tây coi trọng mạng sống của những người phương Tây khác nhưng lại coi rẻ mạng sống của những người khác màu da. Westmoreland đã rất sai lầm.

Độc giả Bob ở New York bày tỏ cảm nhận theo một cách khác: Cảm ơn Nick Turse về bài viết. Chiến tranh luôn luôn là điều khủng khiếp nhất và Việt Nam từng phải chứng kiến một cuộc chiến như vậy. Nhưng ngày nay, Việt Nam là một đất nước thanh bình thu hút nhiều khách du lịch Mỹ. Tôi chẳng nhận thấy bất cứ sự de dọa nào ở đây cả. Nếu Mỹ không đánh chiếm Việt Nam, chúng ta đã không mất 50.000 binh lính và sinh mạng của biết bao người Việt Nam khác, trong đó có cả phụ nữ, trẻ em và người già.

Theo Trung Phạm (Trí Thức Trẻ)

Trong chiến tranh Việt Nam, ai mới là kẻ coi rẻ mạng người?

Westmoreland từng có một câu nói nổi tiếng: “Người phương Đông không coi trọng mạng sống như người phương Tây. Ở phương Đông, mạng người là thứ đầy rẫy và rẻ mạt”.

Nhiều năm sau khi kết thúc cuộc chiến, một số tướng lĩnh và chính trị gia Mỹ vẫn tìm cách biện hộ cho thất bại của mình bằng cách chỉ trích, đưa ra những cáo buộc phi lý.

William C. Westmoreland, cựu chỉ huy các chiến dịch quân sự Mỹ tại Việt Nam là một trong số này. Ông ta cho rằng quân đội Mỹ thua là vì Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã “không tiếc tính mạng binh lính để đổi lấy chiến thắng”.

Một bài viết của nhà báo, sử gia người Mỹ Nick Turse đăng trên tờ New York Times ngày 9/10 với tựa đề: “For America, Life Was Cheap in Vietnam” (tạm dịch: Với người Mỹ, mạng sống ở Việt Nam từng quá đỗi rẻ mạt) đã phản bác mạnh mẽ những ngụy biện phi lý này của giới quân sự Mỹ.

Dưới đây là nội dung bài viết:

Sự thất bại của Mỹ không thể ngụy biện bằng số người Việt Nam thương vong dưới tay chúng ta, mà xuất phát từ chính những sai lầm trong chính sách và chiến thuật của chúng ta.

Ước tính của các nhà nghiên cứu và thống kê của chính phủ Mỹ cho thấy, trong khi gần 60.000 binh sĩ Mỹ tử trận thì có đến 2 triệu dân thường Việt Nam bị sát hại và hàng triệu người khác bị thương, tan nhà, nát cửa suốt thời gian Mỹ tham chiến tại Việt Nam.

Thảm sát Mỹ Lai, một tội ác không thể chối cãi của lính Mỹ ở Việt Nam
Thảm sát Mỹ Lai, một tội ác không thể chối cãi của lính Mỹ ở Việt Nam

Oán ghét và thù hận khi bị chính những binh lính Mỹ luôn tự nhận là đồng minh ngược đãi, ngay cả những thường dân vốn không có ý định hậu thuẫn gì cho đối thủ của chúng ta cuối cùng cũng đã làm việc đó.

Bốn thập đã qua, giờ đây, ở những vùng đất xa xôi như Pakistan và Afghanistan, dân thường một lần nữa lại đối xử với Mỹ như kẻ thù, bởi vì họ đã trở thành nạn nhân bất đắc dĩ của cái gọi là “chiến tranh chống khủng bố”mà phần lớn công chúng Mỹ cũng không thừa nhận.

Sau hơn một thập kỷ phân tích các tài liệu điều tra hình sự bí mật, các hồ sơ của tòa án, các nghiên cứu của Quốc hội, báo chí đương thời và những lời khai của binh sĩ Mỹ và thường dân Việt Nam, tôi đã nhận ra rằng Tướng William C.Westmoreland, thuộc cấp của ông ấy, lãnh đạo cấp trên và cả những người kế nhiệm đều đã không thèm đếm xỉa gì tới tính mạng con người.

Lý do gây nên những tổn thất rất lớn này chính là chiến lược của Mỹ: giết càng nhiều “kẻ thù” càng tốt và thành công được đo đếm bằng xác chết. Nhưng, những thi thể đó thường lại không phải binh lính đối phương.

Để thực hiện cuộc chiến tranh tiêu hao này, Mỹ tuyên bố nhiều vùng nông thôn rộng lớn ở miền Nam Việt Nam là những khu vực được tự do bắn giết. Ở đó, ngay cả những người dân vô tội đều có thể bị coi là kẻ thù. Với mục đích làm cho“kẻ thù” phải ở trong tình trạng bất ổn liên tục, quân đội Mỹ đã bắn pháo, rải bom không ngừng nghỉ, tàn sát biết bao dân thường, đẩy hàng trăm nghìn người dân vào các khu ổ chuột và các trại tị nạn.

Sỹ quan và binh lính Mỹ được phép nổ súng vào bất cứ thường dân nào bỏ chạy hoặc đứng yên khi bị xét hỏi, những hàng vi bị xếp vào diện “nghi vấn”. Những cựu chiến binh tôi từng phỏng vấn và những binh lính đã khai với các nhân viên điều tra đều nói rằng họ nhận lệnh từ các sỹ quan chỉ huy: “Bắn bất cứ thứ gì chuyển động”.

Westmoreland từng có một câu nói nổi tiếng: “Người phương Đông không coi trọng mạng sống như người phương Tây. Ở phương Đông, mạng người là thứ đầy rẫy và rẻ mạt”.

Từ các cuộc nói chuyện với những người còn sống sót sau các vụ thảm sát của lính Mỹ ở Phi Phú , Triệu Ái, Mỹ Lược và rất nhiều bản làng khác, tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng đánh giá của Westmoreland là hoàn toàn sai lầm.

Nhiều thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, người dân Việt Nam vẫn không ngừng thương tiếc những người thân yêu của họ: vợ chồng, cha mẹ, con cái bị giết hại trong cơn bạo lực cuồng loạn khủng khiếp của binh lính Mỹ.

Họ cũng kể lại cho tôi nghe những năm tháng sống trong bom đạn, súng pháo và trực thăng vũ trang Mỹ; về việc họ đã phải giành giật cuộc sống như thế nào trong kháng chiến chống Mỹ; cách chiến tranh đã biến những công việc tưởng chừng rất đơn giản như đi lấy nước giếng, giúp đỡ ai đó hay ra đồng làm ruộng, đi lấy rau cho một gia đình đang chết đói… thành những quyết định giữa sự sống và cái chết; về những tháng ngày sống dưới chính sách không thể tàn nhẫn, bỉ ổi hơn của Mỹ đối với cuộc sống con người.

Khi còn là Tham mưu trưởng Lục quân, Westmoreland đã che giấu công chúng Mỹ nhiều bằng chứng tội ác. Nhóm điều tra tội ác chiến tranh tại Việt Nam, hoạt động độc lập với Lầu Năm Góc của ông ta đã bí mật thu thập được hàng ngàn trang tài liệu về tội ác của Mỹ mà tôi đã phát hiện ra trong Kho lưu trữ quốc gia.

Dù vụ thảm sát ở Mỹ Lai được tiết lộ, chính phủ Mỹ vẫn cố tình giấu giếm quy mô thương vong thực sự của dân thường và cho rằng những cái chết đó là do vô tình và không thể tránh khỏi. Họ đã để lại cho công chúng Mỹ một lịch sử giả dối về cuộc chiến tranh.

Không thực sự thừa nhận những lỗi lầm mà quân đội chúng ta gây ra trong quá khứ, người Mỹ không thể hiểu được đầy đủ những gì xảy ra ở Afghanistan, Pakistan, Yemen và nhiều nơi khác. Tại đó, các cuộc tấn công khủng bố đã giết chết không biết bao người dân vô tội.

Chúng ta cần phải từ bỏ tiêu chuẩn kép khi nói đến sinh mạng con người. Đã đến lúc phải nhìn vào thực tế số dân thường thương vong từ hậu quả các cuộc chiến tranh của Mỹ, cả quá khứ và hiện tại.

Trung Phạm (Theo Trí Thức Trẻ)

Mỹ có còn nhớ chiến tranh hóa học chống Việt Nam? – Brian K. Grigsby

Đề tài quốc tế nóng nhất hiện nay là sử dụng vũ khí hóa học ở Syria. Hoa Kỳ và các đồng minh của Washington cáo buộc chế độ Bashar Assad trong việc này và sẵn sàng giáng đòn tấn công vào Syria để trừng phạt các thủ phạm. Trong khi đó, chính Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng vũ khí hóa học qui mô lớn nhất trong lịch sử, gây thiệt hại cho gần 5 triệu người trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, – Giáo sư Dmitry Mosyakov lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, châu Úc và châu Đại Dương của Viện Nghiên cứu phương Đông (thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga) nhận xét.

“Ráo riết cố gắng ngăn chặn cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam yêu nước và đàn áp phong trào đấu tranh du kích ở miền Nam, người Mỹ khi ấy đã sử dụng chất khai quang làm rụng lá cây, khiến cho rừng xanh nhiệt đới trở nên trơ trụi và cây cối bị hủy diệt, còn các căn cứ của du kích Việt Nam và sự di chuyển của họ trong rừng trở nên lộ thiên để quân Mỹ dễ dàng tấn công. Người Mỹ đã sử dụng khoảng 15 loại hóa chất ở Nam Việt Nam, nhưng dùng rộng rãi nhất là «chất độc da cam» – dioxin, một hỗn hợp hóa chất có hoạt tính mạnh nhất và nguy hại nhất. Theo dữ liệu của Lầu Năm Góc, từ năm 1961 đến 1971, người Mỹ đã rải trên địa bàn miền Nam Việt Nam khoảng 72 triệu lít “chất độc da cam”. Tác động của chất làm rụng lá là hủy diệt 43% diện tích canh tác, 44 % diện tích đất rừng ở miền Nam Việt Nam và gây thiệt hại cho hàng triệu nông dân Việt Nam”.

