Nhìn lại sự thật lịch sử để hòa hợp dân tộc Việt Nam

Mục lục:

I. Những vấn đề đầu tiên

Vấn đề đại đoàn kết dân tộc

Tấm gương Dương Văn Minh

Các ngụy triều, ngụy quyền trong lịch sử phong kiến

Bản chất các ngụy quân – ngụy quyền và khái niệm “bán nước” trong lịch sử

Vì sao cuộc chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn các cuộc chiến chống xâm lược khác trong Việt sử?

“Thắng làm vua, thua làm giặc”?

II. Nhìn lại lịch sử hiện đại Việt Nam

Vấn đề pháp lý Việt Nam

Những nội dung mang tính nguyên tắc trong Hiệp định Genève về Đông Dương

Các ngụy quyền tại miền Nam Việt Nam có được “quốc tế” công nhận và ủng hộ?

Danh từ “South Vietnam” (Nam Việt Nam) mà người nước ngoài hay gọi có nghĩa gì?

Ai là miền Nam Việt Nam?

Nguyên nhân Mỹ xâm lược Việt Nam

Quan hệ giữa vấn đề chống Cộng và vấn đề cướp đoạt trong cuộc chiến tranh xâm lược này

Mâu thuẫn Pháp – Mỹ và quá trình Mỹ hất cẳng Pháp

Ngụy quyền Ngô Đình Diệm đã được Mỹ dựng lên như thế nào?

III. Những vấn đề liên quan khác và được nhiều người quan tâm

Vai trò của Liên Xô và Trung Quốc

Cuộc chiến ở Việt Nam và Triều Tiên có giống nhau?

Khái niệm chia cắt – thống nhất đất nước và tội ác của Mỹ tại Việt Nam

“Cuộc chiến ý thức hệ”, “chiến tranh ủy nhiệm”?

“Quân cờ của các siêu cường”?

Sự độc lập của Việt Nam năm 1945

Những con số kỷ lục

Thuật ngữ “ngụy” là gì?

Sau năm 1973 thì sao, có phải là “nội chiến” không?

Ngụy Sài Gòn có phải là “đồng minh” của Mỹ?

IV. Tổng kết

————————————————————————————————–

Lâu nay thường tồn tại một số ngộ nhận, nhầm lẫn trong chúng ta về cuộc chiến Việt – Mỹ trước 1975, về bản chất của cuộc chiến đó, cũng như tính chính danh, chính nghĩa của các bên trong đó. Bản thân tôi hồi bé cũng từng tưởng rằng đây là cuộc “nội chiến giữa miền Nam và miền Bắc”, cách nghĩ đơn giản và ngây thơ của tôi lúc đó là “miền Bắc đem quân đánh miền Nam”.

Hồi trẻ tôi cũng từng cho rằng muốn đoàn kết dân tộc, hòa hợp dân tộc thì phải tránh nói về cuộc chiến chống Mỹ, hoặc phải nói theo những người có quan điểm sai lầm, để an ủi, vuốt ve, xoa dịu họ, để cho họ hài lòng, họ thích, mà họ “chịu” chấp nhận đoàn kết, hồi hương, đóng góp xây dựng quê hương, hay tối thiểu là không còn chống phá nữa.

Nhưng rồi càng lớn, càng trưởng thành, càng “già” đi và tìm hiểu thật kỹ lại qua nhiều tài liệu khác nhau của ta, “địch”, Tây, Tàu, trong và ngoài nước, Việt Nam và quốc tế. Trải nghiệm nhiều quan điểm khác nhau từ nhiều thành phần, phe phái, màu sắc khác nhau, người Việt Nam cũng có, người nước ngoài (nhất là người Mỹ) cũng có. Lắng nghe và đọc kỹ những ý kiến, chính kiến khác nhau từ nhiều phía, nhân vật, chiều hướng khác nhau, ngoài mạng, trên mạng; bao gồm diễn đàn, blogs, Wikipedia, tận dụng công cụ Google để tra cứu. Và bản thân cũng từng tham gia tranh luận trong rất nhiều diễn đàn về bản chất của những cuộc chiến trước 1975. Ban đầu tôi vẫn giữ quan niệm rằng đây là cuộc “nội chiến Bắc – Nam”, “Mỹ chỉ giúp VNCH thôi”, “Mỹ là đồng minh của VNCH cùng nhau chống Cộng sản”, “đây là cuộc chiến ý thức hệ”, “cuộc chiến giữa 2 phe XHCN và TBCN” v.v. sau một loạt tranh luận, dẫn links, dẫn chứng, trích dẫn các nguồn tin giữa các bên tranh luận. Tiếp cận, va chạm, cọ xát nhiều lập luận, lý lẽ, nhìn ra nhiều điều, biết thêm nhiều thông tin, chiêm nghiệm ra nhiều vấn đề thì dần dần tôi thay đổi quan điểm nghiêng về hướng chống xâm lược, chống thực dân mới.

Vài năm sau và tới giờ đây, quan điểm của tôi đã vững chắc và rõ ràng, và tôi đã hoàn toàn hiểu rằng đây là cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ nền độc lập, giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam.

Do xuất phát từ một quan niệm trái ngược, đã từng có quan điểm “nội chiến”, “ý thức hệ”, “Mỹ không có xâm lược” này, cũng như từng gặp gỡ, nói chuyện, chat, đồng tình / phản biện ngoài đời cũng như trên diễn đàn mạng với nhiều người có quan điểm đó, do đó tôi có cái nhìn rõ ràng hơn, thông cảm hơn, thoáng hơn vì sao họ nghĩ như vậy, vì sao họ tin như vậy, vì sao họ lầm tưởng như vậy, vì sao có kẻ cố ý tuyên truyền như vậy, và họ thường có những lập luận, lý lẽ gì. Những lý luận của họ tôi gần như thuộc lòng, vì đó chính là lý luận, quan niệm, quan điểm của tôi năm xưa.

Tôi thấy cần phải chia sẻ ra quan điểm về một cuộc chiến mà mình đã trăm ngàn lần đem ra mổ xẻ ngoài đời cũng như trực tuyến, trên bàn tiệc, trong phòng khách, trong phòng hội thảo, trên blogs, diễn đàn, websites v.v. Tôi tin rằng với thực tế là một người đã sống ở Mỹ từ lâu, đã từng có quan điểm như sự tuyên truyền của chính phủ Mỹ về cuộc chiến tại VN, đã lăn lộn với đề tài thảo luận / tranh luận này nhiều lần, tôi sẽ có cách truyền đạt khác với những cán bộ Tuyên giáo, khác với những giáo viên Việt Nam, khác với những đảng viên Cộng sản, khác với những người trong ngành an ninh và quân đội, khác với những hình thức truyền đạt mặc định chính thống ở trong nước, để cho độc giả ở đâu, chính kiến nào, đang có quan điểm nào cũng có thể dễ tiếp thu, dễ đọc hiểu và dễ tiếp nhận.

Tôi tin rằng nếu ai cũng có một nhận thức chung, một nhận thức cơ bản về tổng thể bản chất chiến tranh Việt – Mỹ, nhận thức lịch sử theo hướng trung thực, khách quan, và phù hợp với văn hóa chủ đạo của dân tộc, thì sẽ dễ dàng thuận lợi cho công cuộc kết đoàn, và cuộc chiến trước 1975 sẽ không còn là vướng mắc, vật cản cho nguyện vọng đại đoàn kết của toàn dân Việt Nam.

Ngay những trí thức Mỹ, những cựu binh Hoa Kỳ mà còn hiểu ra về cuộc Chiến tranh Việt Nam, và sau khi hiểu ra thì họ trở nên thân tình với đất nước Việt Nam, họ đến VN thường xuyên và có những đóng góp tích cực, thì không lý nào cũng là người Việt với nhau, cùng chung dòng máu với nhau mà lại cố bám giữ cái “Tôi”, mà không suy nghĩ lại. Hãy cùng nhau tạm cởi bỏ cái “Tôi”, cái bản ngã của chúng ta, cái tính hiếu thắng “chỉ có ta là đúng”, “ta không thể nào sai” của mỗi người chúng ta, hóa giải những cái cứng ngắt trong tinh thần, tâm lý, tư tưởng của chúng ta thành mềm dẻo thông thoáng, và cùng nhau suy ngẫm, chiêm nghiệm, xem xét lại lịch sử hiện đại Việt Nam.

I. Những vấn đề đầu tiên

Trước hết tôi xin trích dẫn nhiều ý kiến, quan điểm của những người không thuộc phía Việt Nam trong cuộc chiến, họ không phải là người Cộng sản, không phải người Việt Nam, không thuộc phe thắng trận, cũng không phải là Tuyên giáo, “loa phường”, sách giáo khoa hay gì cả, thậm chí có nhiều người trong số này lại thuộc phía Hoa Kỳ, ngụy quyền Sài Gòn, phía tư bản, nói chung là ở bên kia chiến tuyến, phía bại trận, trong đó có nhiều bại binh, bại tướng. Để xem những quan điểm này có phải chỉ là “Cộng sản tuyên truyền”, “Việt cộng tuyên truyền”, “Đảng tuyên truyền”, “quan điểm của 1 mình Việt Nam”, “quan điểm của kẻ chiến thắng” hay không.

Trong cuốn “The Vietnam War and American Culture”, vị tiến sĩ người Mỹ có uy tín cao trên thế giới là Noam Chomsky đã viết một bài dài về những cách nhìn của một số lãnh đạo Mỹ tự cho là công chính, thánh thiện (Visions of Righteousness).

Và sau đây là một đoạn về Việt Nam, trang 29:

“Mỹ đã tham gia sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chinh phục thuộc địa trước của Pháp, biết rõ rằng kẻ thù là một phong trào quốc gia của Việt Nam. Số người chết vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ dấn thân ngay lập tức vào việc phá hoại Hiệp Định Geneva, dựng lên một chế độ khủng bố ở miền Nam, một chế độ, cho đến năm 1961, đã giết tới 70,000 “Việt cộng”, làm nổi lên cuộc kháng chiến mà từ năm 1959 được sự ủng hộ của nửa nước miền Bắc tạm thời chia cắt bởi Hiệp Định Geneva năm 1954 mà Mỹ đã phá ngầm. Trong năm 1961-62, Tổng Thống Kennedy đã mở cuộc tấn công trực tiếp vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc bỏ bom đại quy mô và thuốc khai quang như là một phần của kế hoạch lùa cả triệu người dân vào những trại tập trung để họ có thể được “bảo vệ” bởi lính gác và dây kẽm gai trước những du kích quân mà Mỹ thú nhận là người dân sẵn sàng ủng hộ. Mỹ bảo rằng Mỹ “được mời” vào Nam Việt Nam, nhưng như tờ London Economist đã nhận thức chính xác: “Một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng, trừ khi được mời vào bởi một chính phủ hợp pháp”. Mỹ chưa bao giờ coi những chế độ tay sai mà Mỹ dựng lên là hợp pháp, và trong thực tế Mỹ thường thay thế những chính phủ đó khi những chính phủ đó không tỏ ra hồ hỡi đủ trước sự tấn công của Mỹ hay toan tính tìm một giải pháp trung lập mà mọi phía đều ủng hộ và bị coi như là nguy hại đối với những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.”

(The United States was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam. The death toll was about a half-million. When France withdrew, the United States dedicated itself at once to subserting the 1954 Geneva settlement, intalling in the South a terrorist regime that had killed perhaps 70,000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the Northern half of the country temporarily divided by the 1954 settlement that the United States had undermined. In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive million of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wired from the guerrillas whom, the United States conceded, they were willing supporting. The United States maintained that it was “invited in”, but as the London Economist accurately observed: “An invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.” The United States never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiasm for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the agressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam. In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Giáo sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc (Cựu sĩ quan QLVNCH, cựu giảng viên Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định, hiện đang sinh sống tại Grayslake, Illinois, Hoa Kỳ) :

“Nhìn cuộc chiến ở Việt Nam đơn giản chỉ là cuộc chiến giữa lý tưởng “tự do dân chủ” của “người Việt Quốc gia” đối với lý tưởng “độc tài sắt máu” của người Việt Cộng sản là không hiểu gì về cuộc chiến cả. Do đó kéo dài hận thù đối với Cộng sản là một hành động vô trí, bắt nguồn từ cái nhìn rất thiển cận của mình về cuộc chiến. Hiện nay chúng ta có rất nhiều tài liệu về cuộc Chiến tranh Việt Nam vừa qua, gồm cuộc chiến chống Pháp và cuộc chiến chống Mỹ, nhiều đến độ có lẽ không bao giờ chúng ta có thể biết hết và đọc hết. “Người Việt Quốc gia” thường cho Nam Việt Nam là “đồng minh” trước hết là của Pháp, rồi sau là của Mỹ, để chống Cộng cho họ. Nhưng sự thật khá đau lòng, trong cả hai cuộc chiến, “Nam Việt Nam” chỉ là tay sai, con cờ của Pháp và Mỹ. Pháp chưa bao giờ coi “thành phần quốc gia” là “đồng minh” của họ. Mỹ còn tệ hơn nữa vì là ông chủ chi tiền.”

“Đối với một thiểu số người Việt lưu vong, thì ngày 30/4/75 là ngày mà họ gọi là ngày “mất nước” làm như miền Nam là nước của riêng họ. Tuy rằng nước vẫn còn đó, và càng ngày càng phát triển, ngày nay đã vượt trội hẳn cái “nước” của họ khi xưa mà thực ra chỉ là cái “nước” nằm trong sự chi phối của những đồng đô la viện trợ và sự chỉ đạo của các quan Toàn Quyền như Nolting, Lodge, Martin.”

“Không phải là sau Hiệp định Genève về Đông Dương Mỹ mới can thiệp vào Việt Nam mà Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam từ trước đã lâu. Mỹ đã đồng lõa với thực dân Pháp trong mưu toan tái lập nền đô hộ của Pháp trên dân Việt Nam. Những người thực sự tin rằng Mỹ là “đồng minh” của Nam Việt Nam, muốn giúp dân Việt Nam để chống lại Cộng sản, để cho dân Việt Nam, hay ít ra là dân miền Nam, được tự do dân chủ, nên nhớ kỹ rằng chính Mỹ đã đài thọ hơn 80% chiến phí cho Pháp trong cuộc chiến tiền-Genève, từ 1945 đến 1954, để Pháp tái lập nền đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, đưa Việt Nam trở lại vòng nô lệ Pháp, trong khi Mỹ đã biết rõ chế độ thực dân Pháp đối với dân Việt Nam là như thế nào. Lịch sử Việt Nam sẽ lên án hành động đế quốc thực dân này. Nếu chúng ta coi Pháp là quân xâm lăng thì Mỹ cũng là kẻ xâm lăng không kém. Chỉ sau khi Pháp thất trận Mỹ mới đưa ra chiêu bài giúp Việt Nam, bảo vệ nền tự do (sic) của Nam Việt Nam trong khi, như chúng ta đã biết, theo Hiệp định Genève về Đông Dương, Nam Việt Nam không phải là một quốc gia độc lập mà chỉ là một vùng rút quân của Pháp và những lực lượng quân sự dưới quyền Pháp, trong đó có lực lượng “Quốc gia”, chờ ngày Tổng Tuyển Cử trên toàn thể đất nước vào năm 1956.”

“Ngày 30/4/1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể là họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam, một người Việt Nam không “Quốc gia” không Cộng sản, không Nam không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống xâm lăng của dân tộc. Khía cạnh tích cực nhất của ngày 30/4/75 là trên đất nước không còn cảnh bom đạn, cảnh đồng bào bắn giết nhau, và nhất là đất nước đã vắng bóng quân xâm lược.”

Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang (Giáo sư khoa Sử – địa ở miền Nam VN trước 1975, khoa Lịch sử Hoa Kỳ tại Sở Học Chánh Tacoma, bang Washington, Mỹ) :

“Thật tình mà nói, giới lãnh đạo quân sự và chính trị của hai chế độ đệ nhất và đệ nhị VNCH là một lũ tay sai của Pháp đào tạo để phục vụ cho thực dân Pháp cho nên trong máu họ mang tính tay sai lúc nào cũng nhìn trước ngó sau ông chủ có vừa lòng hay phật ý cho nên khi nắm quyền lãnh đạo ở Sàigòn nhưng mắt cứ để ý ở Washington, Paris, Rome. Trong số này cũng có nhưng rất hiếm người có lòng với quốc gia dân tộc thì lại bị tập đoàn Ngô Đình Diệm loại bỏ bằng nhiều hình thức. Trong quân đội và hành chánh có nhiều người trẻ được đào tạo sau khi thực dân Pháp cáo chung, họ có tài có tâm huyết song không phải là cấp chỉ đạo mà là những kẻ thừa hành thì làm được gì vì quyền cao chức trọng nằm trong tay đám tay sai của thực dân Pháp đào tạo quyết định. Đó là nguyên nhân thất bại của VNCH. Đó là sự thực lịch sử.”

Trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng hòa Foundation, Gs. Nguyễn Mạnh Quang đã ghi nhận:

“Mới đây, trong tập Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, do nhà xuất bản Văn Hóa ấn hành vào tháng 3/2004 (tr. 127-149), tác giả Chính Đạo đã chứng minh rõ ràng là chính phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm vi phạm Hiệp định Geneva 1954 với sự tiếp tay “vô điều kiện” của chính phủ Mỹ. Trên thực tế, Hiệp ước Geneva 1954 chỉ là hiệp ước đình chiến quân sự giữa hai phe Việt Minh và Pháp ký vào đêm 20 rạng ngày 21/7/1954; trong đó có điều khoản sẽ tổ chức tổng tuyển cử trong vòng hai năm để quyết định thể chế chính trị Việt Nam trong tương lai. Phe “Quốc gia Việt Nam” của Quốc trưởng Bảo Đại và Thủ tướng Ngô Đình Diệm không được quyền thảo luận và cũng không ký vào hiệp định này. Bởi thế, trong phiên họp khoáng đại cuối cùng của Hội Nghị Geneva vào ngày 21/7/1954, Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ (của chính quyền Bảo Đại) chỉ biết yêu cầu ghi vào biên bản rằng chính phủ “Quốc gia Việt Nam” cực lực phản kháng việc ký vào hiệp ước, và từ chối ký vào tuyên cáo chung. Sau đó, phe chính phủ “Quốc gia Việt Nam” chẳng những không nhìn nhận Hiệp Ước Geneva, mà còn công khai vi phạm điều khoản về việc tổng tuyển cử sẽ được tỏ chức vào tháng 7 năm 1956 với lý do là không ký vào Hiệp Ước Geneva, và cho rằng không thể có bầu cử tự do ở miền Bắc vĩ tuyến 17, rồi tự lập ra một “nước” chống Cộng. Như thế, sự khai sinh của “Việt Nam Cộng hòa” chỉ là thứ luật của kẻ mạnh. Các cường quốc trên thế giới ngán sợ sức mạnh của siêu cường Mỹ đành phải quay mặt làm ngơ. …” (Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng hòa Foundation (Houston, TX: Đa Minh, 1994), tr 26-27.)

Trong bài “Đặc tính nghịch thường của chính quyền ‘Quốc gia’ và lá cờ vàng ba sọc đỏ”:

“Tính cách nghịch thường của chính quyền Bảo Đại (1948-1955) cũng như chính quyền Ngô Đình Diệm và các chính quyền khác ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1955-1975 là ở chỗ những thành phần lãnh đạo, các viên chức cao cấp và nhân viên thừa hành trong các bộ, các nha, các sở cũng như trong quân đội và các tổ chức phụ thuộc của các chính quyền này đều do các thế lực ngoại bang nặn ra, nuôi dưỡng, trả lương và trang bị bằng đồng tiền của người ngoại bang, được bảo vệ bằng quân đội của người ngoại bang để thi hành những lệnh truyền của người ngoại bang với mục đích phục vụ cho quyền lợi của người ngoại bang.”

Tiến sĩ Hoàng Nguyên Nhuận, California, Mỹ:

“VNCH được tiếng là quốc gia “dân chủ tự do” nhưng lại cũng từng là căn cứ chứa hơn nửa triệu quân Mỹ! VNDCCH được tiếng là “nô lệ Nga-Hoa” nhưng lại không hề có một căn cứ quân sự nào của Nga-Hoa. Năm 1959, Ngô đình Diệm cảm thấy Miền Nam đã trở thành “nhất đái vạn đại” liền đem máy chém truy lùng “VC nằm vùng” và khai sinh Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nhưng ba mươi năm hận thù chém giết đã không kết thúc bằng những tòa án Nuremberg, Tokyo treo cổ hay tử hình khiếm diện những kẻ chiến bại, hay thả cửa chém giết như ở Rwanda, Yugoslavia…. Một số người không chịu thấy những điều đó. Cho nên ba mươi năm nay họ cứ ngồi nguyền rủa Việt Nam, xỉ vả dân tộc Việt Nam tồi hèn hủ lậu thoái hóa chỉ vì cái tội là sống dưới chế độ đã xua được quân ngoại nhập khỏi cõi bờ, chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước. Tủi nhục, hận thù, vô minh, vọng ngoại đã biến họ thành những con bọ hung, những con sài lang chỉ thích những gì thối tha lầy lụa. Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn gia Kiểng, Việt Nam Chính Sử của Nguyễn văn Chức hay những bài chính luận của Lâm Lễ Trinh, Tôn thất Thiện, Sơn Điền Nguyễn viết Khánh… là những ví dụ.” (Ts. Hoàng Nguyên Nhuận. “Để thay lời chúc Tết: Giã Từ Hoa Giáp Ất Dậu 1945-2005.” Chuyển Luân, Hoa Kỳ Ngày 30/1/2006.)

Trong một bài viết khá hay của ký giả có uy tín Wilfred Burchett: “Ho Chi Minh: An Appreciation”. Wilfred Burchett là một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại Trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Washington D.C. và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn sách có tính cách tiên đoán: “Việt Nam Sẽ Thắng” (Vietnam Will Win) và năm 1977 ông xuất bản cuốn “Châu Chấu Và Voi: Tại Sao Nam Việt Nam Sụp Đổ” (Grasshoppers and Elephants: Why South Vietnam Fell). Theo Ts. Trần Chung Ngọc, ký giả Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng chủ tịch Hồ Chí Minh, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên Bác Hồ: “Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên ông Hồ.” Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

“Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém (racial inferiors), không có quyền về căn cước quốc gia (have no right for national identity). Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (Pinkville) [có nghĩa là thành phố CS] và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á đông” (oriental human beings) thôi mà. [với ý coi thường, miệt thị]

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ (Reality is that the humblest Vietnamese peasant, even illiterate, is usually culturally and morally superior to his American adversary.). Hắn ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của hắn – không chỉ vì đất nước hắn có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người hắn từ sữa mẹ (literally absorbs it with his mother’s milk). Ngay từ bé, hắn sống lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền thuyết về các “thần hoàng làng”, [thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà Vua sắc phong], hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối v..v… Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Chỉ một điều này cũng là một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên trong cái “hồ tư duy” (think tank) [của Mỹ] không thể hiểu được (The knowledge of two thousand years’ struggle against invaders is in the bloodstream of the humblest, mud-stained peasant. This alone is an inexhaustible source of courage and stoicism; of confidence in the future and contempt for those who try to wreck the present-qualities incomprehensible to the “think tank” specialists.).

Ông Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm (Ho Chi Minh epitomizes all this. And just as there was something of every Vietnamese in Ho Chi Minh so there is something of Ho Chi Minh in almost every present-day Vietnamese, so strong is his imprint on the Vietnamese nation.).

Một vấn đề mà Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ý đến nhưng chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.) Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ. (No line arbitrarily drawn along the 17th parallel could divorce the people of the South from Ho Chi Minh because his capital happened to be on the northern side of the line. Ho Chi Minh was the accepted leader and source of inspiration for all Vietnamese – except the handful who served Japanese, French and American masters in turn.)”

Bài “Vietnam’s incomparable military leader” về vị thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp của VN của G. Dunkel viết tháng 9 năm 2008, đoạn kết trong bài của Dunkel như sau:

“Tuy nhiên, cuộc xâm lăng của Mỹ chống Việt Nam vẫn tiếp tục trong dạng thức những ảnh hưởng khủng khiếp, kéo dài, từ chất độc da cam, chất sát trùng khủng khiếp trải trên nhiều vùng rộng lớn ở Việt Nam bởi không quân Mỹ. Ngay cả sau ba thế hệ, 150,000 trẻ Việt Nam vẫn đau đớn bởi những dị dạng về thể chất và tinh thần gây nên bởi chất độc da cam. Cuộc tranh đấu của Việt Nam muôn năm! Đại Tướng Võ Nguyên Giáp muôn năm!”

(U.S. aggression against Vietnam, however, still continues in the form of lingering, terrible effects from Agent Orange, the herbicide spread over huge areas of south Vietnam by the U.S. Air Force. Even after three generations, 150,000 Vietnamese children suffer from physical and mental abnormalities caused by Agent Orange.
Long live Vietnam and its struggles! Long live Senior Gen. Vo Nguyen Giap!)

Tiến sĩ người Mỹ, cựu sĩ quan Bộ quốc phòng, Lầu Năm Góc Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, tr.255:

“Không làm gì có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp – Mỹ (1945-1954), sau đến toàn là Mỹ (1954-1975). Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.

Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến.

Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che giấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.

Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ.”

(There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.

In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American. In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of them but enough to persist – against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.

It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest. A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the nature of the local regime in its own interest – was not a civil war. To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as most American writers and even liberal critics of the war do to this day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as the earlier official one of “aggression from the North”. In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign aggression, American aggression.)

Tại sao Daniel Ellsberg lại có thể viết như vậy. Vì Ellsberg là viên chức trong chính quyền Mỹ, đã từng đọc được những tài liệu mật nhất của Mỹ và biết rõ nhất về thực chất cuộc chiến ở Việt Nam. Chính ông là người đã tiết lộ tài liệu Lầu Năm Góc. Và ông viết đoạn trên năm 2002 chứ không phải là trong thời kỳ chống chiến tranh xâm lược sôi nổi trên đất Mỹ. Nếu chúng ta đã đọc một số những sách viết về Chiến tranh Việt Nam, viết sau 1975, của các học giả và cựu quân nhân Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy rằng đa số đồng ý với Daniel Ellsberg về điểm này.

Sau đây là một tài liệu khác về bản chất của cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm. Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), John Carlos Rowe and Rick Berg đã trích lại lời của Ts. Noam Chomsky với vài chú thích, ghi nhận, và ý kiến riêng, trang 28-29:

“Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam. Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia cắt bởi Hiệp định Genève về Đông Dương mà Mỹ phá ngầm.

Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại tập trung, nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, dây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ.

Mỹ tuyên bố là đã được “mời đến”, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác: “Một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.” Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.”

(As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”.