Dioxin là chất độc đáng sợ và nham hiểm. Nó ngấm xuống đất, thẩm thấu và tích lũy trong đất đai rồi khi phân hủy bởi nhiệt độ nóng lại tạo ra hợp chất độc hại mới. Trên mảnh đất hứng chịu chất hóa học, không thứ cây nào có thể mọc nổi, dioxin đầu độc cả những dòng sông và nguồn nước ngầm ở Việt Nam. Chất khai quang mà người Mỹ rải xuống đã hủy diệt khoảng 140 loài chim, làm biến mất các giống côn trùng và động vật lưỡng cư, tôm cá trong ao hồ, cũng như rừng rậm cổ thụ. Xuất hiện những con chuột đen phát tán bệnh dịch hạch, muỗi tác nhân gây sốt xuất huyết và ve lan truyền những căn bệnh nguy hiểm.

Nhưng tàn bạo nhất là tác động của dioxin đối với con người. Chất độc xâm nhập vào cơ thể và tích tụ trong tế bào, dioxin gây bệnh ngoài da, làm suy yếu hệ thống miễn dịch, đẩy tăng vọt nguy cơ bệnh tiểu đường và ung thư. Phụ nữ sống ở những khu vực chịu tác động của «chất độc da cam» sinh quái thai, trẻ chết non và dị tật khủng khiếp. Ảnh hưởng của chất độc da cam tại Việt Nam đã gây thiệt hại cho 4,8 triệu người, vtrong đó 3 triệu người với những di chứng hậu quả thảm khốc.

Hoa Kỳ đã phải rút quân khỏi Việt Nam từ 40 năm trước, nhưng hậu quả của việc sử dụng chất độc da cam vẫn rõ rệt cho đến bây giờ. Đã là thế hệ thứ tư của những người sống sót sau cuộc tấn công hóa học của quân Mỹ, nhưng trên mảnh đất Việt Nam vẫn có các trẻ em chào đời với khuyết tật bẩm sinh về trí tuệ và thể chất. Người Mỹ chưa hề một lần xin lỗi nhân dân Việt Nam về việc sử dụng vũ khí hóa học. Các công ty Mỹ sản xuất hóa chất để phun xuống rừng cây và đất đai Việt Nam thì từ chối trả tiền đền bù cho các nạn nhân Việt Nam của chất dioxin Mỹ. Các binh sĩ Mỹ, những người tiến hành chiến dịch tàn sát các cánh rừng này cũng phải chịu tác động ngấm ngầm của thứ chất độc nhãn hiệu Mỹ, và trở về nước cũng sinh con khuyết tật hoặc bản thân bị di chứng thần kinh-tâm lý. Tuy nhiên, các cựu chiến binh Mỹ được Chính phủ Hoa Kỳ bồi thường, theo qui chế nạn nhân chiến tranh. Còn những người Việt Nam thì bị từ chối “do thiếu bằng chứng”. Vì vậy, khi các chính trị gia kích động sự phẫn nộ chính đáng của những người Mỹ hướng vào chống lại “sự tàn bạo” của chế độ Bashar al-Assad – bị cáo buộc dường như đã sử dụng vũ khí hóa học chống lại dân thường của chính đất nước mình, - xem ra động thái này có phần giả dối và phi đạo đức.

Brian K. Grigsby

Nguồn: Tiếng Nói Nước Nga Việt Ngữ

‘Giết mọi thứ di động: Cuộc chiến thực sự của Mỹ ở Việt Nam’

Đây là bài học đau thương cho những ai rước giặc vào nhà thì phải biết hậu quả tai hại sẽ không thể lường được dù giặc có khoe đầy giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền.

Dù di hại của chiến tranh vẫn còn hằn in, nhưng vì quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, vì hòa bình và phát triển, chúng ta đã cố gắng “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Tuy nhiên, trong tâm trí nhiều người Mỹ, cuộc chiến tranh ở Việt Nam vẫn là một nỗi day dứt, và họ đã xuất bản nhiều cuốn sách viết về cuộc chiến tranh, trong đó có tác phẩm Giết mọi thứ di động: Cuộc chiến thực sự của Mỹ ở Việt Nam (Kill Anything That Moves – The Real American War in Vietnam) của Nick Turse.

Tác phẩm dày 370 trang này đoạt giải thưởng Ridenhour của National Press Club năm 2009, nguyên là luận án Tiến sĩ tại Ðại học Columbia của nhà báo kiêm sử gia Nick Turse. Cuốn sách gồm một nhập đề, bảy chương và một kết luận. Tựa đề cuốn sách như một mệnh lệnh cho người lính Mỹ khi đến Việt Nam: Giết mọi thứ di động! Ðọc xong thì thấy đúng như vậy. Qua cuốn sách, Nick Turse đã chứng minh một cách không thể chối cãi rằng mệnh lệnh dã man ấy là một chính sách, một chiến thuật chính thức của quân đội Mỹ và đã được áp dụng từ cấp tướng đến người lính, từ quân trường ở Mỹ đến xóm làng ở Việt Nam. Chủ đề cuốn sách là một chứng minh rằng cuộc thảm sát từ 350 đến 500 thường dân ở Mỹ Lai ngày 16-3-1968 không phải là một sơ suất biệt lệ của quân đội Mỹ. Ðiều này có thể thấy ngay trong Chương 2: “Theo hồi ký của tướng Westmoreland, (tướng) Mac Arthur đã “thúc giục tôi hãy chuẩn bị để luôn luôn có đầy đủ trọng pháo vì dân Á Ðông rất sợ trọng pháo” và đưa ý kiến là Westmoreland có thể phải sử dụng một “chiến thuật đốt sạch đất đai” tại Việt Nam” (tr.61). Lời chỉ đạo từ một anh hùng của Thế chiến thứ hai có thể coi như thể hiện tâm cảnh của tướng Westmoreland trước khi nhậm chức Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam để “đếm xác” (body count) dân Việt trong tinh thần kỳ thị chủng tộc dứt khoát.

Phương pháp làm việc của tác giả Nick Turse thích ứng với môi trường hàn lâm của một trường đại học nổi tiếng như Columbia. Tác giả sử dụng hồ sơ giải mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, các báo cáo từ các cuộc điều tra của “Sở điều tra tội ác” thuộc Bộ Quốc phòng, đặc biệt là báo cáo của “Nhóm điều tra tội ác chiến tranh ở Việt Nam” được Pentagon thành lập sau vụ thảm sát ở Mỹ Lai, cộng với hơn 100 cuộc phỏng vấn ở cả hai phía: nạn nhân Việt Nam và quân nhân Mỹ. Tất cả để đúc kết lại thành một bức tranh bi thảm về sự tàn phá tận cùng của chiến tranh mà ngay cả Picasso có sống lại cũng không thể vẽ thêm một Guernica thứ hai…

Trước những vũ khí và quân lực đằng đằng sát khí, người thường dân Việt Nam đã phải chịu một tai họa thống khổ đến mức nào? Bảy chương sách của Nick Turse mang câu trả lời với các tựa đề hãi hùng: 1. Cuộc thảm sát ở Triệu Ái, 2. Một hệ thống đau khổ, 3. Tàn sát quá độ, 4. Một loạt những hung bạo, 5. Khốn khổ vô bờ, 6. Tên khùng, ông tướng “săn cộng” và tên đồ tể của vùng châu thổ, và 7. Những tội ác chiến tranh biến đi đâu rồi? Không phải là một tình cờ mà nhận định của Alvin Tofler: “Nếu nguyên tắc căn bản của nền kinh tế kỹ nghệ là sản xuất hàng loạt thì nguyên tắc căn bản của chiến tranh thời kỹ nghệ hóa là tàn phá hàng loạt” (War and Anti-War, trang 38) lại trùng hợp sát sao với nhận định của tác giả Nick Turse: “sự tàn sát theo chuẩn mức kỹ nghệ đã được áp dụng khoảng thời gian thiếu tướng Julian Ewell cầm quân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long” (tr.204). Tại Việt Nam, chính quyền Mỹ đã thực thi một cuộc tàn phá hàng loạt một cách có hệ thống trong suốt cuộc chiến với những mô tả đáng kể nhất là trong hai Chương 1 và Chương 6 mà người đọc không thể bỏ qua.

Chương 1: Từ thời kỳ được huấn luyện ở quân trường tại Mỹ (Fort Benning, Camp Lejeune, tiểu bang Georgia) tinh thần kỳ thị chủng tộc (như của tướng Mac Arthur) đã được nhồi sọ tối đa để giúp tân binh Mỹ có thể giết kẻ thù – người Việt Nam – mà không hối tiếc hay ân hận. “Cựu chiến binh Wayne Smith nhớ lại là các huấn luyện viên không bao giờ gọi người Việt Nam là Vietnamese. Mà họ gọi bằng những chữ tiếng lóng hạ cấp như “dinks, gooks, slopes, slants, rice-eaters”, những chữ không còn mang ý nghĩa tượng trưng cho con người nữa. Cái thâm ý là coi người Việt Nam thấp hơn cả giống người” (tr.28). Như vậy thì có thể tự do để vâng lệnh giết một cách vô trách nhiệm, như lời khuyên của một vị tuyên úy Tin lành: “Người lính tự do nhất là người lính sẵn sàng tuân lệnh cấp trên. Khi bạn tuân một mệnh lệnh hợp pháp thì bạn không sợ, không lo gì cả” (tr.30). Vấn đề là không có ai định nghĩa “mệnh lệnh bất hợp pháp” là gì. Khi trung úy Maynard quăng lựu đạn xuống hầm một căn nhà trong làng Triệu Ái, “Trung úy Bailey cho biết có con nít trong hầm ấy. Và trung úy Maynard trả lời: “Kệ mẹ nó, rồi tụi đó lớn lên thì cũng trở thành Việt cộng thôi”…” (tr.34). Ðiều kinh khủng là người lính Mỹ không phân biệt được kẻ thù và đồng minh nên họ chỉ biết khi thấy “nhúc nhích thì giết”. Ở cấp cao hơn, các sĩ quan tốt nghiệp quân trường West Point cũng có một hiệp hội ngầm (mà ai cũng biết) có tên là West Point Protective Association (WPPA) để họ bảo vệ lẫn nhau khi bị điều tra hay khi phải ra trước tòa án quân sự như trường hợp tướng Julian Ewell dưới đây.

Chương 6: Hồ sơ của trung sĩ Roy Bumgarner và tướng Julian Ewell là hai thí dụ điển hình.

“Trung sĩ Bumgarner thuộc Lữ đoàn dù 173, Sư đoàn kỵ binh số 1, đóng tại Bình Ðịnh (năm 1968) nổi tiếng với thành tích giết 1.500 kẻ thù. Có khi toán quân 6 người của ông còn giết nhiều kẻ thù hơn cả tổng số “đếm xác” của toàn thể tiểu đoàn 500 người của ông” (tr.192). Thành tích này đã làm cho ông mang biệt danh là “The Bummer” (tên Khùng). Tên Khùng tuy khùng nhưng không dại, vì sau khi giết một thường dân (dù đàn bà, con nít), y lại nhét vào trong xác chết một quả lựu đạn “made in China” hay một khẩu súng Nga. Hậu quả là số “Việt cộng” bị Trung sĩ Bumgarner giết lên rất cao. Ðiều không may là các bạn đồng ngũ đã thấy hành vi vô nhân đạo này và họ báo cáo lên cấp trên. Tên Khùng bị điều tra, bị đưa ra tòa án quân sự. Tên Khùng bị xử có phạm tội, nhưng lại là tội “sát nhân không mưu tính”, nhờ vậy y đã không vào tù, dù chỉ một ngày (tr.196). Một nhân chứng của vụ án, Peter Berenback, sau khi giải ngũ đã đọc trong nhật báo New York Times ngày 31-3-1972 một bản tin ca ngợi trung sĩ Bumgarner với tấm hình tên Khùng ôm một em bé Việt Nam một cách bao bọc. Berenback bèn gửi một lá thư đầy giận dữ gọi Bumgarner là “kẻ sát nhân”. Nhưng tờ báo đầy uy tín này đã không phản ứng. Berenback gửi một thư khác cho dân biểu Peter Frelinghuysen. Ông này lại chuyển lá thư cho đại tá Murray Williams ở Pentagon. Rồi nội vụ không còn được nói đến nữa!

Trường hợp tướng Julian Ewell đáng chú ý là vì sự nghiệp của ông tại Việt Nam thành công rực rỡ chỉ nhờ một yếu tố: khả năng làm tăng con số “kẻ thù” bị giết. Tháng 2-1968, khi mới nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 9 vùng đồng bằng sông Cửu Long, các phi công trực thăng của ông đã để ý trò chơi săn người của ông khi ra lệnh cho pháo thủ trên trực thăng bắn bất kể vào người nông dân đang cày bừa trên đồng lúa. Ðặt cơ sở trên chiến tranh kỹ thuật của Bộ trưởng Mac Namara, “thống kê đếm xác là thước đo thành công quan trọng nhất” cho tướng Ewell (tr.206). Hãy đọc “tiến bộ” của tướng Ewell trong 2 năm 1968 và 1969 theo thước đo tỷ lệ chết giữa địch và ta (Việt cộng và Mỹ): Trước khi ông nhậm chức, tỷ lệ đó là 1/8: một người lính Mỹ chết thì có 8 người lính Việt cộng chết. Ðây đã là một tỷ lệ khá cao so với các đơn vị khác. Qua tháng 7-1968, sau 5 tháng dưới quyền tướng Ewell, tỷ lệ này tăng lên thành 1/14. Sau 5 tháng, tướng Ewell mở đầu chiến dịch Speedy Express với tỷ lệ 1/24. Ba tháng sau tỷ lệ đã là 1/68. Một tháng sau (4-1969), tỷ lệ tăng lên gần gấp đôi: 1/134. Câu hỏi là trong 134 người Việt Nam được “đếm xác” này có bao nhiêu thường dân? Vì: 1. sự chênh lệch quá xa giữa số xác Việt cộng quá cao so với số vũ khí lại thu lượm quá thấp; 2. trước hỏa lực kinh hồn của quân đội Mỹ, quân đội Việt cộng cũng đủ khôn ngoan để rút đi nơi khác, chỉ còn người dân vô tội trong vùng hỏa tuyến.

Khi được hỏi làm sao họ phân biệt được kẻ thù trên đồng ruộng để nã súng bắn, phi công Cobra của chiến dịch Speedy Express trả lời: “Kẻ nào thấy trực thăng mà bỏ chạy là kẻ thù” hoặc “kẻ nào mặc bà ba đen là Việt cộng”. Từ đó tướng Ewell mang hỗn danh là “tên đồ tể của vùng châu thổ”. Với “tiến bộ” từ 1/14 lên 1/134, tướng Ewell được thăng trung tướng và năm 1970, ông được gửi qua làm cố vấn quân sự cho phái đoàn Mỹ đang tham dự Hội nghị Paris.

Nhưng một quân nhân vô danh ký tên là “một trung sĩ ưu tư” đã gửi thư cho tướng Westmoreland, lúc này đã trở thành Tham mưu trưởng Liên quân, để tố cáo đầy đủ chi tiết về tên tuổi, chức vụ trong cuộc tàn sát khủng khiếp của chiến dịch Speedy Express. Lá thư kết luận một cách chắc nịch “dù các con số của tôi chỉ đúng 10%, mà tôi tin là cao hơn, thì 120 đến 150 tử vong đã tương đương với một Mỹ Lai mỗi tháng trong hơn một năm trời” (trang 215). Nhưng rồi lá thư này cũng bị rơi vào quên lãng như số phận của hàng ngàn thường dân Việt Nam đã bị thảm sát.

Ðọc xong trang cuối cùng, gấp lại cuốn sách, chắc người đọc nào cũng thấy hãi hùng, đầy thương cảm. Riêng người điểm sách còn rút ra được ba ý nghĩ riêng cho mình: 1. Ðây là một cuốn sách rất khó đọc cho cả người Việt lẫn người Mỹ vì nó trình bày một cách trần trụi sự bi thảm tận cùng của một cuộc chiến vẫn còn vang vọng trong tim óc chúng ta. Với những cựu quân nhân VNCH từng sát cánh với quân đội Mỹ và bây giờ đã và đang xây dựng trên đất Hoa Kỳ những tượng đài để tưởng niệm, vinh danh “mối tình chiến hữu Việt – Mỹ” thì cuốn sách này lại càng khó đọc hơn, vì các sự kiện kinh hoàng được trình bày một cách trung thực, khoa học và có hệ thống đến mức, nếu còn là một người Việt Nam lương thiện và yêu nước, thì không thể chối cãi được và không nên lẩn tránh chúng. 2. Còn với các “cậu ấm bất mãn” ở Việt Nam, nhất là ở Hà Nội, đang ngưỡng mộ và hướng vọng về nước Mỹ như một mẫu mực chính trị tương lai cho đất nước thì cuốn sách này là một nhắc nhở sâu sắc cho họ rằng, chính trị Mỹ xuất sinh từ văn hóa Mỹ, trong đó, từ thời lập quốc, đã có những tay chăn bò được vinh danh là anh hùng… bắn chậm thì chết. Và hơn 40 năm trước, đã có những đồng bào “Việt cộng mặc áo bà ba đen” của các “cậu ấm” lúc bấy giờ ở miền nam xa xôi, vốn chỉ là những thường dân run rẩy, nhưng vẫn bị thảm sát vì dòng chảy văn hóa “bắn chậm thì chết” đặc thù này! 3. Nội dung cuốn sách còn là bài học đau thương cho những ai rước giặc vào nhà thì phải biết hậu quả tai hại sẽ không thể lường được dù giặc có khoe đầy giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền,…

Theo SÁCH HIẾM

Babylift, chiến dịch bắt cóc trẻ em Việt Nam của người Mỹ

Từ ngày 4/4 đến 26/4/1975, trên các mặt trận, quân đội Sài Gòn bị quân Giải phóng đánh tơi tả, phải lùi dần. Vòng vây quanh Sài Gòn dần khép lại như chiếc thòng lọng.

Trong khi bước chân quân Giải phóng đang dồn dập tiến về thì trong nội thành Sài Gòn, quan chức Sài Gòn và cố vấn Mỹ cũng đang chen lấn trong một cuộc di tản hỗn loạn mà nhiều sử gia sau này gọi là cuộc tháo chạy.

Những thành phần tháo chạy là những nhân vật trong chính quyền Sài Gòn và các nhân viên người Mỹ. Họ tháo chạy vì lo sợ một cuộc “tắm máu” khi quân Giải phóng vào Sài Gòn. Điều bất thường là trong hàng nghìn người di tản đó, có những chuyến bay riêng, chở các trẻ mồ côi từ Sài Gòn ra nước ngoài.