It is worth recalling a few facts. The US was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam. The death toll was about half a million. When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined.

In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive millions of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly supporting. The US maintained that it was invited in, but as the London Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.” The US never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam. In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Giáo sư Mortimer T. Cohen đã châm biếm trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam , xuất bản năm 1979, trang 227 và 251, như sau:
“Nhưng Eisenhower nói rằng trong một cuộc bầu cử tự do, 80% dân chúng sẽ bầu cho Hồ Chí Minh thay vì Bảo Đại. Diệm có khá gì hơn Bảo Đại không? Làm sao mà khá hơn? Không một người nào ở Việt Nam có thể thắng Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng Tuyển Cử tự do. Ông ta là George Washington của nước Việt Nam. Giáo sư Brown gọi ông ta là một kẻ “phản bội”, nhưng trong 15 năm, từ 1954 đến khi ông ta chết vào tháng 9/1969, cái tên phản bội này sẽ thắng bất cứ ứng cử viên nào khác. Các ông không thể đánh bại một người có tên tuổi bằng một người không tên tuổi…

Nhiều sử gia lý luận như các luật sư – hay giáo sư đại học – nhấn mạnh là: Vì Việt Nam Cộng hòa không ký Hiệp định Genève về Đông Dương cho nên không có bổn phận phải hợp tác trong việc tổ chức bầu cử để thống nhất đất nước. Điều này giống như là một tên hiếp dâm bảo nạn nhân là cô ta đã làm hư hại xe của hắn. Chuyện làm hư hại xe chẳng liên hệ gì đến chuyện hiếp dâm. Lý do mà hắn hãm hiếp là vì hắn muốn làm tình. Lý do Diệm không muốn có cuộc Tổng Tuyển Cử là vì ông ta nghĩ rằng mình sẽ thua…”

(But Eisenhower knew then that 80 percent of the people in a free election would vote for Ho Chi Minh over Bao Dai. Would Diem do any better than Bao Dai? Why should he? No one in Vietnam could beat Ho Chi Minh in an open election. He was the George Washington of the nation. Professor Brown calls him a “traitor”, but for fifteen years, from 1954 to his death in September of 1969, this traitor would have easily won over any other candidate. You can’t beat somebody with nobody…

Several historians, arguing like lawyers – or professors – insist that because the Republic of Vietnam had not signed the Geneva Accord, it was not obligated to cooperate in holding elections for unification. It’s like a rapist telling the victim she damaged his car. This had nothing to do with it. The reason he does what he does is he wants to copulate. The reason Diem did not hold unification elections was that he thought he’d lose them…)

Trong giai đoạn đấu tranh giằng co với Việt Nam trong hội nghị Paris, khi “tổng thống” ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu van xin cho mình khỏi phải ký tên vào Hiệp định Paris về Việt Nam vì ông ta bảo rằng đây là hiệp định “bán đứng miền Nam cho Cộng sản”, thì có một lần Nixon đã nói với Kissinger:

“Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được.” Và sau đó Thiệu vẫn phải nhịn nhục ký vào Hiệp định Paris về Việt Nam và biết dù không ký thì ông ta vẫn sẽ bị gạt ra và hiệp định vẫn sẽ được thực thi như bình thường, thậm chí ông ta có thể bị gì đó, gương Ngô Đình Diệm sờ sờ trước mắt. Theo Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của ngụy quyền Sài Gòn, giáo sư đại học Harvard tại Mỹ trong cuốn “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” (The Palace File) xuất bản năm 1986 thì trong thời điểm đó Mỹ đã nhiều lần gởi thơ yêu cầu, bắt buộc, và đe dọa (thậm chí đe dọa tính mạng) Thiệu phải ký vào hiệp định.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cựu phụ tá Tổng tham mưu trưởng quân ngụy Sài Gòn, là một trong số 16 nhân vật lãnh đạo chức lớn nhất trong chế độ ngụy quyền còn ở lại khi Sài Gòn được giải phóng tháng 4/1975, trả lời phóng viên của đài BBC Việt ngữ:

“Pháp đã ở Việt Nam 100 năm. Pháp đi sau Hiệp định Genève thì Mỹ lại nhảy vô.

Tôi nói thật, trong tất cả các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị hất đổ ngay. Ở miền Nam này, đã xảy ra không biết bao nhiêu cuộc đảo chánh – mười mấy lần chứ có ít đâu.

Tụi tôi trong quân đội, học ở Mỹ, học tiếng Mỹ, đi thăm Mỹ… đủ hết. Rồi tụi tôi cũng có nhiều bạn Mỹ rất tốt bụng, nhưng với Mỹ thì tôi vẫn không có bằng lòng. Thậm chí lần đi thăm đại bản doanh Cục Tình báo Trung ương (CIA) bên đó, thấy sợ hơn là thấy thích.

Người Mỹ họ có đường lối của họ: đó là họ phải nắm chỉ huy ở miền Nam này. Họ chỉ huy trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế tới ngoại giao… Mỹ nắm hết. Rồi chính Mỹ đã bỏ miền Nam Việt Nam.”

Lý Tống, cựu phi công Không quân ngụy, từng ngồi tù Cộng sản nhiều lần, là một người chống Cộng cực đoan, khi trả lời phỏng vấn trong diễn đàn X-cafe đã thú nhận: “… Chẳng hạn như Việt Nam Cộng hoà trước đây, cũng vì lệ thuộc vào Mỹ nên cuối cùng nó cho chết lúc nào thì chết.”

Tác giả Micheal McLear trong quyển sách “Vietnam, the ten thousand day war”, NXB Thames Methuan, London, xuất bản năm 1982 đã ghi nhận một số câu nói của tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu:

“Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!”

“Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống Cộng.”

“Tôi chỉ là một tổng thống nghị gật.” (yes-man)

Cựu phó tổng thống ngụy quyền Nguyễn Cao Kỳ trả lời trong cuộc phỏng vấn Báo Thanh Niên số Xuân Ất Dậu năm 2005 đã thẳng thắn thừa nhận:

“Ông Mỹ lúc nào cũng đứng ra làm kép chính, chúng tôi không có quyền lực và vai trò gì quan trọng, vì vậy nhiều người cho đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê.”

Trích đoạn bài viết “Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam Năm 1975” của tác giả Trần Viết Đại Hưng, một cựu sĩ quan ngụy quân và đang hoạt động chống Cộng ở Lawndale, Mỹ:

“Trong thời Chiến tranh Việt Nam, báo chí Mỹ phanh phui là Thiệu cùng với đàn em là Trung tướng Đặng văn Quang, đã buôn bán Bạch phiến làm giàu. Thứ trùm ma túy như Thiệu thì làm gì mà có chuyện yêu nước thương dân. Gặp thời loạn lạc, làm cai thầu chống Cộng, Thiệu chỉ có một việc duy nhất là vơ vét cho đầy túi tham mà thôi. Đến khi quốc gia hưng vong thì lòi ngay ra bản chất ti tiện hèn nhát, đúng là ” có cháy nhà ” mới ” lòi mặt chuột ” Nguyễn văn Thiệu.

Phó tổng thống Nguyễn cao Kỳ cũng chẳng có gì khá hơn, trong cuốn hồi ký ” Việt Nam máu lửa quê hương tôi” , cựu thiếu tướng Đỗ Mậu đã chỉ ra rằng ông Kỳ và bà chị ruột là Nguyễn thị Lý đã buôn lậu thuốc phiện từ Lào về bán. Đúng là hai gương mặt cai thầu chống Cộng do Mỹ dựng lên là Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kỳ chẵng có tay nào sáng sủa, toàn là thứ buôn lậu ma túy. Phải đợi tới những ngày cuối tháng 4 năm 1975 mới thấy rõ tư cách hèn kém của hai tay này. Bỏ quân leo phi cơ mà chạy không một chút liêm sỉ và danh dự của người lãnh đạo.

Thiệu và Kỳ sẽ còn bám víu quyền lực nếu ngày nào còn viện trợ của Mỹ mà thôi. Công tâm mà nói, đúng ra vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Nguyễn cao Kỳ tính làm một cuộc đảo chánh chính phủ Dương văn Minh mới thành lập để đối đầu với Bắc quân. Dĩ nhiên là người Mỹ biết chuyện đó và trùm CIA ở Saigòn lúc đó là ông Polgar đã cảnh cáo Kỳ là không được lộn xộn, Kỳ nghe như thế thì riu ríu vâng lời vì đã nhiều năm làm việc với người Mỹ, Kỳ hiểu rằng nếu cứng đầu, bướng bỉnh cãi lại Mỹ thì chỉ mang họa vào thân. Trước đây khi ép buộc Tổng thống Thiệu ký Hiệp định Paris về Việt Nam vào tháng 1 năm 1973, Tổng thống Nixon cũng gửi nhiều bức thư cho Thiệu, cảnh cáo Thiệu là nên nghe lời Mỹ mà ký, chứ nếu không thì sẽ chịu số phận thê thảm của Tổng thống Diệm. Những lời hù dọa này đã có kết quả: Nguyễn văn Thiệu đồng ý ký vào Hiệp định Paris về Việt Nam dù bản thân Thiệu cũng biết đây là hiệp định bán đứng miền Nam cho Cộng sản. (Xin đọc kỹ cuốn sách Hồ sơ mật Dinh Độc Lập của tiến sĩ Nguyễn tiến Hưng để coi lại những bức thư mà Nixon viết cho Thiệu nhằm thuyết phục và hăm dọa Thiệu ký). Trùm Xịa Polgar không muốn Kỳ đảo chánh để đối đầu với Bắc quân vì làm như thế là cản trở chuyện giật sập VNCH của Mỹ thế thôi.”

“Việt Nam Cộng hòa chiến đấu chống Cộng sản trong suốt 21 năm ( 1954-1975) . Miền nam được sự bảo trợ kinh tế và quân sự của Mỹ, tiếc rằng Mỹ không đóng vai trò một đồng minh tin cẩn, nhiệt thành mà Mỹ là hiện thân của một ông chủ thô bạo, tiền hậu bất nhất để rồi mới đưa đến thảm kịch 30 tháng 4.

Mỹ thất bại với Việt Cộng là vì đánh giá quá thấp khả năng chiến đấu của Việt Cộng, đã không làm tròn vai trò đồng minh với Việt Nam Cộng hòa mà chỉ độc đoán điều hành sắp đặt mọi việc. Người lính Mỹ mắt xanh mũi lõ có mặt trên đất nước Việt Nam cũng không khác gì hình ảnh của lính Pháp viễn chinh ngày xưa. Thêm vào đó, Mỹ không muốn tìm một người lãnh đạo quốc gia có tư cách để cùng chống Cộng vì những người này đôi khi xung khắc với đường lối của Mỹ, cho nên Mỹ chỉ muốn tìm tay sai để sai bảo cho dễ và những tên tay sai thì thường mất tư cách, tham nhũng, làm suy yếu tiềm năng chống Cộng. Viện trợ của Mỹ trước đây đổ vô miền Nam như đổ vô cái thùng không đáy vì tệ nạn tham nhũng mà đứng đầu là vua tham nhũng Nguyễn Văn Thiệu. Thượng bất chánh thì hạ tắc loạn, toàn miền Nam trở thành những ổ tham nhũng khắp mọi ngành làm tiêu hao sinh lực trong công cuộc chống Cộng sản. Phó tổng thống Trần Văn Hương hồi đó cũng đã than thở về chuyện tham nhũng một cách cay đắng, ‘Diệt hết tham nhũng thì lấy ai ra mà làm việc?’”

Cựu phó thủ tướng ngụy Đỗ Mậu:

“Phó tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ và chị ruột là Nguyễn Thị Lý buôn lậu thuốc phiện từ Lào về bán, bị CIA Mỹ chụp hình được.”

Cựu sĩ quan ngụy Đặng Văn Nhâm:

“Tướng Trưởng và các đồng đội của tôi ai được chụp hình với lính Mỹ thì rất là hãnh diện, lên mặt.”

Cựu sĩ quan ngụy Trần Văn Đôn:

“Miền Nam không ra gì cả, rối rắm lắm. Hai ông Thiệu, Kỳ thì do Mỹ dựng lên.”

Tác giả James Stuart Olson trong quyển sách “Historical Dictionary of the 1970s”, xuất bản năm 1999, NXB Greenwood Press, tr. 350:

“Tuy nhiên, lực lượng hoạt động đằng sau Chiến tranh Việt Nam lại là một phong trào dân tộc mãnh liệt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, phong trào đã đánh bại Pháp trong trận Điện Biên Phủ năm 1954 và phá tan đế quốc Pháp ở Đông Dương. Người Việt đã chiến đấu 2000 năm chống ngoại xâm – trong đó có Trung Quốc, Nhật, và Pháp – và đa số người Việt coi người Mỹ đơn giản là sự hiện diện mới nhất của giặc ngoại xâm trên quốc gia của họ.”

(“The moving force behind the Vietnam War, however, was a fierce nationalism let by Ho Chi Minh, the man who had defeated the French at the Battle of Dienbienphu in 1954 and destroyed the French empire in Indochina. The Vietnamese had spent more than 2,000 years battling foreign interlopers in their country – including the Chinese, the Japanese, and the French – and most Vietnamese simply saw the Americans as the latest alien presense in their nation.”)

Tác giả Michael Bibby trong tư liệu “The Vietnam War and Postmodernity”, NXB Đại học Massachusetts, xuất bản năm 2000, tr. 202:

“Việt Nam là một cuộc chiến tranh du kích được thực hiện trong một phong trào giải phóng dân tộc với sự hỗ trợ của đa số các công dân Việt Nam…Do chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ tạo bởi các cuộc đấu tranh như vậy, khó có thể đánh bại được các phong trào này…”

(“Vietnam was a guerilla war carried out as a part of national liberation movement that had the support of the majority of its citizens…Because of the intense nationalism generated by such struggles, it is difficult to defeat these movements…”)

Trong tác phẩm “History Study Guides, The Vietnam War”, NXB Barnes & Noble:

“Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tại Việt Nam phần lớn là do quyết tâm của Việt Cộng và sự ủng hộ rộng rãi của người dân Nam Việt Nam đối với họ.”

(“The United States lost the war in Vietnam in large part due to the Viet Cong’s tenacity and its widespread popularity with the South Vietnamese.”)

Tác giả Frances FitzGerald trong quyển “Fire in the Lake – The Vietnamese and the Americans in Vietnam”, NXB Vintage Books, xuất bản năm 1972, tr. 549:

“Chiến thắng của họ [Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam]… là chiến thắng của dân tộc Việt Nam – người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố ủng hộ và phản bội.”

(“Their victory [NLF] would be…the victory of the Vietnamese people – northerners and southerners alike. Far from being a civil war, the struggle of NLF was an assertion of the principle of national unity that the Saigon government has endorsed and betrayed”)

Cựu thiếu tướng ngụy quân, phó thủ tướng ngụy quyền Đỗ Mậu:

“Người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là Linh-mục dòng Tên Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là Quốc Trưởng Bảo Đại, ông ta là con nuôi của Khâm-sứ người Pháp Jean Charles.” (Đỗ Mậu, “Tâm Thư” , Hòa Trân và Thân Hữu xuất bản, Houston, Mỹ, 1995)

Đó là những quan điểm khác nhau của nhiều tầng lớp, phe phái, chiến tuyến, màu sắc khác nhau, từ những cuốn sách, tài liệu khác nhau, từ nhiều thời điểm khác nhau. Có nguồn trong thời chiến, có nguồn sau thời chiến, có những nguồn nghiên cứu mới đây nhất v.v. cũng đều nói lên bản chất của cuộc kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. Ai là chính nghĩa, ai là phi nghĩa, ai là tự vệ, ai là xâm lược, ai là nạn nhân, ai là giặc, ai là ngụy, ai là bán nước v.v. chẳng liên quan gì tới chuyện kết quả thắng thua hay “lý lẽ của kẻ thắng”, “thắng làm vua, thua làm giặc”.

Không phải chỉ có người Cộng sản, người Việt Nam, người trong cuộc chiến nói vậy, mà những người ngoài cuộc chiến và những người chống Cộng, thuộc ngụy quyền cũ cũng có quan điểm tương tự. Như vậy là những người không chiến thắng, những người khách quan bên ngoài, và những người không liên quan tới Cộng sản, không liên quan tới Việt Nam, cũng có quan điểm như thế. Họ cũng không liên quan gì tới Ban tuyên giáo hay ban biên tập sách giáo khoa hay các nhà sử học, các viện sử học tại Việt Nam.

Vấn đề đại đoàn kết dân tộc

Sự hiểu biết, đả thông tư tưởng sẽ thắt chặt tình đoàn kết. Sự tránh né, không dám nói, sẽ làm cho người ta vẫn khăng khăng giữ quan điểm méo mó về cuộc chiến chống ngoại xâm của dân tộc, và sẽ không bao giờ có đoàn kết dân tộc.

Ai cũng biết mối hiểm họa, nguy cơ tiềm tàng trực tiếp nhất và khá nguy hiểm của dân tộc ta hiện nay chính là bọn bành trướng Trung Quốc. Nhất là với tình hình thực tế ngày nay họ đang có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam, và công khai lên tiếng tuyên bố chủ quyền của VN. Vì vậy quốc gia số 1 phải đề phòng ngày nay chính là Trung Quốc.

Mỹ đã thua đau, thua nặng, thảm bại và bây giờ chỉ còn dám ngồi bên kia bờ đại dương chửi bới, xuyên tạc, vu khống cáo buộc việc này việc kia chứ không còn xâm lược Việt Nam như trước 1975 nữa. Ta và họ không còn xung đột hay mâu thuẫn nào về lãnh thổ. Họ và ta hiện nay chỉ có khác biệt về chính kiến quan điểm chính trị và một số lợi ích khác. Còn Trung Quốc thì là có xung đột và mâu thuẫn trực tiếp về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải. Do đó, TQ đích thực là cái gai trong mắt của ta và phải đề phòng cảnh giác cao nhất, ưu tiên đặt vào tầm ngắm nhất.

Vì vậy hòa hợp dân tộc, đại đoàn kết toàn dân tộc (đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được thể hiện rõ qua nghị quyết 36 của Bộ Ngoại giao), đặc biệt việc hòa giải dân tộc với những người đã từng cầm súng theo giặc, đã từng ở phía bên kia chiến tuyến bại trận của Pháp – Mỹ, là một vấn đề quan trọng. Đối với giặc Pháp, Mỹ thì chúng ta còn bỏ qua được thì không có lý nào người Việt với nhau mà lại không thể bỏ qua, ôm mãi hận thù thì làm sao mà vui sống.

Tuy nhiên, không thể “hòa hợp hòa giải dân tộc” bằng cách xuyên tạc lịch sử, viết lại lịch sử, bóp méo lịch sử hầu làm hài lòng những người mà mình cần đoàn kết, hòa giải. Tương tự, dù ta hòa giải, khép lại quá khứ hướng về tương lai với Pháp – Mỹ thì quan điểm của ta vẫn nhất quán: Cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ là cuộc chiến mà dân tộc Việt Nam tự vệ chống lại sự xâm lăng của Pháp – Mỹ để giành trọn vẹn độc lập và thống nhất non sông. Cuộc trường chinh giải phóng dân tộc hơn 30 năm là mốc son sáng chói nhất, là 2 cuộc kháng chiến oanh liệt, vẻ vang và đáng tự hào nhất trong lịch sử dân tộc. Có tầm vóc quốc tế và tầm vóc lịch sử lớn nhất. Tác động đến cục diện thế giới lớn nhất.

Dù Việt Nam hòa giải với Trung Quốc, “16 chữ vàng”, “4 tốt” này kia thì quan điểm lịch sử của VN vẫn nhất quán: 1000 năm Bắc thuộc, 10 năm bị giặc Minh đô hộ, và 1 tháng xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Quang Trung là anh hùng. Lê Chiêu Thống, Hoàng Văn Hoan là Việt gian, phản quốc, bán nước. Dù quan hệ Việt – Trung có “hòa giải hòa hợp” đến thế nào, hay dù VN khi đàm phán bình thường hóa quan hệ đã cùng Trung Quốc ký vào hiệp nghị “không tuyên truyền chống nhau” thì sách giáo khoa lịch sử trung học, lớp 12 của Việt Nam ngày nay vẫn ghi rõ: Trung Quốc đã xâm lấn biên giới phía Bắc, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh lùi quân Trung Quốc và thành công bảo vệ biên giới phía Bắc. Bất kể Trung Quốc có quan điểm xuyên tạc thế nào.

Dù Việt Nam đã bỏ qua cho những tội ác của Khmer Đỏ, ít nhắc lại, khép lại, vị tha, nhưng lịch sử VN vẫn nhất quán: Khmer Đỏ đã xâm lược, quấy phá, giết chóc, tàn sát, đốt nhà, gây kinh hoàng khắp các làng mạc của người Việt nơi biên giới Tây Nam, gây ra cuộc thảm sát Ba Chúc. Phân biệt chủng tộc, kỳ thị người Việt, và giết hại Việt kiều ở Campuchia. Diệt chủng người dân bao gồm cả người Việt và người Miên ở Campuchia. Âm mưu thông đồng với Trung Quốc dồn VN vào thế gọng kìm, đe dọa an ninh quốc phòng của VN từ cả phía Nam, phía Bắc. Trung Quốc đã viện trợ, cố vấn, đỡ đầu, chỉ đạo cho đàn em Khmer Đỏ xâm lấn và tàn phá biên giới Tây Nam của Việt Nam, đánh sâu vào trong lãnh thổ VN. Pol Pot ngang ngược tuyên bố chủ quyền lên trên Thành phố Hồ Chí Minh và đảo Phú Quốc của Việt Nam. Bất kể Trung Quốc, Hoa Kỳ, tàn dư Khmer Đỏ, hay ai trên thế giới này có quan điểm lệch lạc ra sao.

Không thể “đại đoàn kết dân tộc” bằng cách giải thích lại lịch sử theo cảm tính của mình, theo ý thích của mình. Việc cố tình xuyên tạc hoặc ngộ nhận méo mó lịch sử của một số người chỉ đào sâu thêm hố ngăn cách. Vấn đề đại đoàn kết toàn dân cần phải bắt đầu từ sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn, chính xác về lịch sử theo quan điểm của dân tộc, lợi ích của dân tộc, dựa trên nền tảng truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam, và sự khách quan chính trực, trung thực đúng đắn, hợp lý hợp tình.

Chứ không thể chỉ vì muốn lật đổ nhà nước Việt Nam, giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam mà cố ý tuyên truyền xuyên tạc chỉ để tước bỏ đi một công lao của Đảng, làm mất đi một sự chính danh, chính nghĩa, chính thống, một tư cách lãnh đạo của Đảng.

Cũng không thể chỉ vì mặc cảm trước những quá khứ xa xưa, sợ mang tiếng, sợ chê cười, mà tự lừa dối bản thân và dạy sai con cháu mình cho khỏi mất mặt.

Con cháu chúng ta sẽ chê cười và xem thường chúng ta khi chúng lớn lên tìm hiểu kỹ lại qua các sách vở tài liệu và thấy chúng ta dối trá với chúng, dạy sai chúng chỉ vì cái “Tôi”, chỉ vì mặt mũi, danh dự ảo, danh vọng hão không có thật của chúng ta.

Chúng sẽ càng tôn trọng chúng ta khi chúng ta thẳng thắn dạy thật cho chúng lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, chúng trưởng thành sẽ hiểu hoàn cảnh, thời cuộc, thời thế lúc ấy nó như vậy thì có thể thông cảm, và sẽ càng cảm phục, tôn trọng chúng ta có dũng khí, có can đảm dám chấp nhận sự thật, dám vượt qua quá khứ, và chiến thắng chính mình để nói ra sự thật, nói ra lẽ phải. Không giả dối, không bóp méo, không bao biện, có sao nói vậy.

Trước 1975, trong hàng ngũ người Việt đi lính cho Pháp + Mỹ, phục vụ cho Pháp + Mỹ không phải ai cũng thật tâm bán nước. Đa số họ bị bắt lính. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi bị Mỹ bắt lính đã phải trốn lánh khắp nơi, nếu không nhờ đại tá Lưu Kim Cương, bạn thân của ông che chở thì Trịnh Công Sơn có lẽ cũng đã trở thành 1 lính ngụy rồi. Tình hình thực tế lúc đó phải công tâm nhìn nhận rằng có nhiều trường hợp hoàn cảnh, thời cuộc đã đẩy nhiều người đi lính cho giặc. Huống hồ Mỹ liên tục bắt lính và có cả một hệ thống cưỡng bách quân dịch quy mô và nghiêm khắc, do đó có nhiều trường hợp thanh niên miền Nam không có sự tự do lựa chọn, nếu họ không ra bưng kháng chiến thì phải đi lính cho giặc.

Ngoài hệ thống cưỡng bách quân dịch, Pháp – Mỹ còn có một bộ máy truyền thông, sách báo, giáo dục, đội ngũ tâm lý chiến, ca nhạc tâm lý chiến, phát thanh, truyền hình, quân trường hùng hậu, to lớn để mặc tình tẩy não và nhồi sọ. Và một hệ thống “từ thiện”, “nhân đạo”, tiếp tế thực phẩm, thức uống, quần áo, đồ ấm, thuốc men, chích ngừa, y tế v.v. để mị dân và xoa dịu phần nào sự phẫn nộ, căm ghét của sinh viên, quần chúng. Và một hệ thống lương bổng, tiền thưởng hấp dẫn, kích thích, cần thiết cho nhu cầu của người nghèo.

Ngoài những người bị bắt lính, trốn lính – đào ngũ bất thành, vì hoàn cảnh, vì tình thế, bị lợi dụng, hoặc bị đưa vào cái thế phải đi lính ngụy, phải lo đút lót, chạy chọt để được làm “lính kiểng” không phải ra trận, thì một thiểu số khác vì kém nhận thức, không có trình độ chính trị vững vàng nên bị Pháp, Mỹ nhồi sọ chống Việt Minh, chồng Hồ Chí Minh, chống Việt Cộng, chống Cộng sản. Phá hoại tư tưởng, đầu độc, tẩy não làm biến dạng nhận thức của họ.

Trong hàng ngũ quân ngụy không phải ai cũng là xấu, không phải ai cũng muốn bán nước, phản quốc, không phải ai cũng chiến đấu vì đồng lương của giặc ngoại xâm. Có rất nhiều người rất mơ hồ về việc Pháp, Mỹ xâm lược Việt Nam, họ chỉ cho rằng Pháp, Mỹ đem quân vào VN là để chống Cộng, chống Hồ Chí Minh, chống Việt Minh, Việt Cộng thôi chứ “không phải là xâm lược”.