Chiến dịch Babylift

Từ ngày 4/4 đến 26/4/1975, trên các mặt trận, quân đội Sài Gòn bị quân Giải phóng đánh tơi tả, phải lùi dần. Vòng vây quanh Sài Gòn dần khép lại như chiếc thòng lọng. Trong khi các bước chân quân Giải phóng đang dồn dập tiến về thì trong nội thành Sài Gòn, quan chức Sài Gòn và cố vấn Mỹ cũng đang chen lấn trong một cuộc di tản hỗn loạn mà nhiều sử gia sau này gọi là cuộc tháo chạy.

Những thành phần tháo chạy là những nhân vật trong chính quyền Sài Gòn và các nhân viên người Mỹ. Họ tháo chạy vì lo sợ một cuộc tắm máu khi quân Giải phóng vào Sài Gòn. Điều bất thường là trong hàng nghìn người di tản đó, có những chuyến bay riêng, chở các trẻ mồ côi từ Sài Gòn ra nước ngoài.

Chiến tranh tuy tàn khốc song bản chất người Việt Nam nhân đạo, đối với kẻ thù mà ông cha ta thời Lê, khi đã thắng cũng không giết hại, còn cấp lương cấp ngựa cho về. Đến thời đại Hồ Chí Minh, các binh sĩ Pháp bị bắt ở Điện Biên rồi các phi công Mỹ bị bắn rơi được đối xử nhân đạo như thế nào, cả cộng đồng quốc tế đều biết. Vậy mà cơ quan phụ trách vấn đề xã hội của chính quyền Sài Gòn tuyên truyền rằng, Cộng sản sẽ trả thù, mổ bụng các trẻ em mồ côi, nhất là con lai của Mỹ để có cớ đưa trẻ em ra nước ngoài.

Người Mỹ thì rêu rao rằng những đứa trẻ được đưa đi phần lớn là con lai của lính Mỹ và họ làm như vậy là biểu hiện một chút trách nhiệm cuối cùng. Người ta đã đặt tham vọng đưa 70.000 trẻ em Việt Nam ra nước ngoài trong chiến dịch này.

Ngày 4/4/1975, một chiếc máy bay vận tải C-5A bay đến Tân Sơn Nhất để chuyển cho quân đội Sài Gòn vũ khí. Theo kế hoạch đã định, ở chiều bay về, máy bay này mang theo 300 người trong đó có nhân viên sứ quán Mỹ và nhiều trẻ nhỏ Việt Nam để mở đầu cho một chiến dịch Babylift.

Chiếc máy bay cất cánh được hơn 1 giờ thì bắt đầu bốc cháy sau tiếng nổ to ở phía sau. Đúng theo thiết kế, chiếc máy bay này chỉ có thể chở hơn 100 người nhưng nó đã chở tới 300 người. Do đó, mặt nạ ô xy thiếu trầm trọng. Phi hành đoàn phải quay đầu lại sân bay Tân Sơn Nhất nhưng không kịp. Khi còn cách Sài Gòn khoảng trên 10 km, chiếc máy bay bắt đầu rơi và vỡ tan tành. Sau vụ nổ, chỉ còn 170 người lớn và trẻ em sống sót với nhiều thương tích.

Tuy nhiên, bi kịch C-5A không làm hoãn chiến dịch Babylift. Các tài liệu phương Tây như Operation babylift, The Legacy of Operation Babylift cho biết: Từ ngày 4/4 đến 26/4/1975, chiến dịch Babylift đã mang 3.300 trẻ em Việt Nam đến Mỹ, Canada, châu Âu và Úc…

Lật tẩy những âm mưu

Bọc ngoài bằng những danh nghĩa nhân đạo nhưng thực tế, chiến dịch Babylift là một âm mưu chính trị đê hèn của các quan chức chính quyền Sài Gòn khi chế độ của họ đã đến cơn hấp hối. Theo hồi ký của ông Nguyễn Văn Hàm, nguyên là giáo sư, nghị sỹ của Hạ viện Sài Gòn trước năm 1975 (được đăng trên website Haylentieng.vn) thì cuộc di tản trẻ em này hoàn toàn mang động cơ tuyên truyền chính trị.

Trong thời điểm những ngày đầu tháng 4/1975, khi Đà Nẵng thất thủ, ông Hàm gặp Albert Francis là nhân vật quan trọng của CIA kiêm Tổng lãnh sự Đà Nẵng và được Francis cho một tài liệu có liên quan đến chiến dịch Babylift. Hồi ký viết: “Đây là bức thư của Phó thủ tướng, bác sĩ Phan Quang Đán, Quốc vụ khanh đặc trách Xã hội, gởi Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa, để xin đưa bốn ngàn trẻ em Việt mồ côi sang Mỹ với mục đích: “… sẽ gây thêm xúc động trên khắp thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, rất có lợi cho Việt Nam Cộng Hòa … Đại sứ Hoa Kỳ cũng can thiệp trực tiếp với tôi để số cô nhi trên được xuất ngoại tập thể… Việc xuất ngoại tập thể này, thêm vào việc hàng triệu đồng bào nạn nhân chiến cuộc lìa bỏ những vùng Cộng sản chiếm đóng, sẽ giúp xoay chuyển dư luận dân chúng Hoa Kỳ, sẽ được các hãng Truyền thanh và Truyền hình cùng báo chí Hoa Kỳ mục kích, tường thuật, do đó có ảnh hưởng rất lớn lao…”. Bức thư ký tên và đóng dấu của bác sĩ Đán, đề ngày 2/4/1975.

Cuốn hồi ký này cũng cho biết thêm: “Để đủ túc số mà tuyên truyền, chẳng gì đáng ngạc nhiên khi, trong chuyến đầu tiên, người ta bốc cả những trẻ con ở ngoài các trại cô nhi. Một người bạn cùng quê, cùng tuổi với tôi, bấy giờ gia đình đang ở Quy Nhơn, có đứa con gái mười tuổi, đi học bán trú một trường Đạo, một hôm không thấy về nhà. Đăng báo, nhờ đài tìm trẻ thất lạc vô hiệu, coi như mất tích luôn”.

Ngay lúc khởi đầu chiến dịch này, mục đích chính trị khuất tất của nó đã bị các cô nhi viện phát giác và tố cáo đồng thời họ nêu quyết tâm sẽ giữ các trẻ em, không để người ta mang ra nước ngoài. Vẫn theo tài liệu của ông Hàm, vào ngày 6/4/1975, một bức thư có con dấu của cô nhi viện Ngọc Ninh (Phan Rang), Nhất Chi Mai (Lâm Đồng) và Biên Hòa gửi Quốc hội, nhân dân Hoa Kỳ, Hội đồng Thập tự Quốc tế, Cơ quan bảo trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc… tố giác: “ Chúng tôi đau đớn mà tố giác rằng trong khi đời sống của bốn ngàn cô nhi đang bình lặng tại các cơ sở nghĩa dưỡng toàn quốc, thì Chính phủ Sài Gòn do sự khuyến khích của Tòa Đại sứ Mỹ đã bất ngờ đưa hết số cô nhi trên về Sài Gòn để chờ lên máy bay rởi bỏ quê hương. Chúng tôi cũng gay gắt lên án các Hội Nghĩa Dưỡng quốc tế tại Việt Nam đã cấu kết chặt chẽ với âm mưu trên nhằm ý đồ chính trị, bội phản lại chủ trương nhân đạo nhân chánh một cách bỉ ổi… Chúng tôi long trọng xác nhận: Quyết tâm bảo vệ cô nhi Việt Nam đến cùng. Không bao giờ chấp nhận xuất cảng cô nhi cho mưu đồ chính trị tàn nhẫn. Số cô nhi còn lại tại các cô nhi viện, chúng tôi thà chết chứ không để chính quyền bắt mang đi”.

Có lẽ nhờ đó mà ý định “xuất cảng” 70.000 cô nhi Việt Nam ra nước ngoài của đã không thực hiện được. Dù thế, với 3.300 trẻ em đã bị mang đi, trong đó có nhiều trẻ em vốn vẫn có cha mẹ, đã gây ra nhiều cảnh biệt ly cho các gia đình, để lại hệ lụy xã hội mãi về sau.

Theo KIẾN THỨC

Những cuốn sách chấn động nước Mỹ về chiến tranh Việt Nam

Cuốn sách Những thứ họ mang (The Things They Carry) của nhà văn người Mỹ Tim O’brien đang gây chú ý lớn trong thời gian gần đây khi nhiều người phản ứng với những từ ngữ tục, không chuẩn trong bản dịch tiếng Việt. Tuy nhiên, vượt lên trên những lùm xùm thì đây vẫn là một trong những tác phẩm giá trị nhất của các tác giả Mỹ về chiến tranh Việt Nam.

Được viết bởi cựu binh từng tham chiến ở Sơn Mỹ, “Những thứ họ mang” là tuyển tập 22 câu chuyện nhỏ xảy ra từ trước, trong và sau cuộc chiến. Với lối trình bày kết hợp giữa thực tế và trí tưởng tượng, vừa là hồi ức của tác giả, vừa là trải nghiệm chiến tranh nhằm nói lên hậu quả tinh thần nặng nề đè nặng lên tâm hồn người trong cuộc. Người kể chuyện trong “Những thứ họ mang” đó giết chết một anh lính và cứ tự hỏi người đó là người thế nào. Trong khi các đồng ngũ vui mừng thì anh ta vẫn day dứt với ý nghĩ là mình đã cướp đi mạng sống của một con người.

“Những thứ họ mang” là cuốn sách thứ ba viết trên những trải nghiệm sau một năm tham chiến (1969-1970) thuộc đại đội Alpha ở Tây Nguyên của Tim O’Brien, vừa được nhà xuất bản Houghton Mifflin Harcourt tái bản thêm nhân kỷ niệm 20 năm.

Cuốn sách được chọn vào tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của Mỹ năm 1987, Những truyện ngắn hay nhất của Mỹ những năm 1980, vào vòng chung khảo giải Pulitzer dành cho tiểu thuyết năm 1991 và danh sách bình chọn giải thưởng về phê bình sách quốc gia cùng năm.

Năm 1993, Tim O’Brien đã tìm cách trở lại làng quê Sơn Mỹ để nhìn lại cảnh vật sau vụ thảm sát Mỹ Lai kinh hoàng, để tìm lại thời trai trẻ đầy ám ảnh của mình, rồi sau đó cho ra đời những cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh mà ông mang tư cách là một cựu binh từng tham chiến, ngay trên vùng đất Sơn Mỹ.

Nhà văn 67 tuổi Tim O’Brien từng được trao giải thưởng Sách quốc gia Hoa Kỳ năm 1979 cho tác phẩm Going after Cacciato (Đi theo Cacciato). Hàng loạt tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam của Tim từng tạo ra những cơn sốt trên văn đàn Mỹ như: If I Die in a Combat Zone (Giá tôi chết ở một vùng chiến sự), Northerm Lights (Những ngọn đèn phương Bắc), hay The Nuclear Age (Thời đại hạt nhân).

Sử thi về chiến tranh Việt Nam

Một trong những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam được coi là tiểu thuyết kiểu mẫu là They Marched Into Sunlight: War and Peace Vietnam and America October 1967 (Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng 10/1967) của tác giả đạt giải thưởng Pulitzer David Maraniss.

Đây là câu chuyện sử thi về Việt Nam trong những năm 60 thông qua các sự kiện ấn tượng với hàng loạt tuyến nhân vật trong những ngày tháng đam mê của chiến tranh và hòa bình vào tháng 10/1967. Họ tiến về hướng mặt trời làm sống lại thời kỳ đầy biến động, đồng thời đào sâu những câu hỏi về ý nghĩa của sự bất đồng chính kiến và sự bóp méo sự thật có tổ chức – những vấn đề vẫn còn nguyên tính thời sự dù nhiều thập kỷ đã qua.

Với lối kể chuyện liền mạch, Maraniss đan xen nhiều câu chuyện xảy ra tại 3 thế giới khác nhau: Sự hy sinh và chủ nghĩa anh hùng của bộ đội Việt Nam, sự tức giận và lo lắng của các sinh viên chống chiến tranh ở Mỹ và sự nhầm lẫn, cư xử lẫn lộn của các quan chức tại Washington. Dựa trên hàng ngàn tài liệu gốc và 180 cuộc phỏng vấn trực tiếp, cuốn sách đã mô tả những trận chiến dẫn tới nhiều xung đột chính trị và văn hóa còn vang dội đến tận ngày nay.

“Maraniss đã phục chế lại những đường nét nguyên bản của bức tranh chiến tranh Việt Nam bằng cách rọi ánh sáng mới lên một sự thật bị quên lãng. “Phát ngôn ý thức hệ” (Ideological formulations) không phải điều tác giả quan tâm, mà chính là “sự giao lưu giữa lịch sử và cuộc đời của các nhân vật, các biến cố, các tình tiết và các dự định, vừa thúc người ta lao lên phía trước, lại vừa níu họ, bắt cùng chôn chân tại chỗ”, tiểu thuyết gia Philip Caputo từng nhận xét về cuốn sách trong một bài báo đăng trên mục điểm sách của Thời báo New York.

Cuốn sách đang được hãng Universal Pictures dựng thành phim và dự tính sẽ công chiếu trong năm nay.

Bìa cuốn Những thứ họ mang (phiên bản Mỹ)
Nguồn: thingsg2.blogspot.com

Vạch trần bản chất vụ thảm sát Mỹ Lai

Cuốn sách Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam (tạm dịch: Bắn bất kỳ thứ gì chuyển động: Cuộc chiến thực sự của Mỹ ở Việt Nam) của Nick Turse, nhà báo Mỹ nổi tiếng và là người quản lý trang TomDispatch.com (chuyên cung cấp cách nhìn về các sự kiện lịch sử khác với tài liệu chính thống) được xuất bản đầu năm 2013 cung cấp sự thật khủng khiếp về bản chất cuộc thảm sát Mỹ Lai.

Cuốn sách được viết dựa trên nhiều tài liệu mật cùng hàng loạt cuộc phỏng vấn trực tiếp với các nhân chứng chiến tranh, từ đó nói lên sự thật: Những vụ hiếp dâm hàng loạt, tra tấn, xẻo thịt và giết hại dân thường Việt Nam kiểu như vụ thảm sát Mỹ Lai – xảy ra năm 1968 khiến hơn 500 dân thường bị giết – không phải hành động lầm lạc trong những giờ phút thiếu suy nghĩ, mà là chính sách có hệ thống trong cỗ máy chiến tranh của Mỹ thời đó.

Cuốn sách ra đời một cách tình cờ. Năm 2001, khi đang lang thang trong thư viện quốc gia, Nick Turse vô tình được tiếp vận với những tài liệu đã ố vàng của Nhóm công tác về tội ác trong chiến tranh Việt Nam – được thành lập sau vụ thảm sát Mỹ Lai nhằm che đậy hàng loạt tội ác của quân đội Mỹ. Đó là lý do mà hàng trăm tài liệu về chiến tranh ở tòa án đã bị hủy hoặc mất tích.

Turse cũng lột tả sự thật rằng chính quyền Mỹ hồi đó quá thành công trong việc tuyên truyền sự thật bị bóp méo rằng thảm họa Mỹ Lai chỉ là sự cố ngoài ý muốn. Trong những năm Mỹ dính líu đến Việt Nam, số liệu ước tính khiêm tốn nhất cho thấy 3 triệu người chết vì bạo lực, trong đó 2 triệu người là dân thường.

Không chỉ nghiên cứu trong thư viện, Turse còn phỏng vấn rất nhiều tướng lĩnh và quan chức dân sự cao cấp, các nhà điều tra tội phạm, cựu chiến binh từng chứng kiến hoặc phạm tội ác tàn bạo. Turse cũng đã đến Việt Nam nhiều lần để phỏng vấn những người sống sót từ cuộc chiến.

“Hàng trăm báo cáo mà tôi tập hợp được cùng với hàng trăm nhân chứng tôi từng phỏng vấn ở Mỹ và Đông Nam Á cho thấy một điều rõ ràng rằng, việc giết hại dân thường – dù một cách máu lạnh như ở Mỹ Lai hay một cách bàng quan vô cảm như trận phục kích ở Bình Long – đều rất phổ biến, diễn ra thường xuyên, và xuất phát từ chính sách chỉ huy của Mỹ”, tác giả cho biết.

Tuy nhiên, theo tác giả, chỉ rất ít cá nhân phải ra tòa hoặc bị trừng phạt vì tội ác chiến tranh khiến quá nhiều dân thường thiệt mạng.

Chính vì thế, Kill anything that move gây được tiếng vang lớn, cho dù ở Mỹ đã có khoảng 30.000 cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam.

Hồng Lam (tổng hợp)

Nhạc phim cách mạng hay về Chiến tranh Việt Nam:

300 năm nữa Việt Nam mới phá hết bom mìn

300 năm nữa Việt Nam mới phá hết bom mìn

Đây là thông tin được Bộ LĐ-TB-XH đưa ra ngày 2.4, tại buổi tọa đàm nhân Ngày thế giới phòng chống bom, mìn (4.4.2013).

(Hưởng ứng ngày Thế giới phòng chống bom mìn (4/4), triển lãm Khắc phục hậu quả bom mình sau chiến tranh, vì cuộc sống bình yên đã được tổ chức tại Bảo tàng Công binh (290, Lạc Long Quân, Hà Nội) từ 25/3 tới 5/4/2013.)

Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH Bùi Hồng Lĩnh cho biết kết quả điều tra trên cả nước có khoảng 66.000 km2 còn tồn đọng vật liệu bom, mìn. Ước tính còn khoảng hơn 600.000 tấn bom mìn đang ẩn sâu trong lòng đất. Hiện mới chỉ có khoảng 20% lượng bom, mìn được tháo gỡ. Bình quân mỗi năm có khoảng 20.000 ha đất được rà phá. Để làm sạch hết bom mìn sau chiến tranh, Việt Nam cần kinh phí trên 10 tỉ USD và với tốc độ như hiện nay, khoảng 300 năm nữa mới có thể loại bỏ được hết các loại bom mìn chưa nổ.

Theo Thứ trưởng Bùi Hồng Lĩnh, bom mìn còn sót lại sau chiến tranh gây tổn thất nặng nề về tính mạng, tài sản, đời sống của người dân, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội. Bom mìn đã cướp đi mạng sống của 10.529 người, làm 12.231 người bị thương, trong đó 25% các thương tích này là ở trẻ em lứa tuổi từ 14 tuổi trở xuống.


ẢNH: Quả bom lớn nhất ở giữa là bom phát quang 12000LBS, nặng 7 tấn được Mỹ thả xuống khu vực Gia Lai. Trọng lượng và kích thước của quả bom lớn đến nỗi nó chỉ được chở bằng máy bay vận tải C130 và mỗi chuyến bay cũng chỉ chở được tối đa 2 quả.

Loại bom được chế tạo nhằm phát quang cây cối làm bãi đáp trực thăng hoặc dàn trận địa pháo. Với cơ chế hoạt động đặc biệt, quả bom được kích nổ ngay trên mặt đất (không tạo ra hố bom) và có thể san phẳng mọi thứ trên một diện tích lên tới 100.000 m2.