Có thể do kém chính trị, nhận thức kém, không đủ yêu nước, yêu bản thân hơn yêu đất nước, yêu cái “Tôi” hơn yêu Tổ quốc, hoặc do bị tẩy não và nhồi sọ trong trường học, trong gia đình, qua truyền thông sách báo, và nhất là các quân trường năm này qua tháng nọ, nên họ hoàn toàn không ý thức được là mình đang cầm súng chiến đấu cho giặc ngoại xâm, không hiểu là bản thân đang bị chính phủ hiếu chiến Pháp – Mỹ sử dụng như những bia thịt đỡ đạn cho lính Pháp, lính Mỹ đỡ thương vong.

Họ chiến đấu mà cứ nghĩ mình đang chiến đấu cho “tiền đồn tự do”, CS chúng “ác” lắm nên ta phải tiêu diệt chúng, “miền Bắc xâm lăng và cưỡng chiếm miền Nam”, địch đánh ta nên ta phải đánh lại, đi lính vì quá nghèo, vì sinh kế, vào quân ngũ để thỏa chí tang bồng hồ hải v.v. Chứ họ không nghĩ rằng mình bán nước, phản quốc hay gì cả.

Tôi tôn trọng rất nhiều người Việt trong hàng ngũ Pháp, Mỹ trước 1975. Ví dụ như tướng Dương Văn Minh đã biết thức thời và đầu hàng, sau này ông cũng không còn hoạt động chống đối nữa. Cựu Phó tổng thống ngụy Nguyễn Cao Kỳ cũng đã thức thời và về lại hàng ngũ dân tộc. Trong những nhân sĩ, trí thức ở hải ngoại hiện nay có các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, Trần Văn Thông, Đinh Viết Tứ, Phạm Minh Chánh, Phùng Tuệ Châu v.v. đều là những người ủng hộ chính quyền CHXHCN Việt Nam, đặc điểm chung của họ là: Đều từng phục vụ trong hàng ngũ Hoa Kỳ.

Do đó tôi có thể tôn trọng nhiều cá nhân trong “Quốc gia Việt Nam”, “Việt Nam Cộng hòa”, kể cả những cá nhân vì lý do nào đó mà đã và vẫn đang “tôn kính” lá cờ vàng, cờ Pháp, cờ Mỹ. Nhưng tôi không thể tôn trọng ngụy quyền này hay lá cờ ngụy của họ. Đơn giản vì nó chỉ là một ngụy quyền và mãi mãi chỉ là một ngụy quyền không hơn không kém, và lá cờ này là biểu tượng chính thức của ngụy quyền đó, quân đội đó.

Ngụy quyền, ngụy quân này do giặc xây dựng và nuôi dưỡng, theo giặc, chống lại lợi ích quốc gia, chống lại nỗ lực độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà, đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Trong đó có một bộ phận còn hùa theo chủ Pháp, chủ Mỹ gây ra rất nhiều tội ác chiến tranh, trong đó có nhiều tội ác mang tính diệt chủng, chống nhân loại, cực kỳ tàn bạo man rợ như thời trung cổ. Lá cờ ngụy này lại là biểu trưng cho tất cả những cái ám ảnh, quá khứ tội lỗi đó.

Trong thời chống Pháp và chống Mỹ thì Bác Hồ đều đã viết ra nhiều bài với lời lẽ tha thiết, chân thành kêu gọi lính ngụy quay trở về với kháng chiến, với cách mạng. Trong thời Mỹ thì Mặt trận cũng đã từng khuyên nhủ, cảm hóa được rất nhiều lính ngụy, trong nhiều trận có nhiều lính ngụy do bị đối xử bất công, bị quân cảnh Mỹ đánh đập sỉ nhục đau đớn nên họ phẫn uất, dồn nén nhiều năm đến lúc bùng phát, đã trở súng bắn vào sĩ quan Mỹ, “cố vấn” Mỹ, trợ giúp cho du kích, và sau đó ra chiến khu theo Cộng sản.

Khối đại đoàn kết dân tộc vẫn đang tốt đẹp, tình hình đang rất tích cực, kiều hối mỗi năm đều tăng, Việt kiều về nước ngày càng đông hơn xưa, khoảng cách giữa trong và ngoài nước ngày càng gần nhau hơn. Những người còn chưa nhìn ra thì một ngày nào đó họ cũng sẽ nhìn ra, nếu họ có lòng yêu nước thật sự. Tuy nhiên, đối với những thành phần cực đoan, bảo thủ, cứng ngắt, vẫn trơ trơ như bức tường, khúc gỗ, cố ý không chịu hiểu ra vấn đề, không nhận thức ra được vấn đề, thì không cần quan tâm đến họ, họ chỉ là một thiểu số rất nhỏ mà dân tộc nào hay thời đại nào cũng vẫn sẽ tồn tại. Lịch sử sẽ gạt họ qua một bên.

Cuộc chiến chống Mỹ là một cuộc chiến vệ quốc oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc, và nó đã, đang, và sẽ là động lực để khích lệ, động viên cho toàn quân, toàn dân, toàn Đảng Việt Nam đối phó với hiểm họa Trung Quốc, đấu tranh vì chủ quyền biển đảo trên Biển Đông và Hoàng Sa – Trường Sa, và chống Tàu trong tương lai (nếu TQ dám xâm lược VN).

Chiến công chống Mỹ là một động lực lớn của đất nước và dân tộc. Nó đã, đang và sẽ khích lệ, động viên, cổ vũ dân tộc ta xây dựng đất nước và vượt qua những khó khăn phía trước. Nó cũng là động lực cho những chiến sĩ hải quân ngoài biển khơi, ngoài đảo xa ngày đêm gìn giữ biển đảo quê hương, cũng như những chiến sĩ biên phòng ngày đêm bảo vệ từng tất đất biên cương của Tổ quốc, trong những môi trường khó khăn, khắc nghiệt, thiếu tiện nghi.

Trong thời chống Mỹ có những tấm gương lớn, cảm động, những hy sinh anh dũng, xúc động, hình thành một tấm gương có tác dụng “truyền lửa”, và góp phần giúp cho cái tốt được tồn tại. Để những lãnh đạo, đảng viên, cán bộ đang chông chênh, có nguy cơ tha hóa, biến chất lấy đó răn mình, giữ gìn phẩm chất cộng sản và đạo đức cách mạng. Để những người đang suy thoái tư tưởng chính trị, đang tự diễn biến, lấy đó để giữ vững niềm tin vào con đường mà Bác Hồ đã vạch ra cho dân tộc, vào lý tưởng của Đảng, vào tương lai tươi sáng của nước nhà.

Nó là niềm tự hào dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, kích thích bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, thanh niên trên con đường dấn thân xây dựng Tổ quốc, trong sự nghiệp Đổi mới, dân chủ hóa, pháp quyền hóa đất nước. Nó còn là sợi dây gắn kết với những Việt kiều yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, con Rồng cháu Tiên, tinh thần chống ngoại xâm truyền thống của dân tộc.

Tôi ở Mỹ và đã gặp gỡ và nói chuyện với không ít người Việt và người Mỹ. Không ít người Việt đã có lòng tự hào vì VN thắng Mỹ và ngay cả nhiều người Mỹ, nhiều cựu binh (Vietnam veterans) cũng bày tỏ lòng khâm phục Việt Nam, quốc gia đầu tiên và duy nhất trên thế giới “ban” cho nước Mỹ một chiến bại chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ.

Tấm gương Dương Văn Minh

Dương Văn Minh là một tướng lĩnh đã từng phục vụ dưới quyền của Pháp lẫn Mỹ, nhưng sau đó được em trai mình là đại tá QĐNDVN Dương Thanh Nhựt, bí danh Mười Ty “ngụy vận” và cảm hóa được ngay từ đầu. Trong lúc Mỹ muốn thay ngựa giữa dòng, lật Diệm, còn Mặt trận thì cũng muốn diệt Diệm vì gia đình này độc tài, tàn bạo quá mức, không ai chịu nổi. Thế là ta cũng tương kế tựu kế và “thuận nước đẩy thuyền”, ủng hộ Dương Văn Minh làm theo ý Mỹ. Dương Văn Minh cũng không từ chối đảo chính Diệm vì ông ta có tinh thần dân tộc và còn là một Phật tử sùng đạo, mắt thấy gia đình Diệm đàn áp đạo Phật dã man và “Đảng Cần Lao” lộng hành, tàn ác, xã hội không có tự do tôn giáo, thì đương nhiên là muốn lật Diệm.

Sau khi lật Diệm, Mỹ mới nhận ra là họ không thể dùng được Dương Văn Minh, không tin dùng nữa và ông bị cho ngồi chơi xơi nước. Mỹ làm cuộc chỉnh lý (đảo chính nhẹ), đưa “tướng râu dê” Nguyễn Khánh lên, Nguyễn Khánh sau khi lên thì độc tài gần như Diệm, bị chống quyết liệt, nhất là sau khi hiến chương Vũng Tàu ra đời, thanh niên và sinh viên miền Nam rầm rộ biểu tình chống Mỹ-ngụy. Mỹ không yên tâm nên quyết định đưa Thiệu-Kỳ lên, và liên danh này là 2 nhân tuyển cuối cùng của Mỹ mà họ hài lòng và an tâm nhất sau khi chọn lựa và thử nghiệm một loạt các tay sai khác nhau.

Mặt trận, thông qua người nhà của tướng Minh, đã “ngụy vận” và cảm hóa được ông. Từ chỗ còn mơ hồ về việc miền Nam bị Mỹ xâm lược và cho rằng Mỹ có giúp xã hội miền Nam, như các hành động tâm lý chiến mị dân xây nhà, sửa sang đường xá, phát đồ chơi cho trẻ em, xây trường học (cũng là để nhồi sọ), xây bệnh viện (cũng để chữa trị cho lính Mỹ, người Mỹ), chích ngừa miễn phí, khám bệnh miễn phí, bố thí thực phẩm cho dân nghèo, làm “từ thiện”, “nhân đạo” v.v. thì ông ta cũng nhận thức được bản chất của cuộc chiến, ông ta là một nhà chính trị trong cuộc, tuy đã bị “lập trình”, nhồi nhét lâu ngày dưới những mái trường và quân trường của Pháp – Mỹ nhưng nghe người của Mặt trận giải thích, phân tích thì ông ta cũng dần nhìn ra vấn đề, nhìn nhận đúng sự việc.

Ông thấy người Mỹ gây tội ác, ông thấy chính quyền của mình rõ ràng là một bọn bù nhìn, dưới quyền Mỹ, và không có quyền hành gì thật sự, không có quyền quyết định cuối cùng. Từ đó ông ta ý thức ra được đây đúng là một chính quyền bù nhìn của Mỹ và chính quyền Mỹ đang xâm lược Việt Nam, xã hội miền Nam là một xã hội thực dân kiểu mới. Tuy nhiên, ông ta còn trách nhiệm với gia đình, cho nên không thể một sớm một chiều mà ly khai ngay lập tức hay theo về với cách mạng được. Mặt trận biết vậy và còn khuyến khích ông ta ở lại, đối với Mặt trận thì một sĩ quan cao cấp, có chức vụ cao, “thân tại Tào, tâm tại Hán” ở trong hàng ngũ giặc thì có lợi cho cách mạng hơn. Năm 1975, Mặt trận đã dùng “con bài bí mật” này tuyên bố đầu hàng vô điều kiện làm Hoa Kỳ không phản ứng kịp và Trung Quốc cũng không kịp đục nước béo cò.

Các ngụy triều, ngụy quyền trong lịch sử phong kiến

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, ngụy triều đầu tiên có lẽ là triều đình của Kiều Công Tiễn, hắn là tướng của Dương Đình Nghệ, làm phản, chém đầu chủ rồi tuyên bố xin quy phục Nam Hán. Quân Nam Hán qua xâm lược nước ta trên danh nghĩa “giúp đỡ”, “bảo vệ” Kiều Công Tiễn, kết quả là bị Ngô Quyền tiêu diệt hoàn toàn trong trận thủy chiến Bạch Đằng lần thứ nhất.

Kế đến phải nói tới ngụy triều Lê Chiêu Thống, đây là một ngụy triều có hàng trăm danh thần tướng lĩnh phò tá như Nguyễn Quốc Đống, Tham tri chính sự Lê Duy Đản, Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án, Nguyễn Huy Túc, Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, tụng thần Lê Quýnh, tướng Hoàng Phùng Tứ, thổ hào Trần Quang Châu v.v. cùng với gần 5 vạn quân.

Đời sau thường nhắc đến chiến công đánh giặc Thanh và chiến thắng Kỷ Dậu oanh liệt của Quang Trung hoàng đế mà ít ai nhắc tới khi tiến quân ra Bắc diệt Thanh thì quân Tây Sơn phải chiến đấu trước với mấy vạn quân ngụy Lê. Chỉ sau khi đánh tan tác và vượt qua quân Lê rồi thì quân Tây Sơn mới có thể tiến lên diệt giặc Thanh.

Hoàng đế Quang Trung thân chinh đốc chiến, sau khi quân Tây Sơn tiêu diệt đồn Gián Khẩu, đồn Nguyệt Quyết, đồn Nhật Tảo của ngụy quân Lê Chiêu Thống và các thổ hào, thổ phỉ người Việt tay sai của Mãn Thanh thì mới tiến lên san bằng đồn Hà Hồi, sau đó thừa thắng xông lên đánh tan đồn chiến lược Ngọc Hồi của địch và đưa đến chiến thắng Đống Đa lịch sử, đánh cho quân xâm lược Mãn Thanh tan hàng rã ngũ, đuổi Tôn Sĩ Nghị vắt giò lên cổ chạy về nước. Thăng Long hoàn toàn được giải phóng, coi như thống nhất Nam Hà và Bắc Hà, tạm thời thống nhất đất nước (Nguyễn Ánh khi đó vẫn đang trốn lánh ở ngoài hải đảo).

Các ngụy triều, ngụy quyền sau này của Pháp như ngụy triều Hiệp Hòa (bị anh hùng chống Pháp Tôn Thất Thuyết lật đổ, truất phế và lập nên triều đình Hàm Nghi), ngụy triều Khải Định, ngụy triều Đồng Khánh, ngụy triều/ngụy quyền Bảo Đại, ngụy quyền Trần Trọng Kim (do Nhật dựng lên, ngụy quyền này không có quân đội, tài chính, quốc hội, hoàn toàn trống rỗng và nằm dưới sự “bảo hộ” của quân đội Nhật), ngụy quyền Ngô Đình Diệm, ngụy quyền Nguyễn Khánh, ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu, ngụy quyền Trần Văn Hương, ngụy quyền Dương Văn Minh v.v. đều là những ngụy quyền rõ nét.

Những ngụy quyền gần đây nhất đều có danh xưng chung là “VNCH”. Ngụy quyền VNCH gần đây nhất, được Mỹ xây dựng hoành tráng nhất, hào nhoáng nhất, mạnh nhất, được lăng xê nhiều nhất. Nhưng cho dù bơm lên cỡ nào, nâng lên đến thế nào, hay diễn giải kiểu gì, ngụy biện kiểu gì thì vẫn không che giấu được bản chất bù nhìn của họ. Họ mạnh nhất so với các ngụy quyền khác trong lịch sử không có nghĩa họ không phải là một ngụy quyền.

“Ngụy triều” hay “ngụy quyền” là các tổ chức, hệ thống, chế độ, bộ máy chính trị do giặc ngoại xâm lập ra để làm con rối bù nhìn và gọi đó là một chính quyền (hay triều đình) độc lập. “Ngụy” nghĩa là “giả”.

Trong thế kỷ 21, với công nghệ nhồi sọ cao cấp, hiện đại của Mỹ, hệ thống truyền thông tuyên truyền tinh vi, tối tân của Mỹ tuy có làm sai lệch nhận thức lịch sử của một số người về vấn đề này, để phục vụ cho cuộc chiến của họ. Nhưng nó không thể lừa gạt được đại khối dân tộc Việt Nam, bởi dân tộc ta là một dân tộc thông minh, có truyền thống am hiểu và nhận thức sâu sắc về thời cuộc, chính trị, qua nhiều kinh nghiệm, trải nghiệm, vốn sống tích lũy sau hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Những thủ đoạn, chiêu bài chính trị của giặc ngoại xâm không xa lạ gì với tổ tiên Việt Nam và không thể che mắt được dân tộc ta và con cháu đời sau của chúng ta. Dân tộc ta đã trải nghiệm những chiêu bài, thủ đoạn chính trị ấy hàng nghìn năm nay.

Bản chất các ngụy quân – ngụy quyền và khái niệm “bán nước” trong lịch sử

Về bản chất của quân đội ngụy và ngụy quyền tay sai thì Bác Hồ đã nhiều lần đề cập trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng những câu như: “Chúng dựng lên ngụy quân, ngụy quyền dùng làm công cụ phản quốc hại dân.”, “Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước.” v.v.

Lưu ý rằng Bác Hồ không nói những người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là những kẻ phản nước, hại dân, mà Bác nhận định họ đã bị Pháp, Mỹ sử dụng làm công cụ phản nước hại dân. Như vậy, những người tốt nhưng yếu, kém, không có thực lực, bị thời thế đẩy đưa thì vẫn có thể bị giặc lợi dụng làm công cụ hại dân, phản nước. Như vậy việc những cá nhân lính ngụy, sĩ quan ngụy tốt hay xấu, bản thân có yêu nước hay không, là việc không liên quan.

Bác Hồ nổi tiếng về khả năng có thể nói rất lâu mà không nói vấp hay nói hớ 1 chữ, nhận thức sự việc tuyệt đối chính xác, và câu “làm công cụ hại dân phản nước” của Bác cho thấy cách dùng từ của Người rất tỉ mỉ và cực kỳ chính xác.

Bác Hồ nhận định về ngụy quyền – ngụy quân như thế cũng không phải là Bác ghét bỏ, thù hận gì họ, trái lại Bác Hồ vẫn xem họ là đồng bào bình thường, chỉ vì tình thế bắt buộc, bị bắt lính, gia cảnh cơ hàn, cuộc sống khó khăn, hoặc bị giặc tẩy não, nhồi sọ v.v. thì mới đi lính cho giặc.

Trong quá khứ, Bác đã viết rất nhiều lá thơ, chuyển vào Nam và giao cho các tổ chức binh vận, ngụy vận, tìm cách đưa những lá thơ này đến tay đồng bào lính ngụy trong vùng tạm chiếm: “Thư gửi các ngụy binh” (thập niên 50), “Vận động ngụy binh” (thập niên 50), “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc” (thập niên 50), “Ngụy binh giác ngộ” (thập niên 60) v.v. Đảng cũng nhiều lần ra Nghị quyết và có nhiều văn kiện yêu cầu đẩy mạnh công tác “ngụy vận”. Xem công tác ngụy vận là một phần của công tác dân vận, chứ không xem là địch, công tác ngụy vận là một phần của công tác binh vận, nhưng lại có khác biệt với công tác địch vận (nhắm vào người Pháp và người Mỹ).

Trong lịch sử thật ra chẳng có ai thật sự muốn bán nước, không có ai nghĩ rằng mình bán nước. Xưa nay chưa hề có một hợp đồng nào kiểu tôi giao cả quốc gia cho anh, anh trả cho tôi bao nhiêu tiền. “Bán nước” chỉ là một cách lên án của dân gian và sự phán xét nghiêm khắc của lịch sử và hậu thế, nhằm giáo dục con em không để lâm vào tình cảnh tương tự. Đó là thuộc văn hóa suy nghĩ, tư duy, tâm tư tình cảm của dân tộc, và đó cũng là nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam. Chứ hoàn toàn không có hận thù gì ở đây, người Việt Nam đa số có lòng khoan dung và vị tha.

Người ta kết tội những nhân vật đứng đầu như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu vào tội danh bán nước là để ghi nhận một tấm gương xấu cho hậu thế rút kinh nghiệm, mang tính chất răn đe cho con cháu đời sau. Chứ người ta không kết tội những quân nhân, tướng lĩnh, sĩ quan cấp dưới. Lịch sử kết tội Lê Chiêu Thống chứ không kết tội Lê Quýnh, Hoàng Phùng Tứ, Trần Quang Châu… Lịch sử kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chứ không kết tội Ngô Quang Trưởng, Hoàng Xuân Lãm, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn…

Như vậy cách nhìn đúng đắn là: Ngụy quyền và ngụy quân đúng là do giặc dựng lên để mị dân, hợp thức hóa cuộc xâm lược, và phục vụ cho cuộc xâm lược. Còn riêng những cá nhân trong bộ máy đó, nếu không còn liên quan gì nữa, không còn gây ra gì nữa, và chiến tranh đã qua lâu, xã hội ổn định, không khí thanh bình, thì nên xem họ là những người bình thường.

Lịch sử đã sang trang mới, và thực tế cũng cho thấy những người lính ngụy, sĩ quan ngụy, tướng tá ngụy như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Phương Hùng và nhiều người khác trong lúc này vẫn đáng tôn trọng hơn những người từng là “Bộ đội cụ Hồ” mà đã thoái hóa, biến chất, đón gió trở cờ, trở thành kẻ phản bội, phản quốc như Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Anh Kim theo ngoại bang chống phá đất nước hay những kẻ tha hóa biến chất, trở thành sâu bọ tham nhũng, lũng đoạn, cắn nát đất nước và chế độ.

Tóm lại: Lịch sử thì phải nhận thức đúng. Những cá nhân trong quá khứ thì thông cảm, bỏ qua và tôn trọng như một người bình thường! Đây là cách tiếp cận hợp tình hợp lý. Chúng ta tôn trọng cá nhân các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, nhưng trong lịch sử chúng ta vẫn phải ghi nhận là hai ông từng làm tướng cho Pháp, Mỹ, trong thời Pháp thuộc hai ông có Pháp tịch, là công dân Pháp và đi lính cho Pháp, đeo huân chương Pháp, được Pháp phong chức, được Pháp rồi Mỹ trả lương. Bỏ qua, gác lại quá khứ, tha thứ … không có nghĩa là quên lãng, từ bỏ. Khép lại quá khứ không có nghĩa là đóng lại, khóa lại quá khứ. Lịch sử và các tiểu sử, trong đó có những giai đoạn lầm lạc của một số nhân vật nên được ghi nhận chính xác. Xem như đó là một bài học lịch sử để răn dạy con cháu đời sau.

Lịch sử luôn được người Việt hàng nghìn năm nay sử dụng như một phương tiện để đề cao, ca ngợi những tấm gương tiết liệt, làm tấm gương sáng cho hậu thế, và răn đe những gương xấu phản dân hại nước, rước giặc vào nhà.

Đó là một cách thức truyền lửa của dân ta nghìn năm nay từ thời mở nước và trong suốt những thời kỳ giữ nước, đời này noi theo gương tốt của đời nọ, thế hệ trước truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ sau. Đánh giặc là đúng, chống ngoại xâm là đúng, theo giặc là sai, bán nước là sai. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Bất cứ ai “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” đều bị lịch sử chê trách, lên án.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những cuộc đụng độ xảy ra giữa quân Việt Nam và quân ngụy là vì lính ngụy bị giặc Mỹ đẩy ra đánh thay họ, chết thay họ, tránh thương vong cho quân đội của họ. Việt Nam chỉ đánh giặc xâm lược Mỹ, không coi ngụy là một nước, không công nhận cái gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” và chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh với ngụy. Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh với Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước chứ không phải là “chống ngụy cứu nước”.

Việt Nam muốn kết thúc chiến tranh thì phải đánh thắng Mỹ, muốn giải quyết chiến tranh thì phải nói chuyện với Mỹ, với người chủ. Trong suốt cuộc chiến này, VN không chú trọng đánh ngụy và chỉ chú trọng đánh Mỹ với cả 3 mũi giáp công: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vì ta biết rõ dù có diệt được ngụy mà Mỹ vẫn còn đó thì họ chỉ việc dựng lên một ngụy quyền khác và bắt thanh niên miền Nam đi lính bằng các đợt cưỡng bách quân dịch quy mô. Không đánh bại được Mỹ thì không diệt được ngụy, chém đầu này sẽ mọc đầu khác. Không thắng được ông chủ thì ông chủ chỉ việc tuyển dụng và đưa lên những tay sai mới. Cho nên muốn chấm dứt chiến tranh thì phải đánh thẳng vào cái gốc, cái rễ, cái nguồn gốc chiến tranh, cái nguồn gây ra chiến tranh, cái nguồn đang tiến hành xâm lược, cái cỗ máy chiến tranh đang điều hành cuộc chiến. Đánh cho “Mỹ cút” rồi mới đến “ngụy nhào” như câu thơ chúc Tết mà Bác Hồ tặng miền Nam đã nói. Bác đã tài tình lồng vào 2 giai đoạn chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” vào câu thơ của mình ngay trong lúc Mỹ đang mạnh, chưa cút, và ngụy chưa nhào.

Việt Nam cũng chưa bao giờ đàm phán, nói chuyện với ngụy, vì biết có nói chuyện với ngụy thì cũng vô ích, không giải quyết được gì. VN muốn gì thì tìm Mỹ mà nói, mà đối thoại, mặc cả, giao dịch, trao đổi v.v. Mục tiêu của cuộc kháng chiến là: Quét sách tên giặc xâm lược cuối cùng và tất cả các ngụy quyền của giặc xâm lược ra khỏi miền Nam của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà quân đội Mỹ đang chiếm đóng bất hợp pháp (Miền Nam của Việt Nam DCCH quy định rõ ràng trong hiến pháp 1946, 12 khu hành chính và quân sự tháng 11 năm 1946, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Hiệp định Genève về Đông Dương, Hiến pháp 1959).

Nhìn chung thì cả trong nước và nước ngoài đều không để ý nhiều đến vai trò của ngụy quyền trong cuộc chiến Việt – Mỹ. Người ta đề cập nhiều đến vai trò của Hà Nội và Washington nhiều hơn. Lý do rất đơn giản là vì đây là cuộc đụng độ lịch sử giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, một bên có sức mạnh con người, một bên có sức mạnh khoa học công nghệ. Họ mới là hai nhân vật chính cần đề cập tới. Ngụy Sài Gòn có vai trò mờ nhạt và lãng nhách, không đáng phải đề cập và vì thế người ta thấy không cần nhắc nhiều đến.

Nhìn lại thì thấy quả thật là vai trò của chế độ Sài Gòn, quân đội Sài Gòn rất mờ nhạt trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Các tài liệu đa chiều trên thế giới rất ít nói về ngụy Sài Gòn. Họ chú trọng đến vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (họ gọi là “Việt Cộng”), và phía bên kia là Hoa Kỳ. Không có nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà báo nào tốn nhiều giấy mực, thời gian, công sức để viết về những chư hầu của Mỹ.

Trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Giặc ngoại xâm nào vào bờ cõi nước Việt thì cũng tạo ra một đội quân người bản xứ để cho quân ngoại xâm đỡ tốn xương máu, đỡ hao binh tổn tướng. Trong chiến tranh chống Việt Nam cũng vậy, lính Pháp, lính Mỹ đáng lẽ còn hao tổn hơn nhiều nếu không nhờ lực lượng ngụy quân đỡ đạn cho lính Pháp, lính Mỹ, giúp quân đội Pháp – Mỹ giảm thương vong.

Vì sao cuộc chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn các cuộc chiến chống xâm lược khác trong Việt sử?

Về kháng chiến chống Pháp, ngoài ông Nguyễn Gia Kiểng (chủ tịch của tổ chức “Tập hợp Dân chủ Đa nguyên”, tai tiếng với cuốn sách “Tổ quốc Ăn năn” chê bai Bác Hồ, vua Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và nhiều anh hùng dân tộc khác của VN) gọi kháng chiến chống Pháp là cuộc “nội chiến” (giữa Việt Minh và “Quốc gia”) ra thì hầu hết đều thống nhất rằng đây là cuộc chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Ngay cả những kẻ chống Cộng cực đoan cũng không thể phủ nhận nổi điều này, ngay cả sách giáo khoa ở miền Nam dưới thời Mỹ cũng phải ghi đây là cuộc chiến giữa “nhân dân Việt Nam” và thực dân Pháp (lờ đi vai trò lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch). Sở dĩ kháng chiến chống Pháp khó xuyên tạc là vì thực dân Pháp đã đô hộ, bóc lột, nô dịch dân ta trong suốt gần 1 thế kỷ Pháp thuộc, và khái niệm “trăm năm nô lệ giặc Tây” đã in ấn sâu đậm, khắc cốt ghi tâm trong lòng dân chúng.

Còn kháng chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn, do nó là cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, trong thời đại mới, thông qua ngụy quyền mà nó dựng lên để kiểm soát miền Nam Việt Nam, khống chế khu vực và chiếm đoạt tài nguyên, trên danh nghĩa “tham chiến giúp đỡ đồng minh”. Chứ trên danh nghĩa họ không trực tiếp trắng trợn gọi miền Nam VN là thuộc địa như thực dân Pháp trong thời Pháp thuộc, và cũng không chính thức sát nhập miền Nam VN vào lãnh thổ chính quốc như phong kiến Trung Hoa trong thời Bắc thuộc.

Đây là một hình thức xâm lược “văn minh” và ma giáo. Dân ta lại chưa kinh qua cuộc xâm lược kiểu này trong lịch sử, và trước đó Mỹ cũng chưa xâm lược, chiếm đóng, đô hộ nước ta với hình thức như thực dân Pháp đã làm trong thời Pháp thuộc. Cái gì mà mới mẻ, chưa có kinh nghiệm cho nó thì thường dễ gây nhiễu nhân tâm hơn.

Đó cũng là lý do vì sao mà trong thời Pháp thuộc suốt gần 100 năm, Việt Nam lại có nhiều Việt gian cam tâm làm tay sai đắc lực cho Pháp đến như vậy, nhiều hơn gấp trăm lần so với các cuộc chiến chống xâm lược phương Bắc. Đó là vì hình thức xâm lược của thực dân Pháp khác với hình thức xâm lược, đô hộ kiểu cũ của phong kiến Trung Hoa. Pháp không chính thức sát nhập Đại Nam vào lãnh thổ Pháp, mà sử dụng Đại Nam làm một thuộc địa (colony), làm một nơi để khai thác, vơ vét, bóc lột, trên danh nghĩa “bảo hộ” triều đình An Nam, An Nam vẫn có vua, nhà Nguyễn vẫn còn đó. Trước thời Pháp thuộc thì dân ta lại chưa kinh qua cách thức xâm lược và đô hộ như thế này, nên cũng có nhiều người mơ hồ về việc Pháp xâm lược Đại Nam, họ coi mình là đang phục vụ triều đình, chỉ huy lính Nam triều, chứ không nghĩ mình đang phục vụ cho Pháp, họ cho rằng Pháp đã đem ánh sáng văn minh phương Tây vào Đại Nam, giúp khai hóa dân tộc Việt, giúp Đại Nam có tự do tôn giáo, tự do truyền đạo, bảo hộ và giúp đỡ triều đình và đất nước ta, giúp người Việt chống Trung Hoa (quân Thanh, quân Cờ Đen, quân Cờ Vàng, quân Cờ Trắng v.v.), họ tự lừa dối bản thân, họ cố nghĩ như vậy, nhiều khi cũng chỉ để cho lương tâm không bị cắn rứt, tự an ủi bản thân, tương tự như nhiều người trong thời Mỹ sau này.

Trong lịch sử các nước, phía xâm lược luôn có những chiêu bài chính trị để hợp thức hóa hành động xâm lược, xâm phạm chủ quyền. Chiêu thức dựng lên một “đối tượng để giúp đỡ” là chiêu đã được dùng đi dùng lại từ ngàn xưa. Như nhà Minh “phù Trần diệt Hồ”. Như Mông Cổ “giúp” Trần Ích Tắc làm vua. Quân đội Mãn Thanh “giúp” Lê Chiêu Thống khôi phục cơ nghiệp tổ tông và chống “giặc Tây Sơn” v.v. Nó luôn lặp lại với những hình thức khác nhau, nhưng bản chất thì vẫn vậy, “bình mới rượu cũ”.

Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thời kỳ giặc xâm lược đều có những hình thức xâm lược khác nhau, và ngày càng tinh vi hơn. Mục tiêu xâm lược cũng có những khác biệt nhất định. Phong kiến Trung Hoa xâm lược Đại Việt, chiếm đất đai, sát nhập lãnh thổ Đại Việt vào Trung Hoa, biến đất Việt thành đất Trung Hoa, biến Đại Việt thành một quận huyện của họ. Và trong thời gian đô hộ thì không tồn tại triều đình người Việt.

Pháp bắt đầu xâm lược Đại Nam năm 1858, ép nhà Nguyễn ký hiệp ước dâng lên Nam Kỳ Lục tỉnh rồi lần lượt “bảo hộ” Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Họ chiếm hữu và trục lợi ở Việt Nam và Đông Dương như một thuộc địa, nhưng trên danh nghĩa thì vẫn có vương quốc An Nam “độc lập”. Vẫn có triều đình Huế với các “hoàng đế” có ngai nhưng không quyền. Họ trực tiếp quản lý VN bằng Toàn quyền Đông Dương, và dưới trướng có rất nhiều cộng sự người Việt mà dân gian gọi là “chó săn” của Pháp. Họ thiết lập một hệ thống ngụy quyền quy mô, rộng lớn, bao gồm những lực lượng ngụy quân (lính Nam triều, lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng) được huấn luyện chu đáo và chuyên nghiệp.

Cho thấy rằng Pháp cũng xâm lược, nhưng hình thức xâm lược, hình thức chiếm đóng, hình thức trục lợi là khác với phong kiến Trung Hoa. Pháp không chủ trương sát nhập Đông Dương vào “nước mẹ Đại Pháp”, mà chỉ muốn xơ múi, khai thác, bóc lột, vơ vét những lợi ích tài nguyên màu mỡ, những nguồn nhân lực, nô lệ, lao công phong phú ở đây. Tóm lại là hút cạn kiệt thuộc địa để làm giàu cho mẫu quốc.

Pháp không cần Việt Nam thành một phần của nước Pháp. Không coi Đông Dương là nước Pháp, mà họ coi Đông Dương và Việt Nam là một vùng thuộc địa (colony) để họ khai thác, họ coi họ là “nước mẹ” của thuộc địa này. Ngụy triều của người Việt được phép tồn tại và làm vật trang trí. Ngụy quân người Việt được xây dựng, trang bị, huấn luyện, và trả lương. Đây gọi là chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, khi mà tên giặc không cần sát nhập lãnh thổ, cướp đất đai trên danh nghĩa, thay vào đó, họ mị dân bằng những tuyên bố “bảo hộ” sự “độc lập” của vương quốc An Nam trên danh nghĩa. Họ cho người Pháp vào trực tiếp quản lý, trực tiếp nắm lấy. Và các cộng sự người Việt chỉ là loại thừa hành cấp thấp. Người Pháp chỉ việc tha hồ bóc lột và nô dịch nhân dân bản xứ.

Hoa Kỳ viện trợ và giúp đỡ Pháp tái chiếm Việt Nam thất bại, sau đó trực tiếp nhảy vào rồi từng bước hất cẳng Pháp, thu nhận và nuôi dưỡng ngụy quyền và ngụy quân mà Pháp đã sử dụng và để lại. Thay tên đổi họ lại cho ngụy quân, ngụy quyền, tổ chức lại, xây dựng lại, vá lại, thay đổi tay sai, chỉ giữ “quốc kỳ” và “quốc ca”.

Cách thức xâm lược của giặc ngoại xâm theo tiến trình lịch sử, theo sự tiến hóa của văn minh nhân loại, cũng thay đổi và “nâng cấp” theo thời gian, càng lúc càng mị dân và được ngụy trang tinh vi hơn.

Mỹ xâm lược Việt Nam là xâm lược kiểu thực dân mới. Theo đó, ông chủ đứng ngoài thu lợi, quan sát, kiểm soát. Còn phần quản lý thuộc trách nhiệm của ngụy quyền bản địa, chứ giặc xâm lược không trực tiếp bắt tay vào làm như thực dân cũ. Tương tự như người đạo diễn đứng ngoài điều khiển, chỉ đạo, các diễn viên cứ thế mà diễn tuồng, đóng kịch. Đến khi diễn viên bất tài vô dụng quá mức, không đảm đương nổi vai diễn, vai trò, thì có khi đạo diễn phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và 58 vạn quân Mỹ, trong giai đoạn 1964-1973, đã tiến vào tham chiến trực tiếp như bọn thực dân cũ, như xâm lăng thời phong kiến.

Do đó nếu chỉ nhìn các cuộc chiến tranh trong lịch sử hiện đại và ngày nay bằng cặp mắt phong kiến lạc hậu, chỉ biết đến các hình thức xâm lược của phong kiến từ xa xưa mấy ngàn năm trước, cứ phải có cùng một hình thức thủ đoạn chính trị, quân sự đó thì mới là xâm lược, thì thật là thiếu sót, lạc hậu, kém cập nhật.

“Thắng làm vua, thua làm giặc”?

Một luận điệu lệch lạc, phi thực tế thường xuất hiện sau ngày Việt Nam chiến thắng: “Được làm vua, thua làm giặc”, “lý lẽ và chân lý thuộc về kẻ chiến thắng”. Hai câu này đã có từ lâu và cũng đúng phần nào, tuy nhiên, những kẻ phản động đã lấy 2 câu này của người xưa rồi gán ghép bừa bãi và dùng những câu này để bóp méo bản chất của kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam.

Thực tế mà nói, hai câu trên không tuyệt đối đúng: Triệu Đà chiến thắng và có tuyên truyền thế nào thì An Dương Vương cũng không phải là giặc. Phong kiến Trung Hoa chiến thắng và có tuyên truyền đến thế nào thì Trưng Vương, Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế cũng không là giặc. Lý Phật Tử đã chiến thắng nhưng Triệu Việt Vương cũng vẫn không phải là giặc.

Nhà Minh chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào thì Hồ Quý Ly, Trần Giản Định, Trần Trùng Quang cũng không phải là giặc. Nhà Nguyễn chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào suốt hơn 100 năm thì người dân vẫn xem nhà Tây Sơn là anh hùng, không phải là giặc. Thực dân Pháp và bọn phản động trong thời Pháp thuộc dù có tuyên truyền đến thế nào thì các nghĩa quân cũng không phải là “giặc phiến loạn”.

Giặc Pháp, giặc Mỹ và tay sai trong suốt hơn 30 năm chiến tranh, thắng bao nhiêu lần, nhưng dù có tuyên truyền đến mức độ nào thì cũng không biến được cuộc kháng chiến chống Mỹ thành cuộc “nội chiến”, “ý thức hệ”, “cuộc chiến quốc tế”, “cuộc chiến ủy nhiệm”. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ chiến thắng, mà thuộc về nhân dân, thuộc về chính nghĩa dân tộc.

Chân lý chỉ thuộc về kẻ chiến thắng với điều kiện kẻ chiến thắng đó chính là nhân dân, là dân tộc, và lực lượng quân sự, chính trị mà dân tộc đó, nhân dân đó ủng hộ. Thực tế lịch sử khách quan thì không thể phủ nhận được.

Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, 11 sứ quân, nhà Hồ, nhà Hậu Trần, nhà Mạc, chúa Nguyễn, chúa Trịnh v.v. đều đã thua nhưng dân tộc Việt Nam không coi họ là giặc, là ngụy.

Còn các triều đình Huế thời Pháp thuộc, ngụy quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu v.v. thì dân ta đã gọi họ là ngụy, là giặc ngay trong lúc chưa chiến thắng, ngay trong lúc giặc chưa thua. Trước 1975, khi Mỹ – Việt chưa biết ai thắng ai thua thì dân miền Nam đã gọi ngụy quyền là “ngụy” rồi.

Quan niệm “thắng làm vua, thua làm giặc” cũng không phải lúc nào, thời nào cũng đúng với thực tế, đúng với lịch sử. Quan điểm này chỉ đúng trong những cuộc chiến nội bộ trong thời phong kiến. Trong lịch sử nước ta, giặc Đông Hán, giặc Minh, giặc Pháp từng chiến thắng nhưng họ vẫn mãi là giặc. Họ vẫn là giặc khi bắt đầu cuộc chiến, trong cuộc chiến và sau cuộc chiến, dù thời điểm nào thì vẫn đều là giặc.

Giặc là giặc, ngụy là ngụy, chính là chính, tà là tà, chính nghĩa là chính nghĩa, phi nghĩa là phi nghĩa, tự vệ là tự vệ, xâm lược là xâm lược, nội chiến là nội chiến, chống ngoại xâm là chống ngoại xâm. Những điều này không phụ thuộc vào sự duy ý chí của con người, cảm tính, cảm nghĩ của cá nhân, niềm tin cá nhân của con người, mà nó phụ thuộc vào thực tế lịch sử khách quan và bản chất của các đối tượng tranh đấu trong cuộc chiến đó. Bạn có nghĩ, tin, tuyên truyền cá đi trên bờ thì con cá vẫn lội dưới nước.

Dĩ nhiên trong trường hợp khoa học lịch sử, thì gọi thế nào ít nhiều có phụ thuộc phần nào đó vào góc độ lợi ích của quốc gia dân tộc liên quan, trong trường hợp của Đại Việt – Việt Nam nghìn năm nay thì đều có những tiêu chí rất rõ ràng, khó nhầm lẫn, để đánh giá, nhận định ai là giặc, ai là ngụy. Không thể chỉ vin vào kết quả thắng – thua hay thực lực yếu – mạnh rồi đánh đồng tất cả, đánh tráo khái niệm, cào bằng giá trị, vàng thau lẫn lộn, thiện ác bất phân.

Như tại miền Nam Việt Nam trong khi cuộc chiến vẫn đang diễn ra thì những cụ già từ thôn quê đến thành phố đã gọi Mỹ-ngụy là giặc, họ gọi thế ngay dưới mạng lưới truyền thông, sách báo, hệ thống tuyên truyền, và bộ máy trấn áp khổng lồ và tinh vi của giặc Mỹ và tay sai. Họ thấy khắp miền Nam đều dày đặc người Mỹ, lính Mỹ, “Tây ba lô” da trắng, mắt xanh mũi lõ. Những kẻ mà họ gọi là “chó săn” kia thì khúm núm trước quan thầy Hoa Kỳ, ai được chụp hình chung với người Mỹ là mặt mày tươi rói, kênh kiệu, vênh váo, sáng rỡ hẳn lên, rồi dựa thế của Mỹ lên mặt với đồng bào, cướp bóc, vơ vét, xách nhiễu, quấy rối, gây khó dễ. Thì họ coi Mỹ-ngụy là giặc là chuyện tất nhiên.

Bà con mình thấy bọn Việt gian chỉ đường và thông ngôn, thông dịch cho quân Mỹ đi càn quét khắp miền quê Nam Bộ, đi càn hết làng này sang thôn khác thì không gọi là giặc thì gọi là gì? Liên quan gì đến kết quả ai thắng, ai bại?

Thực dân Pháp đã từng chiến thắng hàng trăm cuộc chiến trong thời Pháp thuộc, từng tiêu diệt hàng trăm lực lượng nghĩa quân, lê máy chém trên khắp đất Việt chặt đầu hàng chục ngàn thủ lĩnh, lãnh tụ, tướng lĩnh của nghĩa quân. Nhưng thực dân Pháp mãi mãi là giặc, các ngụy triều ở Huế thời Pháp thuộc mãi mãi là ngụy, lính khố xanh, khố đỏ là ngụy, bọn tay sai đắc lực của Pháp như Trần Tiễn Thành, Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân v.v. luôn luôn là ngụy, chắc chắn là ngụy. Dù bên nào thắng, bên nào thua thì lịch sử vẫn không thay đổi.

II. Nhìn lại lịch sử hiện đại Việt Nam

Vấn đề pháp lý Việt Nam

Miền Nam Việt Nam từ năm 1945 về mặt pháp lý là của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa. Điều này dựa trên các văn kiện có giá trị và hiệu lực pháp lý như:

– Hiến pháp 1946

– Năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh 229/SL quy định các cơ quan quân sự trên toàn cõi Việt Nam đều trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam DCCH. Cũng trong tháng 11 này, cả nước được chính phủ nước VNDCCH chia thành 12 khu hành chính và quân sự.

(Các sự kiện trên diễn ra trong lúc “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng hòa” không hề tồn tại trên đời.)

– Hiệp định Genève về Đông Dương 1954

– Hiến pháp 1959

Năm 1949, giữa lúc cuộc chiến Việt – Pháp đang diễn ra ác liệt, thì thực dân Pháp ở miền Nam Việt Nam đã nặn ra “nước Quốc gia Việt Nam” (gọi là chính phủ “Quốc gia”, quân đội “Quốc gia”, tiền thân của “VNCH” và “QLVNCH”). Pháp thua, Mỹ xông vào thay thế quyền lực của Pháp, phát triển “QGVN” thành “VNCH”, “Quân đội Quốc gia Việt Nam” thành “Quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Dùng lấy công cụ mà Pháp đã sử dụng từ trước. Sau đó làm áp lực, gây sức ép lên một số nước đồng minh nhỏ và thỏa thuận với các đồng minh lớn, vận động nhiều chính phủ trên thế giới công nhận ngụy quyền mà họ nặn ra, nhưng cũng không vào được Liên Hiệp Quốc.

Như vậy việc tồn tại của các ngụy quyền sau 1945 chỉ là hệ quả của “cường quyền thắng công lý”, “súng đạn thắng lý lẽ”. Chứ không dựa trên luật pháp Việt Nam. Vì thế mới gọi họ là “ngụy” (偽). Nam Việt Nam là 1 khái niệm địa lý, không phải một quốc gia riêng biệt. Và trong vùng địa lý này có vùng của ta do MTDTGPMN quản lý và vùng do Mỹ tạm chiếm, do vậy Reagan, Nixon mới nói “miền Nam Việt Nam là mảnh da báo”. Không có văn kiện pháp lý nào nói miền Nam VN là 1 quốc gia độc lập. Hiệp định Paris về Việt Nam thì công nhận Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) và chỉ coi “VNCH” là một trong những thực thể chính trị trong miền Nam VN.

Điều 3, chương 2 trong phần “Chính Thể” trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã ghi rõ “Việt Nam là 1 nước có lãnh thổ bao gồm miền Bắc, Trung, Nam không thể phân chia.” Và năm 1946 ngụy quyền Sài Gòn chưa hề tồn tại trên quả địa cầu này… Nước Việt Nam DCCH cũng chính là nước CHXHCN Việt Nam ngày nay.

Điều trên là một điều cơ bản, mang tính nguyên tắc, và lãnh thổ là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Đó là một điều xuyên suốt, nối tiếp nhau, và các Hiến pháp sau này chỉ di dời nó (do cấu trúc HP khác nhau) chứ không thay đổi gì về nó. Đây là một điều bất khả xâm phạm từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1992. Như vậy, nước Việt Nam là một nước độc lập thống nhất từ năm 1945, sau mốc thời gian đó, bất kỳ ngụy quyền, ngụy quốc, ngụy quân nào do quân xâm lược nặn ra thì cũng đều là bất hợp pháp.

Những nội dung mang tính nguyên tắc trong Hiệp định Genève về Đông Dương

Như đã phân tích, từ năm 1945 đến 1954 thì lãnh thổ Việt Nam DCCH trên nguyên tắc luật pháp là gồm cả Bắc – Trung – Nam. Điểm nóng gây nhiều ngộ nhận là Hiệp định Genève về Đông Dương.

Có những luận điệu xuyên tạc lịch sử thường thấy ở miền Nam trước Giải phóng và ở hải ngoại ngày nay là: “Hiệp định Genève chia đôi đất nước” và “Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam”.

Mỹ-Diệm rất sợ Hiệp định Genève về Đông Dương, sợ thống nhất đất nước nên rất chú trọng vào việc tuyên truyền xuyên tạc hiệp định này, lặp đi lặp lại trên sách báo, TV, radio, trường học, băng rôn biểu ngữ tuyên truyền ngoài đường phố rằng “Hiệp định Genève chia đôi đất nước”, “Cộng sản chia đôi san hà”, “Hồ Chí Minh muốn chia cắt giang san”. Bọn họ muốn áp đặt tiền đề hai miền Nam-Bắc là hai quốc gia riêng biệt, độc lập với nhau.

Do muốn cướp miền Nam của VNDCCH và hợp thức hóa ngụy quyền Diệm – Nhu, Mỹ đã xuyên tạc rằng Hiệp định Genève về Đông Dương là “hiệp định chia đôi đất nước”, vậy hiệp ước này có phải là “hiệp định chia đôi đất nước” hay không? Muốn biết những luận điệu này có khớp với Hiệp định Genève về Đông Dương hay không, chúng ta cần coi lại vài điều khoản chính yếu trong hiệp định này. Hiệp định Genève về Đông Dương có hai phần: Phần “Thỏa Hiệp” và phần “Tuyên Bố Cuối Cùng” (Final Declaration).

Phần “Thỏa Hiệp…”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên Hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam. Có vài điều khoản chính như sau:

– Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (military zone) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Việt Minh) ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) ở dưới vĩ tuyến 17.

– Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn quốc, có sự giám sát của các nước tham gia ký hiệp định vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam dân chủ cộng hòa trong 2 năm đó.

Bản “Tuyên Ngôn…” gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của Việt – Miên – Lào, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng:

Đoạn (6) (Paragraph (6)) nguyên văn như sau:

“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”.

(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau:

“Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín.” [Được ấn định vào tháng 7, 1956].

(The Conference declares that, so far as Vietnam is concerned, the settlement of political problems, effected on the basis of respect for the principles of independence, unity and territorial integrity, shall permit the Vietnamese people to enjoy the fundamental freedoms, guaranteed by democratic institutions established as a result of free general elections by secret ballot..)

Tổng kết nội dung cơ bản của Hiệp ước Genève về Đông Dương:

– Các nước tham gia hội nghị tôn trọng quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam – Campuchia – Lào.

– Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.

– Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên Hiệp Pháp tập trung về miền Nam.

– 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền.

– 2 năm sau, tức ngày 20 tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam.

Qua hội nghị Genève, mọi người đều thấy rõ là ngụy quyền “Quốc gia Việt Nam” – vốn nằm dưới ô dù của người Pháp – phải thi hành Hiệp định Genève về Đông Dương dưới cái dù của thực dân. Nhưng khi đế quốc Mỹ dùng cường quyền thắng công lý nhảy vào thay thế thực dân Pháp, đưa con bài Ngô Đình Diệm về nước, dựng lên “Nam Việt Nam”, “South Vietnam”, “Việt Nam Cộng hòa”, sống nhờ vào sự nuôi dưỡng cung cấp của Mỹ, chịu sự sai bảo, ủy nhiệm của Mỹ, phá hoại Hiệp định Genève về Đông Dương và bãi bỏ thi hành cuộc Tổng tuyển cử tự do, và cưỡng ép người dân phải chấp nhận một sự phân chia hai “nước” khác nhau, phản bội hầu hết các điều khoản trong hiệp định và nghiêm trọng nhất là điều khoản: “ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI”. Đây là những sự kiện thực tế lịch sử khách quan không thể xuyên tạc và không thể chối bỏ.

Tóm lại, không có chuyện “Việt Nam chỉ có ở miền Bắc”, không có chuyện chia nước Việt Nam thành hai nước độc lập về chính trị và quân sự, “VNCH ở miền Nam”, “Bắc Việt vs Nam Việt” v.v., mà sự thật là Pháp đã xâm lược và tái chiếm miền Nam của nước Việt Nam đã độc lập thống nhất từ năm 1945, và sau đó Mỹ nhảy vào thay thế Pháp, độc chiếm miền Nam, tiếp quản miền Nam từ tay người Pháp, quyền lực Mỹ thay quyền lực Pháp.

Huyền thoại về một “nước VNCH độc lập” như một quốc gia riêng biệt chỉ là sản phẩm do Pháp và Mỹ dùng cường quyền nhào nặn ra. Cường quyền thắng công lý. “Miệng nhà sang có gang có thép”, cưỡng từ đoạt lý. Dùng sức mạnh quân sự, súng đạn của kẻ mạnh, của nước lớn để áp đặt ý chí của mình lên đầu lên cổ dân tộc khác.

Như vậy, Hiến pháp Việt Nam năm 1946 đã quy định nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc tới Nam và không có cái gì thay đổi được trừ phi VN thay đổi Hiến pháp hoặc ký văn kiện gì đó mang tính hợp pháp quốc gia, quốc tế.

Thực tế suốt thời gian sau đó VN hoàn toàn không có ký bất cứ văn kiện nào để phủ nhận việc VN thống nhất. Và rõ ràng là Hiệp định Genève về Đông Dương không có điều khoản nào bảo chia cắt Việt Nam ra thành 2 quốc gia. Làn ranh ở vĩ tuyến 17 chỉ là một ranh giới quân sự tạm thời (temporary military zone) để 2 bên quân đội có địa điểm đóng quân. Và trong 2 năm, Pháp phải rút hết, và tổng tuyển cử trên cả nước bầu ra lãnh đạo mới (VNDCCH là 1 nước chính thức độc lập, nhưng còn chính phủ thì là chính phủ lâm thời, do đó phải có tổng tuyển cử để bầu ra lãnh đạo chính thức), và chính thức thống nhất đất nước.

Không có điều khoản nào quy định vấn đề chia đôi đất nước, không điều khoản nào cấm thông thương, tự do cư trú. Rõ ràng Hiệp định Genève về Đông Dương là một hiệp định thống nhất đất nước và ranh giới vĩ tuyến 17 chỉ có ý nghĩa tập trung quân đội, không có ý nghĩa chính trị, lãnh thổ, đất đai.

Nhưng Mỹ ở miền Nam đã xuyên tạc, phá hoại và xé bỏ hiệp định, lợi dụng dân trí người dân lúc đó còn thấp, thông tin thời ấy còn chậm, nên họ tuyên truyền ầm lên rằng “Hiệp ước Genève chia đôi đất nước”, “Hồ Chí Minh muốn chia cắt đất nước”, “chỉ có Ngô tổng thống anh minh và đồng minh Huê Kỳ mới có thể giúp chúng ta thống nhất lãnh thổ” v.v.

Họ cấm thông thương, cấm nhân dân hai miền liên hệ, cấm tự do cư trú, tự do sinh sống, vi phạm điều khoản tự do đi lại giữa hai miền. Chính vì vậy nên cách mạng miền Nam mới phải đấu tranh chính trị đòi tự do dân chủ và thống nhất đất nước, đòi thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp ước Genève về Đông Dương, đòi tổng tuyển cử, đòi cho đồng bào hai miền được tự do cư trú, tự do sống nơi mình lựa chọn v.v.

Như thế đã quá rõ ràng, một hiệp định thống nhất đất nước và chia khu vực tập trung quân sự tạm thời, đã bị Hoa Kỳ xuyên tạc thành “chia đôi đất nước” và biến thành chia đôi đất nước thật sự, biến thành có ý nghĩa chính trị, lãnh thổ, đất đai trên thực tế.

Các ngụy quyền tại miền Nam Việt Nam có được “quốc tế” công nhận và ủng hộ?

Qua những phân tích trên từ luật pháp Việt Nam, đã cho thấy “Việt Nam Cộng hòa” không phải là một chính quyền hợp pháp, vì vậy từ nghị quyết, văn kiện Đảng trên cao nhất cho tới những bà mẹ miền Nam, những bà má Hậu Giang, các chị du kích Củ Chi, hay các em sinh viên Sài Gòn đều gọi đó là “ngụy quyền”. Thế nhưng Mỹ hay tuyên truyền rằng “VNCH là một chính thể hợp pháp được ‘quốc tế’ công nhận”. Vậy có thật nó hợp pháp theo luật pháp quốc tế hay không?

Trước hết phải làm rõ ngay từ đầu rằng chế độ ngụy “Quốc gia Việt Nam” và chế độ ngụy Sài Gòn ra đời không từ bất cứ một cơ sở pháp lý Việt Nam và quốc tế nào cả, mà đều từ họng súng và bàn tay của Pháp – Mỹ. Sự can thiệp của Pháp – Mỹ vào Việt Nam cũng không dựa trên bất kỳ cơ sở luật pháp quốc tế nào hết.

Cần phải khẳng định trước một tiền đề: Trên đất Việt Nam chỉ có luật pháp Việt Nam là trên hết, luật pháp VN phải được đặt lên trước, rồi luật pháp quốc tế bên ngoài thì xem xét sau. Phải xét tới lợi ích của Việt Nam trước, rồi mới tới lợi ích quốc tế bên ngoài sau. Và trong thực tế quyền lực thế giới thời đó thì cái gọi là “quốc tế” thực chất chỉ là một vài đế quốc nắm giữ sức mạnh vạn năng và quyền lực bao trùm.

Tương tự, ngày nay quốc tế coi Hoàng Sa – Trường Sa là vùng tranh chấp quốc tế chứ không coi là vùng của Việt Nam, nhưng VN vẫn coi HS – TS là thuộc chủ quyền của mình. Quốc tế xem Hoàng Sa một vùng tranh chấp chứ không coi là thuộc chủ quyền của Việt Nam, nhưng VN vẫn coi HS là lãnh thổ của mình đang bị Trung Quốc chiếm giữ bất hợp pháp.

Nên lưu ý tránh ngộ nhận giữa “một số chính phủ quốc tế” và “dư luận quốc tế”. Khi nói “quốc tế công nhận VNCH” hay “quốc tế xem VNCH là một quốc gia độc lập” thì ta phải hiểu đó là “một số chính phủ quốc tế”, chứ không phải là dư luận quốc tế hay toàn bộ quốc tế. “Nước VNCH” tuy không được vào LHQ nhưng được Mỹ, Anh, Pháp và một số cường quốc đồng minh của họ công nhận, thời đó thì quốc tế bị “nhóm lợi ích” này thao túng nên bao nhiêu đó cũng đủ là “quốc tế” rồi. Nhưng dư luận quốc tế, dư luận nhân dân thế giới có rất nhiều trí thức chân chính không xem “VNCH” là một nước độc lập. Họ gọi đó là “Saigon puppet government”. Trong các biểu tình phản chiến, người nước ngoài đã làm những hình nộm con rối để miêu tả ngụy quyền Sài Gòn, và dùng dây kéo lê khắp đường phố trên thế giới:


Danh từ “South Vietnam” (Nam Việt Nam) mà người nước ngoài hay gọi có nghĩa gì?

Một số bạn thường hỏi rằng xem phim tài liệu thấy người nước ngoài, dư luận quốc tế gọi bù nhìn của Mỹ là “South Vietnam”, như vậy có phải họ xem cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta là cuộc “nội chiến Nam Bắc”? Thật ra “South Vietnam” chỉ là cách gọi quen miệng của người nước ngoài, họ thường dùng từ “southern Vietnam” để chỉ miền Nam Việt Nam, dùng từ Vietcong (Việt Cộng) để chỉ Mặt trận Giải phóng và quân dân miền Nam, dùng danh từ “South Vietnam” để chỉ ngụy quyền Sài Gòn. Dùng danh từ viết tắt “ARVN” để gọi quân đội Sài Gòn.

Dư luận quốc tế, nhất là các trí thức, giới sử học của nước ngoài không xem chiến tranh ở Việt Nam là cuộc “nội chiến”. Họ phân định rất rõ, cuộc chiến nào là nội chiến thì họ sẽ gọi là “Civil War”, ví dụ “American Civil War” (nội chiến Hoa Kỳ), “Chinese Civil War” (nội chiến Trung quốc). Không ai gọi cuộc chiến ở VN là “Vietnamese Civil War”. Họ không gọi cuộc chiến ở Việt Nam là một cuộc nội chiến hay civil war. Chiến tranh ở VN được họ gọi là Chiến tranh Đông Dương (Kháng chiến chống Pháp), Chiến tranh Việt Nam (Kháng chiến chống Mỹ), họ dùng địa điểm chiến sự để đặt tên cuộc chiến.

Ai là miền Nam Việt Nam?

Đa số người miền Nam không ưa Mỹ-ngụy và có cảm tình, ủng hộ Mặt trận, trong đó nhiều tầng lớp nhân dân đã đáp lại lời kêu gọi của Đài phát thanh Giải phóng miền Nam mà ra bưng kháng chiến, trốn ra các vùng giải phóng, hoặc tìm cách bắt liên lạc với cách mạng để hoạt động giúp đỡ, giao liên, thông tin v.v. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam của Mặt trận có du kích, có “đội quân tóc dài”, có cả lực lượng quân đội chính quy với sự tiếp viện từ miền Bắc.

Phong trào bạo lực cách mạng chống Mỹ ở miền Nam được coi là bắt đầu phát triển dữ dội từ phong trào Đồng Khởi gây tiếng vang lớn, tiếp đó quân dân miền Nam lần lượt nổi dậy khắp nơi. Các nơi ở miền Trung, miền Tây Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ, như Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng, Tây Nguyên, vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng, Bình Phước, Cà Mau v.v. đều từng bước phát triển quân lực.

Tổng thống Mỹ Nixon gọi miền nam là “mảnh da báo”. Miền Nam có vùng giải phóng và vùng tạm chiếm. Trong các vùng tạm chiếm có những vùng ngụy Sài Gòn cai quản trên danh nghĩa, trên giấy, nhưng Mặt trận quản lý thực tế, có những vùng thuộc Mỹ-ngụy ban ngày, thuộc Việt Cộng ban đêm. Người của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đến các vùng này thu thuế, tuyển quân.

Theo các tư liệu, hồi ức ngoại giao của ông Lưu Văn Lợi, người từng nhiều lần tháp tùng phái đoàn Việt Nam đến đàm phán với Hoa Kỳ trong hội nghị Paris, đã kể lại câu chuyện Bác Hồ tham dự hội nghị này, lúc ấy Bác đã rất già yếu nhưng cũng hay sang đó tham dự vài lần, có 1 lần tranh luận với nhau, Bác nói với phía Mỹ rằng 2/3 miền Nam Việt Nam thuộc sự quản lý của Mặt trận, Mỹ chỉ giữ được Sài Gòn và các thành phố, khu vực đô thị. Người Mỹ cố gắng cười sằng sặc và chỉ vào bản đồ thách thức: Thế chỗ nào là của Mặt trận, ông chỉ đi. Họ tưởng Bác đã già yếu bệnh tật chắc không còn sáng suốt, phen này sẽ bắt bí được, không dè Bác Hồ nói: Các ông đem quân tấn công nơi nào và ném bom vào nơi nào thì nơi ấy là vùng của Mặt trận chứ còn gì nữa. Sau đó cầm bút đi lại bản đồ khoanh tròn những vùng thuộc quyền kiểm soát của Mặt trận, trong đó có những vùng bị Mỹ tiến quân tràn vào đánh, có những vùng bị họ dội bom tàn phá, Bác Hồ nhớ hết trong đầu. Nhìn lại số khoanh tròn thấy cũng gần 2/3 lãnh thổ miền Nam, người Mỹ không còn lý nào để nói, đành cười ngượng và đề nghị trở lại chính đề.

Hiệp định Paris về Việt Nam cũng quy định: Miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 vùng lãnh thổ, và 3 quân đội (QĐNDVN, QGPMNVN, QLVNCH). Như vậy theo Mỹ, theo “quốc tế” thì vai trò của tổng Thiệu cao lắm thì cũng chỉ ngang hàng với những người đứng đầu Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam VN.

Nước Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất kể từ Hiến pháp 1946. Quân ngoại xâm tiến vào cướp mất nửa nước VN rồi bảo VN là “2 nước”, nhưng dân tộc Việt Nam nói chung, và nhân dân miền Nam nói riêng, không chấp nhận chuyện đó và đã kiên quyết chống lại cho tới ngày chiến thắng.

Vấn đề quốc tế có công nhận Nam Việt là một “quốc gia” hay không, muốn tìm hiểu cặn kẽ thì phải chia ra thành 2 góc độ nhìn, góc độ Việt Nam và góc độ quốc tế.

Góc độ Việt Nam: Miền Nam Việt Nam là một vùng địa lý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dựa trên các Hiến pháp, văn kiện của Việt Nam từ năm 1946. Không công nhận bất cứ ngụy quyền nào do quân xâm lược dựng lên tại đây, trong đó có ngụy quyền “VNCH”. Việt Nam tôn trọng cách nghĩ của quốc tế, nhưng không xem đó là chân lý, vì “quốc tế” không phải là Việt Nam. Quốc tế không đại diện cho tâm tư, ý chí, nguyện vọng của đại khối dân tộc Việt Nam. Việt Nam cũng quá hiểu quốc tế thời đó thực chất chỉ là Mỹ, Anh, Pháp và một số cường quốc đồng minh của Mỹ, Mỹ thao túng quốc tế, tầm ảnh hưởng của họ bao trùm khắp nơi, thì việc “quốc tế” thừa nhận những “quốc gia ma” do Mỹ tạo ra là điều dễ hiểu. Trên phương diện luật pháp, ngụy quyền là một tổ chức bất hợp pháp. Trên thực tế, ngụy quyền này cũng không hề có quyền lực thật sự để mà được coi là một quốc gia độc lập. Họ không hội đủ căn cước và các yếu tố cần thiết của một quốc gia đúng nghĩa, nhất là khi thực quyền nằm trong tay người Mỹ.

Góc độ quốc tế: Hiệp định Genève về Đông Dương không công nhận sự tồn tại của “chính phủ Quốc gia” ở miền Nam Việt Nam và lúc đó chưa có “Việt Nam Cộng hòa”. hiệp định này công nhận sự độc lập, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu lập 1 khu vực phi quân sự ở vĩ tuyến 17, tạm chia Việt Nam thành 2 vùng tập trung quân sự và có giá trị trong vòng 2 năm, đến năm 1956 sẽ tổng tuyển cử tự do trên cả nước. Làn ranh ở vĩ tuyến 17 không có ý nghĩa phân chia lãnh thổ, không có ý nghĩa chính trị.

Hiệp định Paris về Việt Nam thì quy định ở miền Nam Việt Nam có 2 chính phủ, 2 vùng kiểm soát, và 2 lực lượng quân đội tại chỗ (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và quân ngụy) và 1 quân đội bên ngoài (Quân đội Nhân dân Việt Nam). Vậy dựa vào văn kiện nào, cơ sở pháp lý quốc gia, quốc tế nào mà có thể bảo rằng quốc tế công nhận miền Nam Việt Nam là 1 “quốc gia”, là 1 nước độc lập?

Nguyên nhân Mỹ xâm lược Việt Nam

Mỹ dùng “học thuyết Domino” của McNamara làm một chiêu bài để giải thích lý do xua quân vào miền Nam Việt Nam. Họ nhấn mạnh vấn đề ý thức hệ, mục tiêu chống Cộng sản. Nhưng các học giả Mỹ thì nói cụ thể và rõ ràng hơn, rằng Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam là để khai thác nhân lực, nhân công rẻ, tài nguyên phong phú, và quan trọng nhất là chiếm lấy khu vực địa chính trị, địa kinh tế trọng yếu này, nắm được Việt Nam là nắm được Đông Dương, Đông Nam Á. Kiểm soát được VN là kiểm soát được những đường giao thương quan trọng, các cửa biển chính yếu. Kiểm soát khu vực này và đối trọng với Trung Quốc.

Việt Nam là mục tiêu bành trướng quyền lực của Mỹ lúc đó và nằm trong sách lược quốc tế và chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ. Kinh tế Hoa Kỳ lúc ấy vẫn còn chịu hậu quả của đợt khủng hoảng kinh tế trước đó, nhiều người thất nghiệp, thực phẩm khan hiếm, một số hàng hóa bị ứ đọng không tiêu thụ được, một số vũ khí từ Thế chiến 2 vốn đã cũ kỹ, quá thời hạn bảo trì và tồn đọng không bán được, không biết phải giải quyết thế nào, không biết phải làm gì với nó, như vậy có quá nhiều lý do để nhảy vào Việt Nam. Ngoài việc nhắm vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên con người, vị trí chiến lược đặc thù trọng yếu về chính trị, kinh tế, sách lược đối ngoại quốc tế và chiến lược an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, mục tiêu chống Cộng v.v. thì Mỹ còn cần thị trường Việt Nam để tiêu thụ những hàng hóa mà tư bản Mỹ không tiêu thụ được ở chính quốc và nước khác.

Vấn đề chống Cộng sản thật ra chỉ là 1 trong những nguyên nhân Mỹ xâm chiếm miền Nam Việt Nam, còn nguyên nhân chính, thì phải xem lại ai là kẻ đứng sau thực dân Pháp xâm lược Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954.

Mỹ là kẻ hậu thuẫn, giúp đỡ, viện trợ, và chi trả cho thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam, hơn 80% chiến phí mà bọn thực dân sử dụng là của Mỹ. Như vậy cuộc xâm lược này là cuộc xâm lược của “lính Pháp tiền Mỹ”. Mỹ ngụy biện rằng mình vì “sợ Cộng sản” nên mới giúp Pháp đánh Việt Minh, sự thật là Mỹ đã bỏ tiền cho Pháp xâm lược VN, tái chiếm thuộc địa Đông Dương và sau đó ăn chia với nhau lợi ích ở đây.

Như vậy, việc Mỹ thay Pháp nhảy vào Đông Dương là việc dễ hiểu, đơn giản là Mỹ không cam tâm, không chịu thua, không muốn nhả ra miếng mồi béo bở Việt Nam. Việt Nam và Đông Dương có tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người rất phong phú, nhân công rẻ và làm lụng cần cù, siêng năng, được việc. Và khống chế được Nam Việt thì coi như khống chế được bán đảo Đông Dương, Đông Nam Á, và toàn bộ khu vực.

Do đó nhiều nhà sử học trong và ngoài nước đã nhận định: Cuộc chiến 1945-1954 là cuộc chiến chống Pháp – Mỹ, và cuộc chiến 1954-1975 là cuộc chiến chống toàn Mỹ.

Quan hệ giữa vấn đề chống Cộng và vấn đề cướp đoạt trong cuộc chiến tranh xâm lược này

Điều cần nhấn mạnh ở đây là chống Cộng là phương tiện, còn cướp đoạt mới là cái đích. Các chính phủ tư bản phương Tây bành trướng khắp thế giới một thời gian dài trong lịch sử thế giới. Châu lục, lục địa nào cũng in đậm dấu chân của các đoàn quân viễn chinh phương Tây; châu Mỹ, châu Phi, và châu Á của chúng ta đều in gót giày lính viễn chinh phương Tây. Họ rất “tự do” trong việc cướp đoạt, chiếm hữu nhân lực, tài nguyên, thị trường kinh tế, đến nỗi “mặt trời không bao giờ lặn ở nước Anh” (vì đâu đâu cũng có thuộc địa). Trước thực trạng thuộc địa khắp nơi, bóc lột vô tội vạ như vậy thì chủ nghĩa cộng sản đã ra đời tất yếu như một quy luật tự nhiên từ thiên nhiên, tạo hóa, để chống lại sự áp bức, cướp bóc, đàn áp, bóc lột tàn ác đó.

Thế là tiến trình cướp đoạt gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ, phong trào cộng sản kéo theo phong trào dân tộc, giải phóng các thuộc địa, trực tiếp chống lại chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Từ đó, các chính phủ tư bản, đặc biệt là bọn thực dân, đế quốc xem CNCS là kẻ thù, và trong thời điểm đó Cộng sản đúng là một mối đe dọa cho chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc nói riêng và CNTB nói chung, do đó họ phải chống Cộng sản.

Như vậy cho thấy trước khi có CNCS, thì các chính phủ tư bản, thực dân, đế quốc đã có đi xâm lược, bành trướng, cướp đoạt rồi. Không có CS thì họ vẫn xâm lược. CS là chướng ngại cho sự bành trướng đó, vì vậy họ phải chống Cộng và muốn tiêu diệt CS.

Thời nay, Iraq không có Cộng sản, cũng không có vũ khí hủy diệt tập thể, nhưng có dầu mỏ, có vị trí chiến lược, địa chính trị, địa kinh tế quan yếu ở Trung Đông, vì vậy Mỹ đã tấn công vào. Như vậy cho thấy cướp đoạt là mục tiêu, còn chống Cộng là phương tiện. Chứ cuộc chiến ở Việt Nam (cũng như các cuộc chiến chống Cộng khác trên thế giới) không phải bắt nguồn từ sự khác biệt ý thức hệ, không phải tôi đánh anh chỉ vì anh là Cộng sản, không phải tôi đánh anh chỉ vì anh có ý thức hệ khác tôi, mà là tôi đánh anh để tôi có thể thẳng tay cướp đoạt tự do hơn.

Nếu yếu tố chống Cộng thật sự là yếu tố đầu tiên, là yếu tố chính, thì cảnh sát Mỹ đã công phá trụ sở Đảng Cộng sản Mỹ ở New York và đem 60 vạn quân sang xâm lược Cu Ba, rồi mới đem quân đánh các nước cộng sản xa hơn.

Như vậy cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lược Việt Nam là cuộc chiến “chống Cộng để cướp đoạt”, chứ không phải cuộc chiến “chống Cộng chỉ vì anh là Cộng sản và có ý thức hệ khác tôi”.

Mâu thuẫn Pháp – Mỹ và quá trình Mỹ hất cẳng Pháp

Ngay trong kháng chiến chống Pháp thì Pháp và Mỹ đã phát sinh nhiều mâu thuẫn; mâu thuẫn về lợi ích, về đường lối, về chiến lược, chiến thuật v.v. Lúc đó đã có cố vấn Mỹ trong quân đội Pháp (tuy nhiên là cố vấn đúng nghĩa vụ, đúng vai trò, chứ không phải “cố vấn” kiểu làm “cha” như trong quân ngụy, Pháp là một nước thực dân lớn, đương nhiên không phải là bù nhìn của Mỹ), và lúc đó cố vấn Mỹ và Bộ chỉ huy Pháp thường xung khắc với nhau về đường lối chiến lược, chiến thuật, chiến dịch. Do đó sau khi Pháp thua, Mỹ rất cay cú, coi như bao nhiêu đô la và vũ khí mà Mỹ đầu tư cho Pháp đều đổ sông đổ biển. Mỹ tốn bao nhiêu tiền vào đây rốt cuộc Pháp để hỏng việc, mà trong đó Mỹ cho rằng một phần là vì Pháp không nghe lời mình.

Do đó sau cuộc chiến thì Mỹ và Pháp đã nảy sinh xung khắc ngày càng rõ và lớn hơn. Từ đó ở miền Nam hình thành 2 thế lực đối lập, thế lực Mỹ và thế lực Pháp, Mỹ thâu tóm nhiều tay sai cũ của Pháp, trong số đó có nhiều sĩ quan ngụy đã từng học bên Pháp, có Pháp tịch. Lúc đó Mỹ đang phất, còn Pháp được xem là loại thực dân cũ kỹ, lại để thua Việt Minh, trước sau gì cũng suy tàn, cho nên những tay sai cũ của Pháp đua nhau “nhảy sang thuyền mới”.

Tuy vậy vẫn có một bộ phận nhỏ vẫn trung thành với chủ cũ Pháp. Những thành phần thuộc 2 phe kể trên được gọi một cách nhẹ nhàng hơn là “thân Pháp”, “thân Mỹ”, hay gọi một cách rõ ràng hơn là “theo Pháp”, “theo Mỹ”. Nói chung các lực lượng quân phiệt và các thế lực trong chính trường miền Nam lúc này đã chia ra 2 phe, 2 hướng rõ rệt.

Các đảng phái, giáo phái, nhóm quân phiệt ly khai như Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên, Đại Việt, Việt Quốc v.v. là những lực lượng có chống Pháp trong thời gian đầu (trong đó chỉ có Việt Quốc thời Nguyễn Thái Học là đã từng có nỗ lực chống triệt để nhằm lật đổ ách thống trị thực dân, ngoài ra các lực lượng khác đều “chống” kiểu cát cứ ly khai hoặc cải lương ôn hòa), nhưng sau đó tuyên bố “chống Việt Minh lẫn chống Pháp”, tuy nhiên họ chống Việt Minh là thật, còn chống Pháp là bằng những lời nói suông, sau đó họ theo Pháp hoàn toàn. Tướng Nguyễn Hòa Hiệp và Trần Văn Tuyên đem 5.000 quân vào Nam đầu hàng thực dân Pháp, Nguyễn Hòa Hiệp được Pháp gắn huân chương. Bình Xuyên của Bảy Viễn về miền Nam đầu hàng Pháp và nhận huân chương của quân đội Pháp, được chính quyền thực dân Pháp phong hàm sĩ quan. Bình Xuyên của Mười Trí thì đi theo Việt Minh kháng chiến.

Có một thực tế rằng, các thực dân, đế quốc tuy đánh thua, chết nhiều lính nên mới phải ký hiệp định rút quân, nhưng bên trong họ luôn không chịu thua mà bao giờ cũng vẫn cố thông qua ngụy quyền, tay sai bản địa của họ để tiếp tục xơ múi lợi ích ở thuộc địa. Cố bám víu quyền lực tới phút chót, cố giữ vòi bạch tuộc đến phút cuối cùng mới thôi. Giống như Mỹ tiếng là rút quân năm 1972, nhưng vẫn để lại miền Nam hàng vạn “cố vấn”, những quân nhân mặc đồ dân sự, miền Nam vẫn đầy người Mỹ và vẫn do Mỹ kiểm soát, cuộc chiến vẫn do Mỹ chỉ đạo, cố bám víu đến phút chót mới thôi, chiếc trực thăng quân sự chở lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam là vào rạng sáng ngày 30/4/1975, khoảng 2 giờ trước khi ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ.

Trong trường hợp Pháp cũng như vậy, họ ký Hiệp định Genève về Đông Dương rồi rút quân, nhưng vẫn cố thông qua các tay sai cũ để bám víu miền Nam Việt Nam. Trong thời điểm đó thì họ vẫn trả lương cho các lực lượng giáo phái ly khai. Mỹ muốn thanh toán nốt các tàn dư của Pháp, hoàn tất việc hất Pháp ra khỏi Đông Dương để mình vào thay hoàn toàn. Nên đã dùng “QLVNCH” (phát triển từ quân đội “Quốc gia” của Pháp), xử đẹp các giáo phái ăn lương Pháp này.

Việc các giáo phái, đảng phái vũ trang này là tay sai của Pháp, ăn lương Pháp đều được thông tin Việt Nam và thông tin phía chống Cộng thừa nhận. Những người chống Cộng thừa nhận là để quảng cáo cho cái gọi là “chống Pháp” của Ngô Đình Diệm lúc đó (lờ đi ai đứng sau). Thực tế thì gia đình họ Ngô này có “thành tích” làm tay sai Pháp 3 đời, nên mới bị dân gian gọi là gia đình “Tam Đại Việt Gian”.

Như vậy có thể nói việc ngụy quân và các tay sai của Pháp – Mỹ thanh toán nhau ở miền Nam là 1 trong những động thái của Mỹ nhằm hất quyền lực của Pháp ra khỏi miền Nam VN. Cũng như việc tổ chức bầu cử gian lận, giả hiệu, để đưa Diệm lên thay Bảo Đại, đưa người của Mỹ lên thay người của Pháp, mà nhiều sử liệu Việt Nam và quốc tế đã đề cập, cũng là nhằm vào mục tiêu đó.

Tất cả những xung đột chính trị – quân sự đó đều nằm trong mục tiêu hất văng Pháp của Mỹ. Và họ đã thành công; Hòa Hảo, Cao Đài bị tấn công và dẹp tan, Ba Cụt, Năm Lửa bị xử tử. Đại Việt, Việt Quốc bị đàn áp, bắt bớ, ám sát, khống chế và cô lập, Nguyễn Tường Tam bị giam lỏng và bức bách phải tự sát. Tướng Trình Minh Thế của Cao Đài bị chiêu hàng rồi bị giết rồi đổ cho Pháp, sau này con trai của Trình Minh Thế là ông Trình Minh Sơn ở Canada đã gởi bài trên các báo chí hải ngoại như báo Người Việt, Việt Báo, Thế Giới, Đẹp, Tự Do v.v. để vạch trần vụ này. Theo ông, cha của ông đã bị Mỹ-Diệm giết từ trước rồi mới đem xác đến chỗ khác, dựng hiện trường giả, rồi tuyên truyền trên báo chí rằng tại ông ta có xích mích cá nhân với một viên tướng Pháp nên bị giết để trả tư thù.