Quả thủy lôi lớn nhất từng rơi xuống cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) cũng không có ký hiệu, mã số. Nó có đường kính trên 2,5m, chứa 180 kg thuốc nổ C4. Theo các tài liệu thu thập được, loại thủy lôi này là “vũ khí tối mật”, chỉ có 10 quả và đều được sử dụng ở Việt Nam.

Được biết, chi phí để nghiên cứu và sản xuất 10 quả thủy lôi này ước tính lên tới 1 tỷ USD (theo thời giá năm 1965).

Chính vì thế Việt Nam là quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng do bom mìn sót lại sau chiến tranh. Sau nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bom mình do quân đội nước ngoài mang đến tàn phá còn sót lại ước đến hàng trăm nghìn tấn, rải rác trên khắp lãnh thổ, đặc biệt các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi…

Hội Những Người Ghét Bọn Phản Động (FB)

Giới thiệu tác phẩm “Nhúc Nhích Thì Giết”

Giới thiệu tác phẩm “Nhúc Nhích Thì Giết”

Lý Như Thế

Sách Hiếm

21-Mar-2013

“Kill Anything That Moves – The Real American War in Vietnam”

Tác giả: Nick Turse

Nhà suất bản: Metropolitan Books, New York, 2013.


Tác phẩm “Kill Anything That Moves” của tác giả Nick Turse

Tác phẩm 370 trang này đoạt giải thưởng Ridenhour của National Press Club năm 2009, nguyên là luận án Tiến sĩ tại Đại học Columbia của nhà báo kiêm sử gia Nick Turse. Cuốn sách gồm một Nhập đề, bảy Chương và một Kết luận. Cầm cuốn sách lên thì thấy tựa sách được đọc như một mệnh lệnh cho người lính Mỹ khi đến Việt Nam: “Nhúc nhích thì giết!”. Để cuốn sách xuống sau khi đọc thì thấy đúng như vậy. Qua sách nầy, tác giả Nick Turse đã chứng minh một cách “bất khả tư nghì” rằng mệnh lệnh dã man ấy là một chính sách, một chiến thuật chính thức của quân đội Mỹ và đã được áp dụng từ cấp tướng đến người lính G.I., từ quân trường ở Mỹ đến xóm làng ở Việt Nam. Chủ đề của cuốn sách là một chứng minh rằng cuộc thảm sát từ 350 đến 500 thường dân ở Mỹ Lai ngày 16 tháng 3 năm 1968 không phải là một sơ xuất biệt lệ của quân đội Mỹ.


Nhiếp ảnh gia chính thức của Lục quân Mỹ Ron Haeberle đã theo chân Đại đội Charlie đến Mỹ Lai (Quảng Ngãi) vào ngày định mệnh 16/3/1968. Anh đã ghi được vào ống kính hầu như toàn bộ thảm kịch Mỹ Lai. Những tấm hình nầy, sau đó, được dùng làm vật chứng trong cuộc điều tra dài 5 tháng của Tướng William R. Peers.

http://www.pbs.org/wgbh/americanexperience/features/photo-gallery/mylai-massacre-evidence/

Điều nầy có thể thấy ngay trong Chương 2: “Theo hồi ký của tướng Westmoreland, (tướng) Mac Arthur đã “thúc dục tôi hãy chuẩn bị để luôn luôn có đầy đủ trọng pháo vì dân Á Đông rất sợ trọng pháo” và đưa ý kiến là Westmoreland có thể phải xử dụng một “chiến thuật đốt sạch đất đai” tại Việt Nam.” (trang 61). Lời chỉ đạo nầy từ một anh hùng của Đệ nhị Thế chiến có thể coi như thể hiện tâm cảnh (mindset) của tướng Westmoreland trước khi nhậm chức Tổng Tư Lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam để “đếm xác” (body count) dân Việt trong tinh thần kỳ thị chủng tộc dứt khoát.

Phương pháp làm việc của tác giả Nick Turse vừa có tính cách sử học vừa xã hội học, thích ứng với mội trường hàn lâm của một Đại học nổi tiếng như Columbia. Tác giả xử dụng hồ sơ giải mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, những báo cáo từ các cuộc điều tra của Criminal Investigation Division (Sở Điều Tra Tội Phạm) của Bộ Quốc phòng, đặc biệt là báo cáo của Vietnam War Crimes Working Group (Nhóm Điều Tra Tội Ác Chiến Tranh ở Việt Nam) được Pentagon thành lập sau vụ thảm sát ở Mỹ Lai, cộng với hơn 100 cuộc phỏng vấn ở cả hai phía: nạn nhân Việt Nam và quân nhân Mỹ. Tất cả để đúc kết lại thành một bức tranh bi thảm về sự tàn phá tận cùng của chiến tranh mà ngay cả Picasso có sống lại cũng không thể vẽ thêm một Guernica thứ hai.

Thống kê tổng quát cho thấy cuộc chiến Việt Nam từ năm 1955 đến 1975 đã gây ra cho người Việt Nam gần 3 triệu người thương vong và vẫn còn hơn 300,000 người mất tích. Trong khi người Mỹ có hơn 360,000 lính thương vong. Ở cao điểm của cuộc chiến năm 1969, nước Mỹ đã có 540,000 quân trên đất liền, khoảng 150,000 quân trên biển và trong các căn cứ ở Nhật, Đài Loan, Phi, Thái, Mã Lai,… chưa kể các quân đội Đồng Minh (Đại Hàn, Phi, Thái, Úc, Tân Tây Lan,…). Không quân Mỹ thả gần 9 triệu tấn bom (so với gần 3 triệu tấn bom thả trên Đức quốc trong Đệ nhị Thế chiến) và khoảng 70 triệu lít chất độc khai quang mà ảnh hưởng có thể tác hại đến 100 năm trên con người và thiên nhiên.

Với những vũ khí và quân lực đằng đằng sát khí như vậy, người thường dân Việt Nam đã phải chịu một tai họa thống khổ đến mức nào?

Bảy chương sách của Nick Turse mang câu trả lời với những tựa đề hãi hùng:

(1) Cuộc thảm sát ở Triệu Ái,
(2) Một Hệ Thống Đau Khổ,
(3) Tàn sát Quá Độ,
(4) Một Loạt Những Hung Bạo,
(5) Khốn Khổ Vô Bờ,
(6) Tên Khùng, Ông Tướng “Săn Cộng” và Tên Đồ Tể của Vùng Châu Thổ, và
(7) Những Tội Ác Chiến Tranh Biến Đi Đâu Rồi?

Không phải là một tình cờ mà nhận định của Alvin Tofler: “Nếu nguyên tắc căn bản của nền kinh tế kỹ nghệ là sản xuất hàng loạt thì nguyên tắc căn bản của chiến tranh thời kỹ nghệ hoá là tàn phá hàng loạt” (War and Anti-War, trang 38) đã trùng hợp sát sao với nhận định của tác gỉa Nick Turse ở trang 204: “sự tàn sát theo chuẩn mức kỹ nghệ đã được áp dụng khoảng thời gian Thiếu tướng Julian Ewell cầm quân ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long”. Tại Việt Nam, chính quyền Mỹ đã thực thi một cuộc tàn phá hàng loạt một cách có hệ thống trong suốt cuộc chiến với những mô tả đáng kể nhất là trong hai chương 1 và 6 mà người đọc không thể bỏ qua.

Chương 1: Từ thời kỳ được huấn luyện ở quân trường tại Mỹ (Fort Benning, Camp Lejeune, tiểu bang Georgia) tinh thần kỳ thị chủng tộc (như của tướng Mac Arthur) đã được nhồi sọ tối đa để giúp người tân binh Mỹ có thể giết kẻ thù – người Việt Nam – mà không hối tiếc hay ân hận. “Cựu chiến binh Wayne Smith nhớ lại là các huấn luyện viên không bao giờ gọi người Việt Nam là “Vietnamese”. Họ gọi (bằng những chữ tiếng lóng hạ cấp như) “dinks, gooks, slopes, slants, rice-eaters”, những chữ không còn mang ý nghĩa tượng trưng cho con người nữa. Cái thâm ý là coi người Việt Nam thấp hơn cả giống người.” (trang 28). Như vậy thì có thể tự do để vâng lệnh giết một cách vô trách nhiệm như lời khuyên của một vị Tuyên úy Tin Lành: “Người lính tự do nhất là người lính sẵn sàng tuân lệnh cấp trên. Khi bạn tuân một mệnh lệnh hợp pháp thì bạn không sợ, không lo gì cả.” (trang 30) Vấn đề là không có ai định nghĩa “mệnh lệnh bất hợp pháp” là gì. Khi Trung úy Maynard quăng lựu đạn xuống hầm một căn nhà trong làng Triệu Ái, “Trung úy Bailey cho biết có con nít trong hầm ấy. Và Trung úy Maynard trả lời: “Kệ mẹ nó, rồi tụi đó lớn lên thì cũng trở thành Việt Cộng thôi.” (trang 34). Điều kinh khủng là người lính Mỹ không phân biệt được kẻ thù và đồng minh nên họ chỉ biết khi thấy “nhúc nhích thì giết”. Ở một cấp cao hơn, các sĩ quan tốt nghiệp quân trường West Point cũng có một hiệp hội ngầm (mà ai cũng biết) có tên là West Point Protective Association (WPPA) để họ bảo vệ lẫn nhau khi bị điều tra hay khi phải ra trước toà án quân sự như trường hợp tướng Julian Ewell dưới đây.

Chương 6: Hồ sơ của Trung Sĩ Roy Bumgarner và Tướng Julian Ewell là hai thí dụ điển hình.