Tóm tắt lại, sau khi Pháp rút thì vẫn muốn bám víu, xơ múi các lợi ích ở miền Nam Việt Nam thông qua ngụy quyền “Quốc gia Việt Nam” do chính họ thành lập năm 1949 trong chiến tranh Pháp – Việt. Nhưng Mỹ đã từ hậu trường nhảy ra làm kép chính (như lời ông Nguyễn Cao Kỳ), ra sức chống Pháp và hất quyền lực của họ ra khỏi Nam Việt Nam. Mỹ đã dàn dựng cuộc bầu cử gian lận để lật đổ chính phủ “Quốc gia” của Pháp, biến nó thành chính phủ “VNCH” của mình, thay thế chính phủ “Quốc gia Việt Nam” của Pháp. Đưa người của mình là Ngô Đình Diệm lên thay người của Pháp là “quốc trưởng” Bảo Đại, sau đó cựu hoàng Bảo Đại lưu vong bên Pháp.

Hoa Kỳ tiến hành bình định miền Nam VN, chống Cộng và chống Pháp mà ông Ngô Đình Nhu hay gọi là “chống thực, phong, cộng”. Họ cho đội quân ăn lương mình đi đánh các thế lực vũ trang ăn lương Pháp. Hoàn thành việc hất Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam và bán đảo Đông Dương nói chung.

Ngụy quyền Ngô Đình Diệm đã được Mỹ dựng lên như thế nào?

Ngụy quyền Ngô Đình Diệm là một ngụy quyền bất hợp pháp do người Mỹ dựng lên, kế tục “chính phủ Quốc gia” do thực dân Pháp nặn ra từ năm 1949. Sau khi Pháp ngoan cố chưa chịu lui khỏi chính trường miền Nam, cố bám víu tới cùng, thì Mỹ đã hất cẳng Pháp thông qua cuộc bầu cử gian lận “Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam năm 1955” (cựu giám đốc cơ quan tình báo CIA William Colby, đại tá CIA Edward Lansdale đã thú nhận những chuyện gian lận rõ ràng và buồn cười trong cuộc bầu cử “phiếu xanh phiếu đỏ” này trong một số phỏng vấn trên đài CNN). Có rất nhiều hồ sơ, sử liệu, tài liệu của Mỹ như Karnow, Stanley (1997). “Vietnam: A history” của Stanley Karnow do Penguin Books xuất bản năm 1997, trang 239 hay “Encyclopedia of the Vietnam War” của Ts. Spencer C. Tucker do ABC-CLIO xuất bản năm 2000, trang 366 đã cho biết cùng một vấn đề: Cuộc “trưng cầu dân ý” này có nhiều bất thường và gian lận như tại Sài Gòn, Thủ tướng Diệm chiếm được “605.025” lá phiếu trong khi khu vực này chỉ có gần 450.000 cử tri ghi tên. Đại tá CIA Edward Lansdale, “cố vấn” cho Ngô Đình Diệm lúc ấy đã nói rằng: “Trong lúc tôi đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin rằng ông thắng 99,99%. Vì nếu như thế thì người ta biết đó là kế hoạch sắp đặt trước”.

Sau đó, Mỹ đã lật đổ Bảo Đại mà Pháp đưa lên từ năm 1949. Hoàn thành trên danh nghĩa việc hợp thức hóa ngụy quyền của mình, loại bỏ ngụy quyền của Pháp, trên cơ bản hoàn thành bước đầu ý đồ hất cẳng thực dân Pháp.

Xin lưu ý, Mỹ là kẻ giấu mặt suốt cuộc chiến Pháp – Việt (1945-1954), tài trợ hơn 80% chiến phí cho thực dân Pháp, cố vấn cho thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, dùng không quân trợ giúp thực dân Pháp (cụ thể là dùng máy bay vận chuyển quân Pháp tiếp viện Điện Biên Phủ). Mỹ là kẻ đứng sau thực dân Pháp tái xâm lược Việt Nam, và sau đó đã từ hậu trường chính trị đã ra mặt, hiện nguyên hình, thân chinh nhảy ra sân khấu. Đem 58 vạn quân tiến hành cuộc đông chinh đẫm máu.

Diễn biến chiến tranh, những chiến lược, chiến thuật, chiến dịch của hai bên đều đã được nhiều sách báo về lịch sử, quân sự ghi chép và phân tích tỉ mỉ, kỹ càng, vì vậy người viết không đề cập tới những vấn đề mang tính chuyên môn đó trong khuôn khổ bài này. Phạm vi bài này chỉ phân tích về bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Mỹ. Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang phần 3.

III. Những vấn đề liên quan khác và được nhiều người quan tâm

Vai trò của Liên Xô và Trung Quốc

Hòng lấp liếm, che giấu, chạy tội bán nước, hoặc do tâm lý tự ti, mặc cảm phản quốc, một số người đã cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, cố ý cường điệu hóa lên vai trò đồng minh, đồng chí, anh em, bạn bè của Liên Xô và Trung Quốc, cũng như hành động viện trợ và giúp đỡ có giới hạn của Liên Xô, Trung Quốc cho cuộc kháng chiến của Việt Nam chống giặc Pháp và giặc Mỹ xâm lược.

Vai trò của Trung Quốc, Liên Xô là một đồng minh trợ giúp Việt Nam chống xâm lược, và họ giúp đỡ một cách vừa phải, có chừng mực, có giới hạn. Vai trò chủ – khách rất rõ ràng.

Tại miền Bắc và các vùng giải phóng ở miền Nam không có đại quân của ngoại bang, không có căn cứ quân sự của ngoại bang. Những chuyên gia quân sự, chuyên viên kỹ thuật, lính phòng không, lính không quân của Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cu Ba cộng lại cũng không bằng quân số Philipines ở miền Nam Việt Nam, ít hơn gấp 3 lần 20 vạn quân Hàn Quốc ở miền Nam, và dĩ nhiên là không thể so được vơi 58 vạn quân Mỹ ở miền Nam. Những người nước ngoài ở miền Bắc Việt Nam đều chịu sự kiểm soát của Việt Nam và tuân thủ luật pháp Việt Nam.

Vai trò, phần việc của họ được phân vai, phân công rất rõ ràng và minh bạch. Nhiều chiến sĩ nước ngoài được Bác Hồ gọi là “người Việt Nam mới”. Một số đồng chí ngoại quốc đã được chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đặt tên Việt cho họ.

Viện trợ quân sự và kinh tế của Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam là viện trợ có hoàn lại, chính vì vậy sau giải phóng, VN phải trả nợ từng phần. Sau này được Liên bang Nga xóa nợ sớm vài năm.

Trong giai đoạn nhận giúp đỡ vũ khí từ 2 nước đồng minh Liên Xô, Trung Quốc và một số nước XHCN như CHDC Đức, Cu Ba, CHDCND Triều Tiên, thì Việt Nam vẫn cố gắng phát triển công nghệ quốc phòng, phát triển ngành quân giới, đã chế tạo ra một số vũ khí hạng nhẹ và tự bảo trì, cải tiến, nâng cấp, bổ sung thêm tính năng cho không ít những vũ khí được viện trợ, dưới sự chủ trì, quản lý của kỹ sư nổi tiếng, nhà bác học Trần Đại Nghĩa. Rất nhiều xưởng quân giới, nhà máy sản xuất, nghiên cứu được xây dựng trên khắp miền Bắc và những vùng giải phóng ở miền Nam.

Ngụy quân Sài Gòn không có công nghệ quốc phòng, không thể tự chế tạo gì cả và Mỹ phát đến đâu thì đánh đến đó. Như người chủ phát súng cho lính đánh thuê vậy. Năm 1975, Mỹ chỉ giảm cung cấp quân sự xuống 700 triệu USD là ngụy quân tan rã, ngụy quyền sụp đổ.

Như vậy cho thấy việc nhận viện trợ là có, nhận vũ khí là có, nhưng bản chất không giống nhau. Vai trò của Liên Xô và Trung Quốc là những người giúp đỡ có hạn. Việt Nam giữ vững sự độc lập tự chủ tất yếu trong mọi sách lược, chiến lược, chính sách, đường lối, chủ trương lớn nhỏ. Còn Pháp và Mỹ là quân giặc xâm lược, là nguyên nhân của cuộc chiến, là nhân vật chính, là thế lực trung tâm, đầu não, là người chủ thật sự ở miền Nam Việt Nam, là người lãnh đạo, là người cầm trịch, cầm lái ở miền Nam VN. Đối với các ngụy quyền, ngụy quân thì Pháp – Mỹ là hiện thân của một ông chủ thô bạo, như cựu sĩ quan ngụy Trần Viết Đại Hưng và nhiều cựu quân nhân Mỹ-ngụy khác đã phải thừa nhận.

Vai trò Liên Xô và Trung Quốc không thể so với vai trò của Pháp và Mỹ. Vai trò của LX và TQ là giúp đỡ, chi viện, tiếp tế và ủng hộ. Sự giúp đỡ của họ quả to lớn hơn các nước XHCN khác đã giúp Việt Nam chống Pháp – Mỹ. Còn vai trò của Mỹ là người chủ, là kẻ lãnh đạo cuộc chiến ở phía bên kia, là kẻ phát động và tiến hành cuộc chiến, là người nắm quyền, là người đem gần 60 vạn binh hùng tướng mạnh vào trực tiếp xâm lược, trực tiếp chiến đấu, trực tiếp chiếm đóng. Mỹ là ông chủ mà cũng là đạo diễn, là người chỉ đạo, là nguyên nhân của cuộc chiến.

Hành động của Pháp, Mỹ dựng lên các ngụy quyền bù nhìn, bất hợp pháp ở miền Nam rồi gọi đó là những “quốc gia”, vận động các đồng minh gọi đó là một “nước” lên trên một nước đã có sẵn ngàn năm nay và tuyên bố độc lập từ năm 1945 thì rõ ràng là những hành động xâm lược không thể nào phủ nhận.

Và sau khi đã bị xâm lược, thì Việt Nam đương nhiên phải tranh thủ mọi trợ giúp có thể, để chống xâm lược, quét sạch giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi. Sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc rõ ràng là có vai trò to lớn và có hiệu quả, góp phần giúp nước ta chiến thắng. Chứ dĩ nhiên Việt Nam không thể dùng cung nỏ gươm đao hay các súng đạn tự chế với công nghệ còn kém lúc đó, mà đánh bại được B52, bom bi, chất độc hóa học, bom không chân, bom Napalm, chiến tranh khí tượng, chiến tranh điện tử, hàng rào điện tử McNamara, cùng nhiều vũ khí tối tân hiện đại của giặc.

Cuộc chiến ở Việt Nam và Triều Tiên có giống nhau?

Một số người cố ý đánh đồng, bóp méo hoặc vô tình nhầm lẫn, ngộ nhận bản chất của kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam và chiến tranh liên Triều trên bán đảo Triều Tiên.

Đối với những người nhầm lẫn thì đó là từ sự hời hợt, qua loa trong nhận thức, suy nghĩ, tư duy, đánh giá, do họ chỉ nhìn thoáng qua bề ngoài, bề nổi, thấy hiện tượng có một số điểm giống nhau liền cho rằng bản chất cũng giống nhau. Từ đó vàng thau lẫn lộn, đánh đồng tất cả, cho chung hết vào một rọ.

Sự sai lầm này chủ yếu xuất phát từ thói quen đem chuyện Việt Nam so sánh khập khiễng với chuyện bên ngoài, hoặc đem chuyện bên ngoài so với chuyện Việt Nam. Họ tưởng rằng chuyện thế giới lúc nào cũng giống chuyện Việt Nam, hễ VN bị xâm lược thì nhất định các nước khác đều bị xâm lược. Chiến tranh Việt Nam là chống xâm lược thì chiến tranh Triều Tiên tất phải là chống xâm lược. Hoặc chiến tranh Triều Tiên là nội chiến, chiến tranh quốc tế, chiến tranh khu vực, thì chiến tranh ở Việt Nam ắt phải là như thế, chắc hẳn có cùng một bản chất đó. Thật ra cuộc chiến ở Việt Nam và trên bán đảo Triều Tiên có nhiều điểm chính rất khác nhau.

Khác biệt về những điểm quan trọng, khác biệt về lịch sử hiện đại

Trên bán đảo Triều Tiên thì bối cảnh và diễn biến lịch sử khác với Việt Nam. Thời đó Triều Tiên là thuộc địa của Nhật, đến khi Nhật thua thì lực lượng của Kim Nhật Thành lúc đó vẫn chưa là gì cả. Tầm ảnh hưởng của lực lượng Kim Nhật Thành vẫn còn rất hạn chế. Chưa có được lòng dân ở phía Nam bán đảo Triều Tiên. Họ không có cái thế và lực để mà tuyên bố độc lập ngay lúc đó. Và sau khi Liên Xô giải giáp quân Nhật ở phía Bắc, Mỹ giải giáp quân Nhật ở phía Nam thì lúc đó Triều Tiên vẫn chưa có độc lập. Triều Tiên vẫn chưa là 1 nước. Chưa có nước Triều Tiên trên bản đồ thế giới. Họ đã bị chia ra ngay từ đầu.

Trên bán đảo Triều Tiên, sau Thế chiến 2, khi 2 phe Đồng Minh; Mỹ vào phía Nam của bán đảo Triều Tiên, Liên Xô vào phía Bắc của bán đảo Triều Tiên thì vẫn chưa có 1 nước độc lập, danh chính ngôn thuận. Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên của Kim Nhật Thành mãi đến năm 1948 mới được thành lập, sau nước Đại Hàn Dân Quốc của Lý Thừa Vãn.

Vào đầu thập niên 1990, chính Kim Nhật Thành đã từng bước thừa nhận sự chính danh và hợp pháp của Đại Hàn Dân Quốc và cùng với Hàn Quốc sánh vai nhau gia nhập Liên Hiệp Quốc. Còn Việt Nam thì chưa bao giờ công nhận các ngụy quyền mà ngoại bang lập ra trên đất Việt Nam. Trong khi đó thì chủ tịch Kim Nhật Thành đã công khai công nhận rằng Đại Hàn Dân Quốc là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có chính danh, để đổi lấy quyền được gia nhập LHQ.

Trong chiến tranh liên Triều, quân lực Triều Tiên bị lực lượng Liên Hiệp Quốc do Hoa Kỳ đứng đầu đánh bại, quân đội Hoa Kỳ dưới ngọn cờ LHQ tràn qua vĩ tuyến 38 và tiến công khắp nơi, đánh chiếm cả thủ đô Bình Nhưỡng. Các nhà lãnh đạo CHDCND Triều Tiên phải lưu vong sang Mãn Châu, Trung Quốc. Họ bị Hoa Kỳ và các lực lượng LHQ rượt đuổi khắp nơi. McArthur cho pháo kích sang lãnh thổ Trung Quốc vào phía bên kia sông Áp Lục. Danh tướng Trung Hoa là Bành Đức Hoài đem 70 vạn quân kéo sang chống lại Mỹ-LHQ và các đồng minh. Hai bên giằng co với nhau và sau đó ký hiệp định đình chiến. Nếu không nhờ nguyên soái Bành Đức Hoài, đem đại quân kéo sang đánh nhau với LHQ-Mỹ thì liệu nước CHDCND Triều Tiên có còn tồn tại hay không?

Tại Việt Nam thì quân Mỹ chưa bao giờ bình định được miền Nam và chưa bao giờ đủ sức, đủ điều kiện để vượt vĩ tuyến 17. Đại quân Mỹ chưa bao giờ đủ khả năng tấn công vào miền Bắc. Thứ nhất, họ không có danh nghĩa LHQ như cuộc chiến ở Triều Tiên. Thứ hai, ngay cả đầu não Sài Gòn họ còn chưa ổn định được thì nói chi tiến ra xâm lược nốt miền Bắc. Thậm chí ngay cả địa đạo Củ Chi ở sát ngay Sài Gòn mà còn không diệt nổi thì làm sao có thể đánh ra miền Bắc. Ngay tại trung tâm của “thủ đô” Sài Gòn lúc đó đã có đầy quân ta rồi.

Chiến tranh Triều Tiên có 2 giai đoạn, giai đoạn 1 là cuộc chiến giữa quân đội của viên tướng trẻ Kim Nhật Thành tràn ngập lãnh thổ từ phía Bắc vào phía Nam, dồn quân Lý Thừa Vãn vào vùng Phú Sơn (Pusan) cố thủ. Quân đội ngoại bang không có nhiều vai trò trong giai đoạn 1 này.

Giai đoạn 2 là quân Trung Quốc chống nhau với các lực lượng Liên Hiệp Quốc do Mỹ đứng đầu. Lúc này các lãnh đạo CHDCND Triều Tiên đều lưu vong ở Mãn Châu, không ở trong nước, còn quân đội Triều Tiên về cơ bản đã tan rã. Quân đội Hàn Quốc trong giai đoạn 1 cũng đã không còn bao nhiêu thực lực, do đó không có vai trò gì nổi bật trong giai đoạn 2 này.

Như vậy giai đoạn 1 là quân trong nhà chống nhau. Giai đoạn 2 là quân nước ngoài đánh nhau trên bán đảo Triều Tiên.

Trường hợp ở Việt Nam thì khác, cuộc chiến ngay từ đầu đã diễn ra chủ yếu bằng lực lượng tại chỗ ở miền Nam là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, kháng chiến chống Mỹ để giải phóng miền Nam và thống nhất nước nhà.

Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Bắc không dùng đại quân tấn công tổng lực vào miền Nam như trên bán đảo Triều Tiên. Và thực tế chiến cuộc cũng cho thấy là miền Nam đánh Mỹ-ngụy trực tiếp, miền Bắc chi viện và bổ sung. Lãnh đạo, chỉ huy thì có cả người Nam và người Bắc.

Trong các phim tài liệu, chương trình kỷ niệm về thương binh, liệt sĩ, cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mỹ đã cho thấy rằng đa số họ là những người quê quán ở miền Nam, nói tiếng Nam rặt. Ngay cả lực lượng bổ sung từ miền Bắc cũng thường là những người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954, họ chỉ là về lại quê hương miền Nam hoạt động và chiến đấu chống ngoại xâm. Do đó cuộc chiến này do lực lượng tại chỗ ở miền Nam chiến đấu trực tiếp, do nhiều người miền Nam chỉ huy, miền Nam trực tiếp chống Mỹ và tổn thất nhiều nhất.

Thống kê đã cho thấy số phụ nữ được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (theo tiêu chuẩn có ít nhất 3 liệt sĩ là bản thân, chồng, hoặc con trai trong gia đình) ở miền Nam nhiều gần gấp đôi ở miền Bắc. Miền Nam có 29.220 người, miền Bắc có 15.033 người, cho thấy quân đội, đảng viên, cán bộ miền Nam hy sinh, tuẫn quốc nhiều hơn miền Bắc.

Nhiều cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, tướng lĩnh, quân nhân làm việc, công tác ở ngoài Bắc cũng từ miền Nam. Nhiều trường miền Nam đã được xây dựng ở Hải Phòng, Hà Nội và nhiều thành phố để nuôi dạy các “hạt giống đỏ” thiếu nhi miền Nam ở hậu phương lớn, để cha mẹ của các bé yên tâm chiến đấu ngoài tiến tuyến lớn.

Chính vì thế cũng không có tài liệu quốc tế nào dám ghi rằng “VNDCCH xâm lăng miền Nam Việt Nam”. Các lãnh đạo Hoa Kỳ cũng chỉ dám tuyên bố yêu cầu VNDCCH ngừng giúp đỡ cho MTDTGPMN. Chứ không có tuyên bố nào yêu cầu “VNDCCH hãy ngừng xâm lược miền Nam VN”. Các khẩu hiệu bịp bợm “miền Bắc cưỡng chiếm và xâm lăng miền Nam” là từ những kẻ phản động trình độ thấp, văn hóa kém. Chứ Hoa Kỳ và Cục tâm lý chiến của ngụy quân cũng không tuyên truyền dại dột và phản tác dụng đến như vậy.

Có thể thấy, cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên mang tính chất nội chiến trong giai đoạn đầu, và mang tính chất quốc tế, hoàn toàn là quân đội từ bên ngoài ngoài đánh với nhau trong giai đoạn sau. Còn cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến chống xâm lược đặt trong bối cảnh mâu thuẫn quốc tế giữa hai thế lực hùng mạnh.

Cuộc chiến nằm trong bối cảnh quốc tế mâu thuẫn giữa 2 thế lực không có nghĩa đó là cuộc chiến quốc tế, ủy nhiệm, hay ý thức hệ. Ví dụ: Cuộc chiến chống vó ngựa Nguyên Mông của Đại Việt là nằm trong bối cảnh thế giới đang chống lại vó ngựa hung hãn của đoàn quân Mông Cổ. Cuộc chiến chống phát xít Nhật nằm trong bối cảnh mâu thuẫn quốc tế giữa hai phe Đồng Minh và Phát Xít. Cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ nằm trong bối cảnh mâu thuẫn quốc tế giữa XHCN và TBCN. Cuộc chiến biên giới chống Khmer Đỏ và chống Trung Quốc nằm trong bối cảnh mâu thuẫn giữa 2 phe thân Liên Xô – thân Trung Quốc.

Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam đã cho thấy có nhiều cuộc chiến chống ngoại xâm nhưng cũng nằm trong một bối cảnh xung đột chung trên thế giới, và đương nhiên không thể lợi dụng vấn đề bối cảnh xung đột đó để mà viết lại lịch sử, xuyên tạc bản chất chống ngoại xâm của những cuộc kháng chiến oanh liệt của dân ta. Bản chất của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam và trên bán đảo Triều Tiên như đã phân tích ở trên, là rất khác nhau.

Bản chất nó khác nhau vì bối cảnh lịch sử và diễn biến lịch sử trên đất Việt Nam và bán đảo Triều Tiên là khác nhau, và còn nhiều nhân tố, yếu tố khác nhau. Bây giờ chúng ta hãy xem xét kỹ lại về góc độ Quốc hội và luật pháp.

Tính chính thống trong lòng dân và tính chính danh, hợp pháp theo luật pháp Việt Nam và quốc tế

1. Năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập, đánh dấu một mốc son lịch sử khi Việt Nam giành được độc lập từ tay phát xít Nhật, với quốc hiệu chính thức là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo đó nước Việt Nam DCCH là 1 nước thống nhất từ Bắc chí Nam. Các văn bản có giá trị pháp lý sau đó như: Hiến pháp 1946, tuyên cáo 12 khu hành chính của nước VNDCCH cuối năm 1946 đều khẳng định việc này, trong lúc trên đất Việt không hề tồn tại bất kỳ một quốc gia, nhà nước, chính thể, chính quyền, ngụy quyền nào khác.

Ngay cả Hiệp định Genève về Đông Dương cũng chỉ công nhận làn ranh giới tuyến quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử, tạm chia làm 2 vùng tập trung quân sự cho 2 bên tập kết chứ không nói gì đến vấn đề thay đổi lãnh thổ. Theo Hiệp nghị Genève về Đông Dương, vĩ tuyến 17 không phải là làn ranh có ý nghĩa về lãnh thổ, chính trị, hay địa lý, hiệp nghị này không có ý nghĩa chia đôi đất nước về lãnh thổ và chính trị. Như vậy rõ ràng miền Nam Việt Nam vẫn thuộc lãnh thổ của VNDDCH được nhân dân ở cả 2 miền công nhận và ủng hộ. Hiến pháp 1959 cũng nhắc lại; Nam Bộ là thành đồng của Tổ quốc, là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam, là bộ phận máu thịt của Việt Nam.

2. Pháp vào xâm lược lần nữa. Chín năm trường kỳ kháng chiến đã kết thúc sau trận Điện Biên Phủ vang danh bốn biển.

3. Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết. Tạm thời chia thành hai vùng tập kết quân sự, lấy vĩ tuyến 17 làm một làn ranh giới tuyến quân sự tạm thời trong vòng 2 năm, từ 1954 đến 1956, để chờ đợi tổng tuyển cử toàn quốc năm 1956, chọn ra lãnh đạo cho nhiệm kỳ mới, đồng thời chính thức thống nhất Tổ quốc. Quân đội Nhân dân Việt Nam của Việt Minh tập kết ra Bắc, trên vĩ tuyến 17, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương. Quân đội Pháp-ngụy tập kết vào miền Nam, dưới vĩ tuyến 17 và sông Bến Hải, cầu Hiền Lương.

4. Thực dân Pháp ở miền Nam lật lọng. Dùng những xảo thuật chính trị, thủ đoạn chính trị củng cố ngụy quyền bù nhìn Bảo Đại có cái tên mỹ miều là “Quốc gia Việt Nam” mà họ thành lập từ năm 1949, từ đó bọn tay sai Pháp tự nhận mình là “người Quốc gia”, “thành phần Quốc gia”, “đảng phái Quốc gia”, “chính phủ Quốc gia”, “quân đội Quốc gia”, “lính Quốc gia”, “chiến sĩ Quốc gia” v.v. Người Pháp mưu toan dàn dựng một “miền Nam độc lập”, “tự trị”, mưu đồ chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Sau năm 1948, con bài “Nam Kỳ tự trị”, “Nam Kỳ độc lập”, “Nam Kỳ Cộng hòa quốc” do Nguyễn Văn Thinh đứng đầu không còn giá trị, Pháp phế bỏ ngụy quyền bù nhìn này và nặn ra “chính phủ Quốc gia” với ông vua bù nhìn Bảo Đại làm “quốc trưởng”, Nguyễn Văn Xuân làm “thủ tướng”, và tiếp tục củng cố và nuôi dưỡng ngụy quyền này sau năm 1954.

5. Quyền lực Mỹ dần lấn sân Pháp tại miền Nam. Qua nhiều cuộc đấu đá lẫn nhau tranh giành ảnh hưởng, Mỹ đã thành công hất Pháp, Mỹ đem Ngô Đình Diệm về và đưa lên làm “tổng thống”. Mỹ-Diệm cưỡng từ đoạt lý bảo rằng Mỹ và “Quốc gia Việt Nam” (Trần Văn Hữu làm đại diện thay Bảo Đại đi dự hội nghị Genève) không có ký vào hiệp định cho nên không có trách nhiệm thi hành tổng tuyển cử. Đây là sự ngụy biện rõ ràng vì đây là hiệp định thực thi trên một lãnh thổ, cho dù có thay đổi chính phủ, chính thể thì lãnh đạo mới vẫn phải thực thi trách nhiệm của hiệp định đó lên trên lãnh thổ đã được xác định trong giấy tờ. Và thế là từ đây, Mỹ đã thành công chia cắt lâu dài nước VNDCCH, chiếm mất nửa nước của Việt Nam DCCH, và cuộc kháng chiến chống Hoa Kỳ của nhân dân Việt Nam bắt đầu từ đó và kéo dài đến năm 1975.

Sau khi điểm lại các sự kiện lịch sử cùng với các mốc lịch sử, thì có thể thấy nước Việt Nam DCCH – CHXHCN Việt Nam đáng lẽ đã là 1 nước độc lập – thống nhất từ năm 1945. Nhưng các thế lực ngoại bang, nhất là Pháp và Mỹ đã phá hoại sự thống nhất, độc lập của nước VNDCCH. Họ vào miền Nam – nơi duy trì các sức mạnh chính trị, quân sự, kinh tế của họ – liên tục tạo ra hết ngụy quyền này đến ngụy quyền khác. Từ ngụy quyền Trần Trọng Kim của Nhật đến ngụy quyền Trần Văn Hữu, ngụy quyền Nguyễn Văn Thinh, ngụy quyền / ngụy triều Nguyễn Văn Xuân, Bảo Đại của Pháp, rồi đến ngụy quyền Ngô Đình Diệm, ngụy quyền Nguyễn Khánh, ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu của Mỹ.

Việt Nam năm 1945 đã có độc lập và chính danh trên toàn quốc, và đáng lẽ đã thống nhất, hòa bình vào năm 1956 (tổng tuyển cử tự do trên toàn quốc). Do đó, kể từ năm 1945 trở đi, và nhất là từ năm 1946 khi Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam được bầu, Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời, thì bất cứ kẻ ngoại bang nào tiến vào lãnh thổ nước ta nặn ra các ngụy quyền, xây dựng quân đội bản địa để phục vụ cho các chính sách và chiến lược của họ thì rõ ràng là sai trái và đó là hành động vi phạm chủ quyền, hành động xâm lược, hành động tiến hành chiến tranh xâm lược.

Như chúng ta đã biết, sau Cách mạng tháng Tám, Việt Nam giành lại được độc lập từ tay Nhật – Pháp, sau gần 100 năm Pháp thuộc, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được nhân dân cả nước bầu ra thông qua cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội trong toàn quốc diễn ra vào tháng 1, năm 1946. Kỳ bầu cử này cũng bầu ra Quốc hội khoá 1 hoạt động cho đến nay.

Như vậy, chính quyền này là chính quyền của toàn dân, do nhân dân trong cả nước, từ Bắc chí Nam, khắp 3 miền: Miền Bắc, miền Trung, và miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu ra một cách hợp pháp. Chính quyền này tồn tại liên tục và kế tục một cách hợp pháp liên tiếp, nối tiếp nhau từ đó đến nay. Do đó, bất kỳ chính quyền nào khác do ngoại bang thành lập sau này, không do người dân toàn quốc bầu ra, đều có thể được coi là một ngụy quyền bất hợp pháp, không hợp lệ.

Người viết muốn nhấn mạnh đến hai vấn đề, thời điểm:

– Cuộc Tổng Tuyển Cử toàn quốc bầu cử ra Quốc Hội khoá 1 của chính quyền non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập diễn ra trong cả nước, về địa lý bao gồm cả ba miền Bắc, Trung, Nam, với hơn 90% số cử tri đăng ký tham gia. Quốc hội khoá 1 đã bầu ra một chính phủ nắm quyền lãnh đạo đất nước trong hoàn cảnh và thời điểm ở Việt Nam không tồn tại bất kỳ chính quyền nào được bầu ra theo thể thức như vậy. Quốc hội khóa này, được bầu một cách hợp pháp và đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam, đã hoạt động cho đến ngày nay.

– Chỉ mãi sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên Ngôn Độc Lập và tuyên bố nước ta hoàn toàn độc lập, khẳng định chủ quyền trên khắp Việt Nam, bầu cử Quốc hội xong, chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thành lập và đang hoạt động hợp hiến, hợp pháp, thì một loạt chính phủ bù nhìn khác ở miền Nam Việt Nam được các thế lực ngoại bang thành lập; Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Văn Xuân, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu v.v. Như vậy, bất cứ can thiệp quân sự nào từ nước ngoài kéo đại quân vào lãnh thổ của một nước Việt Nam đã độc lập, đã thống nhất thì đó là xâm lược. Hành động thành lập liên tục các ngụy quyền ở Nam Bộ của VNDCCH cũng là một hành động xâm lược.

Xin lưu ý ở đây là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiền thân của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay trên nguyên tắc theo luật pháp là một quốc gia độc lập, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ từ 1945, bao gồm miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Hiệp định Genève về Đông Dương chỉ có ý nghĩa phân định ranh giới quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử toàn quốc chứ không phải là “hiệp định chia đôi đất nước” như giặc tuyên truyền.

Lãnh thổ VNDCCH bao gồm Bắc, Trung, Nam, là quốc gia thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ từ năm 1945 chứ không phải “VNDCCH chỉ có ở miền Bắc” như Mỹ-ngụy tuyên truyền.

Các thế lực, quân đội Pháp & Mỹ đã vào miền Nam của VNDCCH và cướp lấy miền Nam, biến Nam Bộ thành 1 căn cứ quân sự của họ, thành 1 tiền đồn chống Cộng cho họ. Miền Nam là của nước VNDCCH, VNDCCH là 1 nước đã độc lập, thống nhất từ 1945, Pháp và Mỹ không có bất kỳ căn cứ pháp lý nào để đem quân vào lãnh thổ của nước VNDCCH. Do đó cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ ở Việt Nam không hẳn là cuộc chiến giành độc lập, mà là cuộc kháng chiến để giữ gìn độc lập và bảo vệ đất nước. Do ta đã giành được độc lập từ tay đế quốc Nhật vào năm 1945.

Những điểm bất đồng khác

Hàn Quốc có nền công nghiệp quốc phòng riêng và khá mạnh, theo bài phân tích “Tiềm Lực Quân Sự Hàn Quốc” trên báo An ninh Thế giới thì Hàn Quốc có khoảng 80% vũ khí là tự chế. Còn ngụy quyền Sài Gòn năm xưa Mỹ phát đến đâu là đánh đến đó, ngay cả công nghiệp dân sự còn không có thì nói gì đến công nghiệp quốc phòng viễn vông, phi thực tế. Cái gọi là “VNCH” này do Mỹ nuôi, quân đội và nhân sự do Mỹ trả lương, bao trọn gói, kinh tế hoàn toàn phụ thuộc Mỹ. Thị trường do tư bản Mỹ nắm gọn, thao túng. Trong thời Mỹ trước 1975, trong những vùng tạm chiếm hầu như không có hàng nội, hầu hết đều là hàng ngoại, đặc biệt là hàng Mỹ.

Trong khi ở miền Bắc và những vùng giải phóng ở miền Nam thời đó có rất nhiều xưởng quân giới chế tạo các loại vũ khí, trong đó có nhiều vũ khí đặc thù Việt Nam, phù hợp với người dùng VN, môi trường VN, không gian VN như súng trường Phan Đình Phùng, súng Ngựa trời do các xưởng quân giới ở Bến Tre chế tạo, Tiểu liên Sten do xướng quân giới Nam Định chế tạo năm 1946, lựu đạn, mìn, thủy lôi, súng ngắn, bom ba càng, súng cối 60mm, Đạn phóng bom, xưởng quân giới AL1 chế tạo năm 1948, Súng phóng lựu làm từ thân súng trường Mas và súng cối 63mm, quân giới Nam Bộ chế tạo, Súng phóng lựu, bom bay, đạn cối 187mm, quân giới Việt Bắc chế tạo, Ống đạp lôi v.v. và nhiều sửa chữa, nâng cấp, cải tiến khác của Quân giới Việt Nam. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa là một nhân tài hiếm có và đã đóng góp rất nhiều cho ngành quân giới Việt Nam.

Năm 1975, Mỹ chỉ cần cắt giảm viện trợ quân sự xuống còn 700 triệu USD thì ngụy không sống nổi và tắt thở ngay vào năm đó. Ngụy không thể sống, không thể thở, không thể tồn tại nổi khi được nuôi dưỡng không đầy đủ. Ngược lại, bây giờ nếu Mỹ buông Hàn Quốc ra thì tin chắc Hàn Quốc vẫn sống được, dù có thể sẽ không mạnh bằng khi có Washington chống lưng.

Hàn Quốc có sự độc lập chủ quyền và tự chủ nhất định. Quân đội họ tự thân chiến đấu. Trong khi lính ngụy ở Việt Nam do quan thầy Pháp / Mỹ huấn luyện và có mặt trong từng đơn vị tiểu đoàn để điều khiển và kiểm soát chặt chẽ. Quân đội ngụy ở VN chủ yếu được Pháp, Mỹ coi là những tấm bia thịt đỡ đạn để quân đội chính quốc đỡ thương vong (xem sách lược Da vàng hóa chiến tranh thời Pháp, chiến dịch Hạ Lào, sách lược Phi Mỹ hóa, Việt Nam hóa chiến tranh thời Mỹ).

Còn một khác biệt khá rõ nữa là ngụy quyền ở VN không là cái gì quan trọng cả. Có nó hay không có nó thì hai bên Việt – Mỹ vẫn có chiến tranh. Không có nó hay có nó đều không ảnh hưởng nhiều tới cục diện và không thay đổi cục diện. Ngụy Sài Gòn không có vai trò gì đáng kể trong chiến tranh ngoại trừ vai trò làm người chỉ biết nói yes (yes-man), làm cái máy ký tên vào tất cả những văn kiện gì mà Mỹ đưa cho (dám không ký thì “ông” cho ăn đạn, gương Diệm sờ sờ), và với vai trò của những nha trảo, sai vặt chỉ đâu làm đó, Thiên Lôi sai đâu đánh đó.

Nếu cần thì Mỹ sẵn sàng vắt chanh bỏ vỏ, giết chết và kéo kẻ này xuống, dựng kẻ kia lên, giật dây đảo chính để thay đổi tay sai. Trong chiến tranh chống Việt Nam, có những lúc Mỹ thay tay sai như thay áo, liên tục bật đèn xanh đảo chính, giết người này, phế người kia, lưu đày người nọ, lập người khác theo ý mình, bỏ Bảo Đại, giết Diệm, đày Khánh, dựng Thiệu, răn Kỳ. Hoàn toàn lũng đoạn và thao túng, kiểm soát và điều khiển chính trường ở Nam Việt, nắm chắc trong bàn tay miền Nam của Việt Nam, giữ miền Nam của VN trong quỹ đạo Hoa Kỳ. Giữ đàn chim của mình bay đúng hướng.

Lính ngụy thì bị bắt lính hoặc dùng các khoản tiền hậu hĩnh dụ dỗ, mua chuộc, họ không có vai trò gì đáng kể ngoài việc làm bia đỡ đạn cho quân đội Mỹ. Trong khi đó thì Hàn Quốc họ có vai trò nhất định. Vai trò của họ nổi bật hơn đám tay sai bù nhìn người Việt, vai vế của họ cũng hơn hẳn đám con rối ở Sài Gòn.

Các tướng tá, sĩ quan Hàn Quốc cũng hiếm có người từng phục vụ cho đế quốc Nhật trong lúc người Nhật đô hộ bán đảo Triều Tiên. Trong khi đó tướng tá, sĩ quan ngụy Sài Gòn đa phần đã từng phục vụ cho đế quốc Pháp trong thời Pháp thuộc. Có Pháp tịch, nói tiếng Pháp, đeo huân chương Pháp, học ở Pháp, được Pháp phong chức, trả lương, đào tạo, nuôi dưỡng. Nhiều gia đình có “thành tích” làm việc cho thực dân Pháp nhiều đời, đàn áp nghĩa quân khốc liệt. Có cả những tên nói tiếng Tây thạo hơn tiếng ta, nói tiếng mẹ đẻ bập bõm (như tướng Nguyễn Văn Hinh). Có cả những tên chỉ huy lính ngụy trong trận Điện Biên Phủ bên cạnh người Pháp, phất cờ Tam tài, hát quốc ca Pháp (như tướng Phạm Văn Phú). Quân đội “Việt Nam Cộng hòa” được xây dựng và phát triển từ quân đội “Quốc gia Việt Nam” thời Pháp, từ lực lượng ngụy quân nòng cốt và những tay sai đắc lực của thực dân Pháp.

Do đó, bản chất của chiến tranh Việt – Mỹ và chiến tranh liên Triều là rất khác nhau. Bối cảnh lịch sử và các diễn biến lịch sử trên đất bán đảo Đông Dương và trên bán đảo Triều Tiên cũng khác nhau. Do đó không thể đánh đồng 2 cuộc chiến tranh này lại với nhau.

Khái niệm chia cắt – thống nhất đất nước và tội ác của Mỹ tại Việt Nam

Một số người thường mơ hồ về khái niệm “chia cắt”, “thống nhất”, từ đó nảy sinh một số nhầm lẫn, ngộ nhận cho rằng vấn đề chia cắt đất nước, thống nhất đất nước ở VN đã “cho thấy” cuộc chiến chống Mỹ có tính chất “nội chiến Nam – Bắc”.

Đây là quan điểm sai với thực tế lịch sử. Thực tế khách quan trong những thời điểm lịch sử đó đã cho thấy sự chính danh, hợp pháp của Nhà nước Việt Nam DCCH và Chính phủ Hồ Chí Minh. Sự bất chính, phi pháp của các chế độ ngụy sau này ở miền Nam dưới bàn tay Pháp – Mỹ sau khi Việt Nam đã tuyên bố độc lập – thống nhất từ lâu.

Quá khứ tay sai, lý lịch Việt gian thời Pháp thuộc của đại đa số các tướng tá, sĩ quan, chóp bu ngụy quân, ngụy quyền. Nguồn gốc hình thành, sự ra đời của các ngụy quyền ở miền Nam sau 1945, nhất là 2 ngụy quyền lớn nhất: “Quốc gia Việt Nam” (1949-1956) của Pháp và “Việt Nam Cộng hòa” (1956-1975) của Mỹ, mỗi ngụy quyền thờ 1 chủ nhưng 2 ngụy quyền này đều có cùng một “quốc kỳ” và “quốc ca” (mà thật ra là lấy cắp và xào nấu lại từ nhạc phẩm cách mạng của Ns. Lưu Hữu Phước). Sự “hữu danh vô thực”, vô quyền vô lực, cam chịu làm một vật trang trí và kẻ thừa hành mệnh lệnh của 2 tên giặc xâm lược. Và sự hiện diện của gần 30 vạn quân viễn chinh Pháp và 58 vạn quân viễn chinh Mỹ đã cho thấy bản chất của cuộc chiến này.

Chia cắt và thống nhất là một hiện tượng thực tế khách quan, nhưng bản chất của nó thì mỗi thời kỳ cũng có khác nhau. Không phải cứ hễ bảo chia cắt đất nước, thống nhất quốc gia thì đó phải là nội chiến, mà phải coi ai là kẻ chia cắt đất nước, và trong nước có quân ngoại xâm hay không, địa bàn nào đó có phải giặc ngoại bang làm chủ hay không.

Xem lại lịch sử thì thấy: Vua Quang Trung kéo quân Tây Sơn ra Bắc đánh thắng giặc Thanh và quân nhà Lê, và chiến công đó vừa đem lại 3 hiện tượng thực tế đó là: Đánh đuổi giặc ngoại xâm, lật đổ ngụy triều Lê Chiêu Thống, bù nhìn của giặc Mãn Thanh, và nhìn chung là đã thống nhất đất nước, thống nhất Nam-Bắc.

Sở dĩ công cuộc thống nhất giang sơn này chỉ mới là bước đầu chứ chưa được hoàn thành là vì Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ tuy đều là Tây Sơn cả, đều là Đại Việt cả, nhưng lại có những riêng biệt, tính toán riêng, trên danh nghĩa là thống nhất nhưng thực tế thì không phục nhau, chia rẽ anh em. Thứ nữa là lực lượng dư đảng chúa Nguyễn do Nguyễn Ánh lãnh đạo vẫn lưu vong và mưu đồ khôi phục ở ngoài hải đảo chứ chưa bị diệt hoàn toàn, nhưng cũng không có mặt trong đất liền Đại Việt.

Như vậy lịch sử xem đây là cuộc chiến để đánh tan giặc Thanh và thống nhất đất nước, và sau cuộc chiến quả thật đã đem lại thống nhất bước đầu cho Đại Việt, đất nước không còn phân chia Bắc Hà – Nam Hà, Đàng Ngoài – Đàng Trong. Đại Việt thu về một mối. Rất tiếc sau đó vua Quang Trung băng hà sớm, và triều đình Tây Sơn không ai phục ai, các tướng lĩnh đấu đá lẫn nhau, tranh giành quyền lực. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ không nghe lệnh chính quyền trung ương ở Phú Xuân. Nguyễn Ánh thừa cơ quay về quật khởi và hoàn thành sự nghiệp thống nhất dang dở của vua Quang Trung, như hội thảo gần đây nhất do Viện Sử học Việt Nam tổ chức đã kết luận sau khi lắng nghe các tham luận của nhiều nhà sử học trong nước và quốc tế.

Như vậy rõ ràng cuộc chiến Kỷ Dậu diễn ra trong bối cảnh Đại Việt đang bị chia cắt làm hai vùng miền, quân Tây Sơn đánh bại Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống, thống nhất đất nước, Đại Việt không còn bị chia đôi. Có chia cắt đó, có thống nhất đó, nhưng đó không phải là nội chiến, mà đó vẫn là một cuộc chiến chống ngoại xâm.

Khi thực dân Pháp xâm lược và thôn tính nước ta, chúng chia Đại Nam ra là thành 3 kỳ, 3 xứ riêng lẻ (Nam Kỳ – Cochinchine, Trung Kỳ – Annam, Bắc Kỳ – Tonkin) với 3 chế độ cai trị khác biệt, phục vụ cho chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt”. Đây cũng là chia cắt, nhưng do giặc xâm lăng chia cắt, không phải nội chiến.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc và mấy năm bị giặc Nhật xâm lược hoành hành. Chính phủ Việt Nam DCCH tuyên bố độc lập và thống nhất, xóa bỏ chế độ Bắc – Trung – Nam của thực dân, phát xít. Tuy nhiên, sau đó quân Tàu Tưởng kéo vào miền Bắc, liên quân Anh – Pháp kéo vào Nam, sau đó thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, mưu đồ tái chiếm thuộc địa, đại nghiệp thống nhất đất nước bị kẻ thù ngăn trở. Quân dân Việt Nam trên toàn quốc phải bước vào cuộc chiến tranh khốc liệt chống quân Pháp xâm lược.

Sau trận Điện Biên Phủ, giải phóng xong miền Bắc Việt Nam, giành được độc lập tự do thực tế trên nửa nước, lúc đó quân dân VN vẫn còn sức để chiến đấu giải phóng nốt miền Nam, nhưng Đảng và Bác Hồ muốn tranh thủ hòa bình, dưỡng sức nuôi quân đợi thời cơ, và không muốn đồng bào, chiến sĩ phải tổn thất thêm, xương máu đổ xuống thêm, đất nước bị tàn phá thêm, và cũng không muốn dồn Pháp vào đường cùng, vào chân tường, chọc họ liều lĩnh gây tội ác, do đó đã mở ra một con đường cho Pháp xuống nước và giữ thể diện, chấp nhận cho Pháp nghị hòa và đàm phán trong hội nghị Genève.

Sau khi chắc chắn rằng Hiệp định Genève về Đông Dương này đã có các điều khoản về sự đảm bảo chủ quyền, độc lập, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, vĩ tuyến 17 chỉ có ý nghĩa quân sự (military zone), và nuôi hy vọng về một cuộc tổng tuyển cử năm 1956 trên toàn quốc để hoàn toàn thống nhất đất nước, cũng như dự tính về những cuộc đấu tranh chính trị trong 2 năm đó để gây sức ép, tạo áp lực cho Pháp, Mỹ, ngụy ở miền Nam phải nghiêm chỉnh thực hành hiện định Genève, tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước, cộng với những ràng buộc mang tính nguyên tắc trong hiệp định rằng quân đội thực dân Pháp phải cuốn gói rời khỏi Đông Dương trong vòng 2 năm, nên Việt Nam đã chấp nhận ký Hiệp định Genève về Đông Dương với Pháp. Sự nghiệp thống nhất tạm hoãn 2 năm.

Sau đó Mỹ, vốn trong chiến tranh Pháp – Việt chính là kẻ đứng sau thực dân Pháp, bất ngờ từ hậu trường nhảy ra phía trước sân khấu, lần lượt thu mua, chiêu hồi các tay sai cũ của Pháp, sử dụng các công cụ ngụy quyền, ngụy quân Pháp để lại, từng bước hất cẳng Pháp ra khỏi võ đài chính trị ở miền Nam Việt Nam. Mỹ-ngụy xé bỏ Hiệp định Genève về Đông Dương để chia cắt đất nước, đóng cửa vĩ tuyến 17, canh giữ sông Bến Hải, ngăn cầu Hiền Lương, chia cắt không cho miền Nam và miền Bắc gặp nhau, gây khó khăn một cách có hệ thống cho việc giao lưu, qua lại, liên lạc Bắc-Nam. Chia cắt không cho Nam-Bắc quan hệ. Chia cắt, ngăn cản không cho lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, không cho Đảng bộ miền Nam liên hệ ra Bắc.

Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam, thế vào vai trò trước đây của Pháp, thay chỗ Pháp ngồi lên trên miền Nam Việt Nam, xua 58 vạn quân đi càn quét khắp các làng xóm miền Nam, giết hại người dân miền Nam, tấn công quân đội miền Nam, dội bom, tiến quân, công phá vào những vùng giải phóng của miền Nam, thảm sát có hệ thống, gây tội ác có tổ chức, có lệnh trên, vào các “Pinkville” (làng hồng, ý nói những khu vực thân Cộng).

Nhiều sĩ quan Mỹ sau này đã thú nhận sau trong các hồi ức, hồi ký, trả lời phỏng vấn báo chí, tác giả sách, TV, radio v.v. rằng có rất nhiều vụ thảm sát gà chó không tha là do họ nhận lệnh cấp trên để “vô hiệu hóa” (tàn sát) tất cả những con người, gia súc, đồ vật gì mà có thể làm lợi cho Việt Cộng, nhằm khủng bố tinh thần, tạo nên tâm lý sợ hãi để dân làng sợ mà không còn dám tiếp tế, nuôi giấu, che chở và ủng hộ Việt Cộng nữa. Những tên đồ tể sát nhân trong vụ thảm sát, diệt chủng làng Sơn Mỹ chấn động thế giới thời bấy giờ, sau này trả lời phỏng vấn đài radio BBC 4 thì họ (Trung úy William Calley, tướng William Peers v.v.) cũng phải thú nhận họ chỉ là những kẻ thừa hành, họ nhận lệnh cấp trên để gây ra những tội ác chiến tranh đó, và tuyên bố xin lỗi các nạn nhân và nhân dân Việt Nam.

Theo bài báo “My Lai: A Questions of Orders” tuần báo Time, Đại tá Oran Henderson đã ra lệnh phải “xóa sạch chúng”. Trong sách “My Lai: An American Tragedy” của tác giả William George Eckhardt, xuất bản năm 2000, tóm tắt lại bản báo cáo của tướng Peers, trong đó ghi rõ chi tiết Trung tá Frank A. Barker ra lệnh cho các chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đốt trụi làng, giết sạch con người và gia súc, gà chó không tha, đốt sạch các kho lương thực và đầu độc các giếng nước. Một số binh sĩ của Đại đội Charlie sau này đã khai rằng Đại úy Ernest Medina ra lệnh cho họ giết tất cả những người dân khả nghi, bao gồm cả phụ nữ, trẻ em, người già v.v. họ đốt làng, phá hủy lương thực và đầu độc giếng nước.

Trả lời phỏng vấn BBC News Anh ngữ tháng 3 năm 2008, sĩ quan Celina Dunlop tự thú: “Đa phần lính trong đơn vị tôi không coi người Việt Nam là loài người” (Most people in our company didn’t consider the Vietnamese human). Trong Thư viện Tội ác chiến tranh ở Mỹ, có bài viết “Into the Dark: The My Lai Massacre”, trong đó có nói về một phi công trực thăng bay trên khu vực làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ) đã thốt: “Quang cảnh phía dưới trông như biển máu! Cái quái gì đang xảy ra thế?” (It looks like a bloodbath down there! What the hell is going on?).

Lúc đầu, Mỹ che giấu thông tin và bịa đặt ra là mình chỉ giết Cộng sản, giết lính, giết VC, bịa ra những “cuộc đọ súng ác liệt”, “trận đánh đẫm máu” nhưng sau đó một số người lính tham dự đã không kín miệng, sự việc rò rỉ, báo chí và phóng viên chiến trường khắp thế giới vào cuộc, dư luận quốc tế gây sức ép quyết liệt, nên quân đội Mỹ đành phải đưa 1 kẻ thủ ác “ra tòa”. Nhưng chỉ xử qua loa chiếu lệ, chỉ huy lữ đoàn Henderson là Trung úy William Calley, ông ta là người duy nhất phải ra tòa án binh từ trước tới nay sau hàng trăm vụ thảm sát lớn nhỏ do quân đội Mỹ và chư hầu gây ra ở Việt Nam (thảm sát Sơn Mỹ, thảm sát Thạnh Phong, thảm sát Bình Hòa, thảm sát Định Tường, thảm sát Kiến Hòa, thảm sát Gò Công, thảm sát Hà Mỹ, thảm sát Thái Bình v.v.)

Ban đầu Calley “ra tòa” không phải về tội giết dân thường, hay tội ra lệnh tàn sát thường dân, mà về tội “che giấu thông tin”, sau đó được tuyên bố trắng án. 10 tháng sau, do dư luận Việt Nam, Hoa Kỳ và quốc tế làm lớn, áp lực chính trị căng thẳng, Mỹ đành phải lôi Trung úy Calley ra tòa và bị tuyên án “chung thân” nhưng chỉ 2 ngày sau đó Tổng thống Nixon đã ra lệnh thả Calley. Cuối cùng Calley chỉ phải chịu án 4 tháng ngồi tù quân sự tại bang Kansas. Theo tài liệu “War Crimes: Brutality, Genocide, Terror, and the Struggle for Justice” (“Tội ác chiến tranh: Khủng khiếp, Diệt chủng, Khủng bố, và sự tranh đấu vì công lý”) của tác giả Neier, NXB Random House, trong thời gian này hắn vẫn được bạn gái thăm nuôi và quan hệ tình dục không hạn chế trong nhà giam, được cung cấp thực phẩm đặc sản, nước giải khát, bao cao su và sống gần như một ông hoàng. Dư luận Mỹ và thế giới thì chỉ xem hắn là con Tốt thí, là con dê tế thần, là kẻ giơ đầu chịu báng.