“Trung sĩ Bumgarner thuộc Lữ đoàn Dù 173, Sư đoàn Kỵ binh Đệ Nhất đóng tại Bình Định (năm 1968) nổi tiếng với thành tích giết 1,500 kẻ thù. Có khi toán quân 6 người của ông còn giết nhiều kẻ thù hơn cả tổng số “đếm xác” của toàn thể tiểu đoàn 500 người của ông.” (trang 192). Thành tích này đã làm cho ông mang biệt danh là “The Bummer” (Tên Khùng). Tên Khùng tuy khùng nhưng không dại vì sau khi giết một thường dân (dù là đàn bà, con nít), y lại nhét vào trong xác chết một qủa lựu đạn “made-in-China” hay một khẩu súng Nga. Hậu quả là số “Việt Cộng” bị Trung sĩ Bumgarner giết lên rất cao. Điều không may là các bạn đồng ngũ đã thấy hành vi vô đạo nầy và họ báo cáo lên cấp trên. Tên Khùng bị điều tra và bị đưa ra toà án quân sự. Tên Khùng bị xử có phạm tội nhưng là tội “sát nhân không mưu tính” (unpremeditated murder) và nhờ vậy y đã không vào tù, dù chỉ một ngày (trang 196). Một nhân chứng của vụ án, Peter Berenback, sau khi giải ngũ đã đọc được trong nhật báo New York Times ngày 31/3/1972 một bản tin ca ngợi Trung sĩ Bumgarner với tấm hình Tên Khùng ôm một em bé Việt Nam một cách bảo bọc. Berenback bèn gửi một lá thư đầy giận dữ gọi Bumgarner là “kẻ sát nhân”. Nhưng tờ báo đầy uy tín nầy đã không phản ứng. Berenback gửi một thư khác cho Dân biểu Peter Frelinghuysen. Ông nầy chuyển lá thư cho Đại tá Murray Williams ở Pentagon. Rồi nội vụ không còn được nói đến nữa!

Trường hợp tướng Julian Ewell đáng chú ý là vì sự nghiệp của ông tại Việt Nam thành công rực rỡ chỉ nhờ một yếu tố: Khả năng làm tăng con số kẻ thù bị giết (“body count”). Tháng 2 năm 1968, khi mới nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 9 vùng Đồng bằng sông Cửu Long (vùng 4 Chiến thuật), các phi công trực thăng của ông đã để ý trò chơi săn người của ông khi ra lệnh cho pháo thủ trên trực thăng bắn bất kể vào người nông dân đang cày bừa trên đồng lúa. Đặt cơ sở trên chiến tranh kỹ thuật (“technowar”) của bộ trưởng Mac Namara, “thống kê đếm xác là thước đo thành công quan trọng nhất” cho tướng Ewell (trang 206). Hãy đọc “tiến bộ” của tướng Ewell trong 2 năm 1968-1969 theo thước đo tỉ lệ chết giữa địch và ta (Việt Cộng và Mỹ): Trước khi ông nhậm chức, tỉ lệ đó là 1/8: Cứ một người lính Mỹ chết thì có 8 người lính Việt Cộng chết. Đây đã là một tỉ lệ khá cao so với các đơn vị khác. Qua tháng 7-1968, sau 5 tháng dưới quyền tướng Ewell, tỉ lệ nầy tăng lên thành 1/14.

Sau 5 tháng, tướng Ewell mở đầu chiến dịch “Speedy Express” vói tỉ lệ 1/24. Ba tháng sau tỉ lệ là 1/68. Một tháng sau (4-1969), tỉ lệ tăng lên gần gấp đôi: 1/134. Câu hỏi là trong 134 người Việt Nam được “đếm xác” này có bao nhiêu thường dân? Vì (1) sự chênh lệch quá xa giữa số xác Việt Cộng quá cao so với số võ khí thu lượm quá thấp (2) trước hoả lực kinh hồn của quân đội Mỹ, quân đội Việt Cộng cũng đủ khôn ngoan để rút đi nơi khác, để lại người dân vô tội trong vùng hoả tuyến.

Khi được hỏi làm sao họ phân biệt được kẻ thù trên đồng ruộng để nã súng bắn, phi công Cobra của chiến dịch Speedy Express trả lời: “Kẻ nào thấy trực thăng mà bỏ chạy là kẻ thù.” hoặc “Kẻ nào mặc bà ba đen là Việt Cộng.” Từ đó tướng Ewell mang hỗn danh là “tên đồ tể của vùng Châu thổ.” Với “tiến bộ” từ 1/14 lên 1/134, tướng Ewell được vinh thăng Trung tướng và năm 1970, ông được gửi qua làm cố vấn quân sự cho phái đoàn Mỹ đang tham dự Hoà đàm ở Paris.

Nhưng một quân nhân vô danh ký tên là “Một Trung sĩ Ưu tư” đã gửi thư cho tướng Westmoreland, lúc nầy đã trở thành Tham mưu Trưởng Liên quân, để tố cáo đầy đủ chi tiết và tên tuổi, chức vụ trong cuộc tàn sát khủng khiếp của chiến dịch Speedy Express. Lá thư kết luận một cách chắc nịch “dù các con số của tôi chỉ đúng 10%, mà tôi tin là cao hơn, thì 120 đến 150 tử vong đã tương đương với một Mỹ Lai mỗi tháng trong hơn một năm trời.” (trang 215). Nhưng rồi lá thư nầy cũng bị rơi vào quên lảng như số phận của hàng ngàn thường dân Việt Nam đã bị thảm sát.

Đọc xong trang cuối cùng, gấp lại cuốn sách, chắc người đọc nào cũng thấy hãi hùng và đầy lòng thương cảm. Riêng người điểm sách còn rút ra được ba ý nghĩ riêng cho mình:

■ Đây là một cuốn sách rất khó đọc cho cả người Việt lẫn người Mỹ vì nó trình bày một cách trần truồng sự bi thảm tận cùng của một cuộc chiến vẫn còn vang vọng trong tim óc chúng ta.

Với những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà đã từng sát cánh chiến đấu với quân đội Mỹ và bây giờ đã và đang xây dựng trên đất Hoa Kỳ những tượng đài để tưởng niệm và vinh danh “mối tình chiến hữu Việt-Mỹ” thì cuốn sách nầy lại càng khó đọc hơn vì những sự kiện kinh hoàng được trình bày một cách trung thực, khoa học và có hệ thống đến mức, nếu còn là một người Việt Nam lương thiện và yêu nước, thì không thể chối cãi được và không nên lẩn tránh chúng.

■ Còn với những “cậu ấm bất mãn” ở Việt Nam, nhất là ở thủ đô Hà Nội, đang ngưỡng mộ và hướng vọng về Hoa Kỳ như một mẫu mực chính trị tương lai cho đất nước thì cuốn sách nầy là một nhắc nhở sâu sắc cho họ rằng chính trị Mỹ xuất sinh từ văn hóa Mỹ, trong đó, từ thời lập quốc, đã có những tay chăn bò được vinh danh là những anh hùng … bắn chậm thì chết. Và hơn 40 năm trước, đã có những đồng bào “Việt Cộng mặc áo bà ba đen” của các “cậu ấm” lúc bấy giờ ở miền Nam xa xôi, vốn chỉ là những thường dân run rẩy, nhưng vẫn bị thảm sát vì dòng chảy văn hóa “bắn chậm thì chết” đặc thù nầy!

■ Cuối cùng, nội dung cuốn sách nầy còn là một bài học đau thương cho những ai rước giặc vào nhà thì phải biết hậu quả tai hại sẽ không thể lường được dù giặc có khoe đầy giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền,… như khi Phó Tổng thống Lyndon Johnson ngoài miệng thì giả vờ ca ngợi Tổng thống Diệm của VNCH là “Churchill của châu Á” nhưng sau lưng thì gọi Việt Nam là “một nước nhỏ nhoi bèo bọt” (trang 49). Nói cho cùng thì Churchill cũng không tốt đẹp gì để hãnh diện được so sánh vì ông ta là một đại thực dân da trắng đã ôm khư khư cái đế quốc “mặt trời không bao giờ lặn” của Anh quốc, dù Gandhi và hàng triệu dân Ấn Độ đã xã thân đấu tranh cho tự do và độc lập của đất nước mình.

Tôi viết bài điểm sách nầy để tưởng niệm anh Hugh C. Thompson, Jr., một Đại úy phi công trực thăng của quân đội Mỹ, người đã can đảm cố gắng ngăn chặn, tuy bất thành, cuộc thảm sát hãi hùng ở Mỹ Lai, và sau đó, bất chấp mọi chống đối của bộ máy thư lại Mỹ, đã kiên trì tố cáo thành công trước công luận tội ác của chính các cấp trên của mình.

Ba mươi năm sau cuộc thảm sát, anh được trao tặng huy chương cao quý nhất của Lục quân Mỹ. Cũng trong năm 1998, Quốc hội Hoa Kỳ ghi nhận anh “đã nêu gương ái quốc trong ý nghĩa cao cả nhất”.

Tôi nghĩ rằng cùng với tên chị Đặng Thùy Trâm, tên anh Hugh Thompson xứng đáng được người Việt Nam đặt cho một con đường lớn ở thành phố Quảng Ngãi vì lòng nhân đạo và tính cương trực của anh đã vượt lên trên mọi rào cản ý thức hệ, chủng tộc, văn hoá.

Nhận định về tác phẩm “Kill Anything That Moves” của ba nhà nghiên cứu Mỹ về chiến tranh Việt Nam:

FRANCES FITZGERALD (giải thưởng Pulitzer năm 1973, tác giả của Fire in the Lake):

- “Hơn mọi ai khác, Nick Turse đã chứng minh – với chứng cớ một chuyện không còn có thể bàn cãi: Sự tàn bạo của quân đội Mỹ ở Việt Nam không phải là thỉnh thoảng hay sơ xuất mà là chuyện thường ngày và là một hậu quả không thể tránh của chính sách quân sự của nước Mỹ.”

DANIEL ELLSBERG (Cựu Thủy Quân Lục Chiến, nhân viên Bộ Ngoại Giao, phân tích gia của RAND, người tiết lộ Hồ sơ Ngũ Giác Đài Pentagon Papers):

- “Nghiên cứu kỹ càng, Nhúc Nhích Thì Giết là một tường trình đầy đủ nhất cho đến ngày nay về tội ác chiến tranh do quân đội Mỹ vi phạm ở Việt Nam và những cố gắng để che giấu của các cấp chỉ huy cao nhất của quân đội. Đây là một phần quan trọng của lịch sử.”

MARILYN YOUNG (Tác giả The Vietnam Wars, 1945-1990)

- “Cuốn sách “Nhúc Nhích Thì Giết” của Nick Turse là một tài liệu căn bản, một tường trình hùng hậu và đầy xúc động đến ngay vào vùng tim đen của cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Sự tàn sát thường dân một cách có hệ thống, chứ không là một sơ xuất, là một thủ tục hành quân đúng tiêu chuẩn. Cho đến ngày nào bản tường trình lịch sử nầy đưọc thừa nhận, chính sách nầy vẫn sẽ được tiếp tục dưới hình thức nầy hoặc hình thức khác trong những cuộc chiến mà nước Mỹ sẽ tiếp tục dính vào.”

Lý Như Thế
(theo Sách Hiếm)

Người Mỹ giải mật thêm hàng loạt tội ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

Người Mỹ giải mật thêm hàng loạt tội ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

Trong chiến dịch Speedy Express, hàng nghìn dân thường Việt Nam đã bị giết hại chỉ để các chỉ huy quân đội Mỹ báo cáo chiến tích và được thăng chức.

Nhà báo, sử gia về cuộc chiến tranh Việt Nam Nick Turse vừa công bố thêm nhiều chứng cứ mới về tội ác của lính Mỹ tại Việt Nam trong cuốn sách có tiêu đề “Giết chết mọi thứ chuyển động: Sự thật về cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam” (Kill Anything that Moves: The Real American War in Vietnam). Dưới đây là bài viết giới thiệu về cuốn sách được đăng tải trên tờ Washington Post của Mỹ.

Hơn bất kỳ cuộc xung đột nào khác của Mỹ, chiến tranh Việt Nam trong nhiều năm qua đã được sử dụng như một lời cảnh báo về tham vọng thái quá và ảo tưởng của chủ nghĩa đế quốc, nhưng chi tiết của cuộc chiến tranh đã mờ dần theo thời gian. Vì vậy, nhà báo Nick Turse đã tung ra những chứng cứ mới tập trung vào các tội ác chiến tranh có thể đã xảy ra trong cuộc phiêu lưu sai trái của nước Mỹ.

Với cuốn sách có tiêu đề “Giết chết mọi thứ chuyển động: Sự thật về cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam”, Turse đã lao vào vùng nước đen tối của nước Mỹ trong chiến tranh. Đó là một biến cố lịch sử đẫm máu, dù các ước tính về thương vong của người Việt Nam là rất khác nhau, nhưng con số này có thể vượt quá 2 triệu – một số lượng lớn đối với một đất nước chỉ có 19 triệu dân vào thời điểm đó.

Một chính sách hủy diệt làng mạc, ném bom rải thám, bắn giết vô tội vạ, “tái định cư” nông dân và các tầng lớp dân cư khác đã khiến hàng triệu hàng triệu người phải tha hương, kèm theo đó là tổn thương do chiến tranh. và hàng triệu người bị thương. Cuộc tắm máu vô ích này sẽ lặp lại nếu chúng ta không chịu hiểu ra, dù chỉ mơ hồ, bài học từ cuộc chiến tranh Việt Nam.

Với phong cách khẩn thiết nhưng rất dễ đọc của mình, Turse đưa độc giả đi qua bối cảnh lịch sử của các chính sách thất bại, sự dối trá của chính quyền và nỗi đau khổ của người Việt Nam, những thảm trạng quen thuộc đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử. Đó chính là điều giá trị nhất mà Nick Turse nêu bật ra khi đề cập đến thất bại của Mỹ trong thời gian từ 1964-1975.

Nhưng Turse còn làm nhiều hơn thế: Ông đào sâu vào những tội ác lịch sử bị giấu kín của chính quyền Mỹ. Ông đã mang lại cho cuốn sách của mình một cả một kho thông tin mới đầy ấn tượng – với những các tư liệu mới được hé mở và những phỏng vấn các nhân chứng tại Mỹ và Việt Nam. Với kỹ năng tường thuật tuyệt vời, ông nhấn mạnh vào một câu hỏi rắc rối: Tại sao với tất cả các bằng chứng thu thập bởi quân đội vào thời điểm của cuộc chiến tranh, những hành động tàn bạo đó không bị truy tố?

Những tội ác thảm sát dân thường ở miền Nam Việt Nam đã được nhiều tướng tá của Lầu Năm Góc như Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird và Tổng tham mưu trưởng Stanley Resor nắm rõ. Nhiều lá thư trần tình về sự phi lý của cuộc chiến đã được các binh sĩ và Thủy quân lục chiến viết, dẫn đến việc tiến hành điều tra và đưa ra các báo cáo về tội ác của lính Mỹ.

Nhưng hầu hết các vụ việc đã bị ém nhẹm trước công chúng. Vụ thảm sát Mỹ Lai chỉ là một trường hợp ngoại lệ vì quy mô quá lớn của tội ác (400 người bị giết hại). Turse đã vạch trần thêm nhiều tội ác lớn nhỏ và cho thấy chúng là một khối u ác tính phát triển bên trong các lực lượng quân sự Mỹ.

Vụ đặc biệt nổi bật là chiến dịch Speedy Express, được Sư đoàn bộ binh thứ 9 dưới sự chỉ huy của Thiếu Tướng Julian Ewell thực hiện ở đồng bằng sông Cửu Long. Các tư liệu của Turse đã cho thấy sự dã man của chiến dịch này, khi hàng nghìn dân thường đã bị giết hại một cách vô cớ chỉ để các chỉ huy quân đội báo cáo chiến tích và được thăng chức.

Theo tuyên bố của tướng Ewell và thuộc cấp, hàng nghìn người Việt Nam đó đều là Việt Cộng. Nhưng trên thực tế, chỉ có rất ít vũ khí được tìm thấy với các tử thi. Quân đội Mỹ nhận thức được đầy đủ tội ác mà Ewell đã gây ra, và tặng cho ông ta thêm một sao trên quân hàm cùng một vị trí có uy tín tại các cuộc đàm phán hòa bình Paris.

Turse đặt ra câu hỏi nhức nhối: “Tất cả các tội ác chiến tranh đã về đâu?” Ông đã đưa ra câu trả lời thích đáng bằng công trình nghiên cứu của mình.

Ông đã dành nhiều trang cho trường hợp của Kevin Buckley và Alexander Shimkin, các phóng viên tờ Newsweek, những người đã nêu ra tội ác của Ewell trước các biên tập viên hèn nhát ở New York. Nếu các điều tra của Buckley và Shimskin được công bố đầy đủ vào tháng 1 hoặc tháng 2/1972, nó có thể tạo ra một cơn địa chấn dư luận mới trong lòng nước Mỹ, dẫn đến những áp lực không thể cưỡng lại của công chúng về việc minh bạch hóa thông tin về cuộc chiến.

Turse mạnh mẽ truy vấn về chuyện chính phủ Mỹ đã bất lực như thế nào trong việc truy tố các tội ác ở Việt Nam hay Campuchia (ngoài trường hợp của quân nhân Calley, người đã bị quản thúc tại gia cho vụ thảm sát ở Mỹ Lai). Ông cung cấp thông tin chi tiết về nỗ lực bao che tội ác của Lầu Năm Góc trong nhiều năm, chẳng hạn như việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động của Ban điều tra hình sự quân đội, cho phép các quan chức Bộ Quốc phòng chủ chốt có một vai trò lớn hơn trong những trường hợp tội phạm chiến tranh. Những động thái này dẫn đến việc các cuộc điều tra bây giờ có thể bị dập tắt ở cấp cao nhất, và sự thật đã chứng minh điều này.

Trong khi đọc cuốn sách của Turse, tôi không thể không tự hỏi, liệu 30 năm sau chúng ta có thấy một cuốn sách tương tự tiết lộ về các tội ác trong cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan hay không. Vụ thảm sát năm 2005 tại Haditha, Iraq, trong đó 24 dân thường không vũ trang đã bị giết bởi lính thủy đánh bộ Mỹ, mang nhiều điểm tương đồng với những gì Turse viết về Việt Nam – một sự bao che của quân đội cho đến khi một phóng viên phát hiện ra vụ việc. Không có một binh sĩ thủy quân lục chiến nào bị trừng phạt cho tội ác này. Điều này có thể nào gọi là công lý trong quân đội?

Turse viết về tội ác có hệ thống của lính Mỹ như sau: “Việc giết hại bừa bãi thường dân ở miền Nam Việt Nam – một cuộc tàn sát không có giới hạn, kéo dài ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam – đó hoàn toàn không phải là chuyện ngẫu nhiên và không lường trước được”.

Đến bao giờ chúng ta mới nhận thức được khía cạnh đáng xấu hổ của những cuộc chiến tranh như vậy? Ít nhất, Turse đã giúp chúng ta tiến một bước về phía trước.

Theo HOÀNG PHƯƠNG (KIẾN THỨC)