Theo ghi âm radio của nhà báo quân đội Mỹ Robert Hodierne, một cựu binh Chiến tranh Việt Nam, người dẫn chương trình đài phát thanh BBC 4 Anh ngữ khi phỏng vấn một loạt những cựu binh Mỹ từng tham gia vụ tàn sát, hãm hiếp, tắm máu ở Sơn Mỹ đã kết luận: “Những vụ thảm sát này không chỉ đơn thuần là những hành vi của nhóm lính bất trị gây ra. Nó là những cuộc bắn giết được lên kế hoạch cẩn thận từ trước, với mục tiêu giết càng nhiều càng tốt, hủy diệt càng nhiều càng tốt”.

Trong các tài liệu, hồ sơ của quân đội Mỹ, Lữ đoàn 173, có báo cáo chi tiết về 142 vụ bắt giữ và ngược đãi người dân, trong đó có 127 trường hợp liên quan đến Lữ đoàn này. Tuy nhiên các giới chức lãnh đạo của Hoa Kỳ đã cố gắng bưng bít thông tin. Tờ Los Angeles Times đã đăng bài viết tố cáo các chỉ huy quân đội Mỹ đã che giấu tội ác của cấp dưới trong chiến tranh ở Việt Nam và phần lớn các quân nhân phạm tội đã không bị trừng phạt, hoặc chỉ bị phạt rất nhẹ, trong khi người tố cáo lại bị trả thù, ngược đãi, trù dập.

Một số thông tin khác liên quan đến tội ác quân đội Hoa Kỳ khi giải mật hồ sơ những vụ thảm sát tại Việt Nam, theo báo Los Angeles Times, Baltimore Sun ở Mỹ, Cơ quan Lưu trữ Hồ sơ và Tài liệu Quốc gia (NARA) của Hoa Kỳ đã có hơn 9.000 trang tư liệu, hồ sơ cung cấp chi tiết về 320 cuộc thảm sát lớn nhỏ đã được cơ quan điều tra của quân đội Mỹ xác minh và có những bằng chứng cụ thể. Nhưng trong 320 cuộc thảm sát này lại không có Thảm sát làng Sơn Mỹ, cuộc thảm sát ghê rợn và chấn động quốc tế, cho thấy còn rất nhiều tội ác thảm sát của quân đội Mỹ tại VN chưa được ghi nhận đầy đủ, những hồ sơ còn nhiều thiếu sót, còn nhiều cuộc thảm sát không được đưa vào hồ sơ, hoặc bị che giấu bưng bít thành công.

Các vụ việc được chứng minh trong hồ sơ của NARA có thể kể đến: 7 vụ thảm sát từ 1967 đến 1971, trong đó có ít nhất 137 dân thường bị giết; 78 vụ tấn công khác nhau vào những người không tham chiến, trong đó ít nhất 57 người bị giết, 56 người bị thương và 15 vụ cưỡng hiếp tập thể, gian sát (hiếp trước giết sau); 141 vụ tra tấn thường dân hoặc tù binh chiến tranh.

Ngoài 320 trận thảm sát được xác minh, hồ sơ còn có những tài liệu có liên quan đến hơn 500 hành động tàn ác mà các điều tra viên chưa thể chứng minh hoặc không được quan tâm đến.

Những gì mà nhiều nhân chứng sống, trong đó có các nạn nhân của Mỹ, các phóng viên chiến trường ngoại quốc, những hung thủ lính Mỹ kể lại v.v. đều phù hợp với những gì Bác Hồ và cả những cựu chiến binh Nam Bộ nói về tội ác của giặc Mỹ ở miền Nam Việt Nam: “Chúng dùng chính sách 3 sạch; giết sạch, phá sạch, đốt sạch ở miền Nam nước ta.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng giận dữ phát biểu với ký giả quốc tế, nguyên văn: “Vì Mỹ mà đất nước chúng tôi bị chia cắt làm đôi, đồng bào miền Nam chúng tôi đang lâm vào tình cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng. Vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam có những tòa án phát xít, những luật lệ bạo ngược, những máy chém lưu động giết người khắp thành thị và thôn quê, có những trại giam khổng lồ, giam cầm và tra tấn hàng chục vạn người, giết chết hàng vạn người yêu hòa bình và yêu Tổ quốc. Vì Mỹ mà có những sư đoàn, binh lính với máy bay, xe tăng và đại pháo Mỹ đi càn quét liên miên, giết hại thường dân, đốt phá làng mạc. Nói tóm lại vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian”.

Xem lại thực tế lịch sử khách quan, thì chúng ta thấy hiện tượng chia cắt mỗi thời đều vậy, nhưng tính chất chia cắt và bản chất cuộc chiến quanh sự chia cắt đó thì không hẳn là giống nhau, mỗi thời kỳ đều có khác nhau.

Loạn 12 sứ quân chia ra 12 vùng ảnh hưởng khác nhau, chiến tranh Nam Bắc Triều giữa nhà Mạc và Trịnh-Lê, phân tranh Nam Hà – Bắc Hà, Đàng Trong – Đàng Ngoài giữa 2 thế lực Trịnh – Nguyễn là chia cắt kiểu nội chiến, nghĩa là chia cắt vì mỗi vùng hình thành một lực lượng địa phương, không phục nhau, ly khai với nhau. Hoặc có nhiều phe đảng khác nhau chống nhau rồi kéo đến nơi nào đó dựng nghiệp, xưng hùng một cõi.

Chia cắt thời Tây Sơn ở phía Nam, nhà Lê của Lê Chiêu Thống ở phía Bắc là loại chia cắt đã có từ trước, bắt nguồn từ Trịnh – Nguyễn phân tranh từ các thế hệ trước, nhưng trong thời điểm này thì Nam Hà có thực lực và độc lập thật sự, còn Bắc Hà sau một thời gian cát cứ quân phiệt, hỗn quân hỗn quan đánh loạn lẫn nhau, tranh giành quyền lực, rồi sau đó giặc Thanh tiến vào “bảo vệ triều đình”, “giúp An Nam quốc vương chống giặc Nguyễn Huệ – Tây Sơn”, “giúp đỡ Lê Duy Kỳ khôi phục ngai vàng, khôi phục nhà Lê, khôi phục cơ nghiệp tổ tông”, “phù Lê diệt Huệ” v.v. Sau khi Lê Chiêu Thống sang cầu viện thì Bắc Hà đã thuộc về quyền kiểm soát của vua Càn Long và nhà Thanh, triều đình Lê Chiêu Thống chỉ là cái “đuôi trâu” không có quyền hành gì thật sự, người Hoa, người Thanh muốn làm gì thì làm, hoành hành bá đạo, nhũng nhiễu lương dân bá tánh. Chia cắt đấy, nhưng chỉ có Nam Hà là thuộc quyền lãnh đạo của người Việt, còn Bắc Hà là bị người Mãn Thanh xâm lược và chiếm đóng.

Chia cắt thời Pháp thuộc là chia cắt kiểu bị đô hộ. Khi tên đô hộ làm chủ và có quyền hành ở cả 3 nơi bị chia cắt. Họ chia nước ta ra làm 3 miền, 3 xứ, với 3 hệ thống cai trị khác nhau, hầu dễ bề “chia để trị”, chia rẽ dân tộc Việt Nam và thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”.

Chia cắt sau Hiệp định Genève về Đông Dương là chia cắt kiểu một bên là một Việt Nam giải phóng nửa nước, có độc lập nhưng chưa thống nhất trên thực tế, một bên là dưới quyền thực dân Pháp chưa chịu rút hết, vẫn đang cố gắng níu kéo, bám víu cho kỳ được.

Sau đó Mỹ xông vào và từng bước lấn dần quyền lực của Pháp và hất cẳng Pháp hoàn toàn, thay vào vị trí và vai trò của Pháp. Mỹ đã xâm lăng, chiếm đóng, và kiểm soát miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất Việt, ngăn cấm miền Bắc và miền Nam gặp nhau, không cho đến với nhau. Các lãnh đạo, tướng lĩnh, chiến binh miền Nam muốn ra Bắc thì phải đi lén lút khổ sở. Miền Bắc muốn chi viện cho miền Nam thì phải hành trình thầm lặng, vất vả, gian nan và nguy hiểm qua Đường Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển, và 3 “Đường mòn Hồ Chí Minh” bí mật khác. Quân đội Mỹ chinh phạt, bình định, đàn áp, càn quét, tấn công khắp miền Nam và phá hoại miền Bắc.

Đại nghiệp thống nhất đất nước, thống nhất dân tộc dở dang sau Cách mạng tháng Tám, sau Tuyên ngôn Độc lập, sau hội nghị Genève, sau kháng chiến chống Pháp cuối cùng cũng đã hoàn thành vào năm 1975. Thống nhất đây là thống nhất tất cả; thống nhất Nam-Bắc, thống nhất Bắc-Trung-Nam, thống nhất miền Nam, thống nhất vùng tạm chiếm và vùng giải phóng, xóa đi các “mảnh da báo”, lấp lại những hố ngăn cách, thống nhất toàn bộ. Về mặt pháp lý quốc tế, thì năm 1976 họp Quốc hội là thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, thành nước CHXHCN Việt Nam. Nói chung là thống nhất toàn bộ, thống nhất tất cả, thống nhất triệt để.

Dân tộc Việt Nam cuối cùng cũng hoàn thành được sự nghiệp thống nhất, điều mà đất nước VN, dân tộc VN chưa từng có kể từ khi giặc Tây vào xâm chiếm, đô hộ, nô dịch và chia nước ta ra làm 3 xứ thuộc địa, điều mà nhân dân VN tranh đấu và hy sinh gian khổ suốt một thời kỳ giành độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc lâu dài từ thời Pháp thuộc đến ngày toàn thắng, hoàn toàn thống nhất non sông và giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa đất nước thoát khỏi chế độ phong kiến và tất cả giặc ngoại xâm.

“Cuộc chiến ý thức hệ”, “chiến tranh ủy nhiệm”?

Ngay từ đầu thì Mỹ-Diệm đã có những nỗ lực tuyên truyền xuyên tạc trên Việt Tấn Xã và các sách báo ở miền Nam thời đó, họ tuyên truyền rằng cuộc chiến 9 năm chống Pháp của Việt Nam là “cuộc chiến ý thức hệ”, “cuộc chiến quốc tế”, hoặc buồn cười hơn nữa là “quân cờ của ngoại bang”, “tay sai của Nga Tàu”, “Hồ Chí Minh và Đảng CS là tay sai của Quốc tế Cộng sản, Đệ tam Quốc tế” v.v. Và sau này, dĩ nhiên trong cuộc chiến chống Mỹ của VN thì họ cũng tuyên truyền với những luận điệu tương tự.

Luận điệu tuyên truyền của họ cũng không bao giờ nhất quán, mỗi lúc họ nói một kiểu, lúc thì họ bảo rằng đây là cuộc “nội chiến”, “Nam – Bắc tương tàn”, “Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Nam Việt”, lúc thì họ bảo rằng đây là “cuộc chiến quốc tế”, “cuộc chiến ủy nhiệm”, “cuộc chiến giữa 2 khối tư bản và cộng sản” v.v.

Thật ra những ngụy quyền ở Sài Gòn mới là những con Tốt thí của ngoại bang, đầu tiên do Pháp dựng lên và sau đó Mỹ vào nuôi và dùng, họ không có độc lập chính trị, không có thực quyền về ngoại giao, quân sự, kinh tế. Đây cũng không phải là cuộc chiến ý thức hệ gì cả vì Việt Nam chỉ có đánh xâm lược, còn ai là XHCN hay TBCN thì đó là quyền tự do của người ta, khi nào họ xâm lược thì mới đánh. Việt Nam tiến hành chiến tranh vì tự vệ, vì lợi ích quốc gia dân tộc chứ không phải vì thằng kia là CNXH hay CNTB hay “màu” gì. Ví dụ: Pháp – Mỹ bây giờ vẫn là tư bản, nhưng chúng ta không đánh, khi nào họ xâm lược mới đánh. CHND Trung Hoa, Khmer Đỏ tuy là Cộng sản nhưng ta vẫn đánh.

Và trong những giai đoạn lịch sử thời ấy tính chất ý thức hệ cũng không rõ ràng lắm như một số kẻ cố ý nâng quan điểm, nói quá lên để bóp méo bản chất của cuộc chiến. Thời đó chỉ thấy đánh nhau loạn cào cào giữa các nước Cộng sản, giữa các nước tư bản, và có lúc giữa 1 quốc gia Cộng sản và 1 quốc gia tư bản. Tư bản phát xít Đức, Ý, Nhật đánh nhau với tư bản Pháp, Mỹ, đánh nhau với Cộng sản Liên Xô, CS Trung Quốc, CS Triều Tiên. CS Liên Xô và CS Trung Quốc sau này đánh nhau ở biên giới trong giai đoạn Trung – Xô xung đột. Tư bản Pháp đánh nhau với phong kiến Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư bản Mỹ đánh nhau với VN. Cộng sản Tàu viện trợ cho Cộng sản Việt Nam chống Pháp – Mỹ rồi sau đó Việt – Trung lại đánh nhau năm 1979. CS Việt Nam đánh CS Campuchia. CS Trung Quốc viện trợ cho CS Campuchia. Đánh nhau loạn cả lên như thời Chiến Quốc chứ ý thức hệ gì ở đây? Ý thức hệ chỉ là yếu tố phụ, yếu tố chính đó là quyền lợi quốc gia, lợi ích dân tộc, sự thống nhất và độc lập của đất nước.

“Quân cờ của các siêu cường”?

Phát triển từ luận điệu ngụy biện như đã phân tích ở trên, một số kẻ còn đi xa hơn, tuyên truyền rằng “Việt Nam chỉ là quân cờ trên bàn cờ quốc tế, giữa 2 phe Cộng sản và tư bản”, chỉ là những “Tốt thí bị các ông lớn sử dụng”, bị Tàu Cộng, Trung Cộng lợi dụng để “đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng”, nên cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ là “không có gì đáng tự hào, mà phải là tủi nhục mới đúng”. Từ đó họ coi ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Bắc-Trung-Nam sum vầy, hòa bình lập lại là ngày “Quốc hận”, “Tháng tư đen”, “Black April”, “mất nước” v.v.

Theo tư duy “chúng ta chỉ là quân cờ” này thì: Nhà Trần chống Nguyên Mông là làm quân cờ cho Trung Hoa và giúp các lực lượng kháng chiến Trung Hoa khôi phục độc lập. Đồng thời cũng làm quân cờ luôn cho đế chế Nga La Tư (Nga) lúc đó đang bị quân Nguyên chiếm đóng lên một phần lãnh thổ. Chống Nguyên Mông là “sai”!

Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi cùng lực lượng Cần Vương đánh Pháp là sai, vì họ đã làm quân cờ cho nhà Thanh bên Trung Quốc. Họ đã qua cầu viện Trung Quốc và cùng với quân chính quy nhà Thanh và quân Tàu Cờ Đen chống Pháp, giết sĩ quan Pháp ở trận Cầu Giấy, đều là làm quân Tốt cho Tàu mà thôi, họ chống Pháp là “sai”.

Các nghĩa quân chống Pháp sau này như Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định, Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Võ Duy Dương, Đinh Công Tráng với chiến khu Ba Đình, “hùm thiêng Yên Thế” Hoàng Hoa Thám, “kiếm bạt Kiên Giang” Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thiện Thuật với chiến khu Bãi Sậy (ông này là có liên hệ với Tàu nhiều nhất, thường xuyên đi đi về về giữa Việt – Hoa), Hoàng Kế Viêm (từng kết nghĩa huynh đệ với nhiều tướng nhà Thanh), và nhiều anh hùng liệt nữ khác của Việt Nam chống Pháp thật ra là làm con Tốt cho Trung Quốc, làm “trái độn” cho Trung Quốc để ngăn chặn ảnh hưởng của thực dân Pháp và sự bành trướng của thực dân da trắng từ phương Tây?

Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, lực lượng Việt Minh, Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này tiếp nối công cuộc kháng Pháp của tiền nhân cũng là làm con tốt cho XHCN Nga, Tàu, làm trái độn cho XHCN Trung Quốc ngăn chặn tư bản thực dân Pháp?

Trong kháng chiến chống Mỹ, tiếp nối từ cuộc chiến chống Pháp, thì VN lại tiếp tục làm con Tốt thí, làm trái độn cho Tàu và Nga. Sau năm 1975, VN làm con Tốt tiên phong cho Liên Xô khi đánh Khmer Đỏ và chống quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh năm 1979. Hải chiến Trường Sa năm 1988 là làm “con Tốt” cho Mỹ và phương Tây nên mới đánh Tàu?

Suy ra từ xưa đến nay Việt Nam ta nhỏ bé quá nên mới phải làm con cờ, con Tốt cho ngoại bang mãi như thế. VN mình là con Tốt trên bàn cờ quốc tế. Lạ một điều là: Việt Nam làm quân cờ, quân Tốt thế nào mà hầu hết các mục tiêu của mình đều đã đạt được, đất nước độc lập, dân tộc tự do, giang sơn thống nhất, xã hội thanh bình và sau này là phát triển, hội nhập. Còn bọn “lợi dụng”, “sử dụng”, “dùng Tốt” tên thì chết queo từ đời nào (Liên Xô), tên thì không lợi dụng được Việt Nam nên tức tối cay cú phản trắc, đi đêm với Mỹ và thực hành sách lược “Liên Mỹ đả Việt” rồi cùng với Mỹ-ngụy chống Việt Nam, xúi giục, kích động, viện trợ, chỉ đạo Khmer Đỏ đánh sau lưng VN không xong, sau đó xâm lược VN nhưng bị đánh cho tổn thất nặng nề phải chạy về (Trung Quốc).

Trên thế giới cũng vậy, hễ nước nào chống xâm lược mà nằm trong một nhóm đồng minh nào đó, hoặc có một đồng minh lớn nào đó bên ngoài thì đều là bị sử dụng, lợi dụng, thì đều là quân cờ, quân Tốt? Như Liên Xô chống Đức thì cũng là con cờ của phe Đồng Minh. Và Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại chống phát xít của Liên Xô là sai?

Thế tại sao có những luận điệu “quân cờ”, “con Tốt” kỳ lạ này? Chủ yếu từ sự cố ý tuyên truyền như thế nhằm hạ thấp chiến công chống ngoại xâm của Việt Nam do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, hạ thấp tư cách lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, và phần lớn cũng xuất phát từ tâm lý cực đoan, tự ti dân tộc, mặc cảm dân tộc, mặc cảm phản quốc, mặc cảm những tội lỗi năm xưa, tự coi rẻ, xem thường dân tộc mình, không coi trọng lịch sử dân tộc, nhận thức kém và nhận xét các sự kiện thực tế lịch sử một cách hời hợt và vô trách nhiệm, thiếu văn hóa, phản lịch sử, phản khoa học, và trên một nền tảng tâm lý nô lệ sau 100 năm Pháp thuộc. Và một phần cũng cố ý xuyên tạc với dụng ý chạy tội quá khứ, hạ thấp các chiến công mang tầm vóc lịch sử, tầm vóc thời đại của Việt Nam, của Đảng Cộng sản, của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự độc lập của Việt Nam năm 1945

Pháp, Mỹ và cả một bộ phận người Việt bị hận thù che mờ lý trí và lương tâm, thường khai thác và đào sâu vào vấn đề Việt Nam giành lại được độc lập năm 1945 chỉ có ít quốc gia công nhận, nhiều cường quốc tư bản, đế quốc, thực dân không công nhận sự độc lập của Việt Nam, từ đó phủ nhận sự chính danh của Nhà nước VNDCCH và chính phủ Hồ Chí Minh.

Rất tiếc những kẻ đó đã quên lịch sử tổ tiên Việt Nam, họ quên rằng suốt hàng ngàn năm nay trong lịch sử Tổ quốc Việt Nam, chưa từng có quốc gia nào công nhận Việt Nam cả, bao gồm cả Trung Quốc. Trung Hoa chỉ công nhận “An Nam”, “Giao Chỉ” là một phiên thuộc của họ, vua VN trên danh nghĩa là một “thần tử”, “bầy tôi” được họ sắc phong làm An Nam quốc vương. Các triều đại Trung Quốc chưa bao giờ công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, ngoại trừ CHND Trung Hoa sau này.

Việt Nam trong lịch sử không cần người ngoài công nhận, chỉ cần nhân dân Việt Nam công nhận là đủ, chỉ có người Việt Nam mới có vai trò quyết định và có tư cách để công nhận sự độc lập của bản thân và chính quyền nào, nhà nước nào là chính danh, chính thống.

Trong lịch sử, chưa có nước nào hay chính quyền ngoại bang nào công nhận là Đại Việt là độc lập và chưa ai công nhận các triều đình, chính quyền của ta là chính thống, chính danh. Tuy nhiên, các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn v.v. vẫn đi vào lòng dân tộc và được người Việt xem là những chính thể chính thống, có chính danh, dù không có nước ngoài nào công nhận cả.

Tương tự, ngày nay quốc tế coi Trường Sa – Hoàng Sa Sa là vùng tranh chấp quốc tế chứ không coi là vùng của Việt Nam, nhưng ta vẫn coi hai quần đảo này là của mình. Quốc tế xem Hoàng Sa một vùng tranh chấp chứ không coi là của Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn coi quần đảo này là lãnh thổ thiêng liêng của mình đang bị Trung Quốc đóng giữ bất hợp pháp.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập được nhân dân Việt Nam công nhận, Tuyên ngôn độc lập được chủ tịch VNDCCH Hồ Chí Minh đọc dưới sự hân hoan, tán thành, xúc động của nhân dân, vậy là đủ. Chưa kể chúng ta còn có tổng tuyển cử Quốc Hội năm 1946 diễn ra trên cả nước, trên cả 3 miền, đó là điều mà ngay cả những vương triều chính thống trước đây không hề có. Cho thấy nước Việt Nam sau năm 1945 là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có lòng dân từ Bắc chí Nam, và chính thể VNDCCH là một chính quyền có chính danh, chính thống.

Về sau giặc Pháp vào tái xâm lược, VNDCCH chiến thắng và giành lại nửa nước, ký Hiệp định Genève về Đông Dương với đế quốc Pháp tạm chia Việt Nam thành 2 vùng tập trung quân sự để chờ 2 năm sau sẽ tổng tuyển cử toàn quốc vào năm 1956, thống nhất nước VNDCCH trong hòa bình.

Sau đó Mỹ vào lấn quyền và thay thế Pháp, cướp đi nửa nước, thay thế quyền lực của Pháp, thu dụng ngụy quyền mà Pháp đã dựng lên trước đây (Bảo Đại) rồi truất phế Bảo Đại, đưa lên “thủ tướng” của ngụy quyền của Pháp lên thành “tổng thống” Ngô Đình Diệm của ngụy quyền của Mỹ. Rồi bác bỏ tổng tuyển cử tự do theo Hiệp định Genève về Đông Dương. Xé bỏ hiệp ước này và chia cắt nước Việt, dựng lên cái “nước VNCH” lên trên quốc gia VNDCCH đã độc lập từ năm 1945, chính thức cướp lấy miền Nam của VNDCCH, rồi dùng sức mạnh ngoại giao tuyệt đối của mình, kêu gọi, vận động, và áp lực các đồng minh “công nhận” cái “quốc gia” đó, cái “nước VNCH”, “Nam Việt Nam” đó.

Sau khi bị cướp mất nửa nước thì người dân Việt Nam đành phải tiến hành kháng chiến giành lại nốt nửa nước còn lại. Đồng bào miền Nam “sống trong chăn mới biết chăn có rận”, tận mắt thấy đất đai ông bà tổ tông, làng mạc quê nhà, quê hương xứ sở bị xâm lược, giặc Mỹ và thông ngôn ngụy đi càn khắp thôn quê, làng xóm, gây ra rất nhiều tội ác khắp làng quê, làng xã, và khắp miền Nam nói chung.

“Cố vấn” Mỹ và lính ngụy lê máy chém đi khắp các làng xã miền Nam chém đầu những người ái quốc, những người ủng hộ Cộng sản. Nhiều vụ thảm sát đã xảy ra. Đồng bào Phật tử bị đàn áp, đánh đập, hành hạ tra tấn, trù dập giết hại. Đạo luật khát máu 10/59 ra đời, đặt tất cả những người bất đồng chính kiến, từ những người thân cộng, thiên tả đến cả những người chống cộng nhưng không theo Mỹ-Diệm ra ngoài vòng pháp luật.

Những hành động cướp đất, cướp ruộng, bắt bớ, bắt cóc, hành quyết kiểu phát xít, chặt đầu kiểu trung cổ, được ngụy trang dưới chiến dịch “Tố Cộng”, muốn bắt ai, giết ai, cướp của ai thì chỉ cần vu cho người đó là Cộng sản, hoặc có người thân đi theo CS, là đủ lý do để đàn áp thẳng tay. Dồn dân vào trại tập trung mà họ gọi là “Ấp Chiến Lược” để “tát nước bắt cá”, cách ly dân với quân đồng thời cũng để cướp nhà chiếm ruộng. Tăng cường đàn áp, khủng bố những người kháng chiến chống Pháp cũ.

Trước thực tế bị xâm lược đó, dưới địa ngục trần gian đó, người dân miền Nam đã phải phản kháng và vũ trang tự vệ. Các lực lượng chống Mỹ liên tiếp được thành lập, nghĩa quân kháng chiến nổi lên khắp nơi, thanh niên trai tráng bỏ học, bỏ quân dịch, chống cưỡng bách quân dịch và vào chiến khu chống Mỹ. Học sinh – sinh viên biểu tình khắp miền Nam chống Mỹ, và họ bị cảnh sát ngụy dùng hơi cay, lựu đạn cay, lựu đạn, lưỡi lê, dùi cui, súng đạn đàn áp thẳng tay, nhiều học trò yêu nước đã bị bắn chết chỉ vì dám biểu tình ôn hòa chống người Mỹ xâm lược. Năm 1960, Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam ra đời. Năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, đó là kết quả của sự kết hợp, tụ tập các lực lượng chính trị và quân sự ở miền Nam chiến đấu dưới 1 ngọn cờ của Mặt trận, do Mặt trận và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đó là một khối đại đoàn kết dân tộc ở miền Nam, một mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam để chống Mỹ, đấu tranh giành lại độc lập – thống nhất – hòa bình.

Những con số kỷ lục

Theo tài liệu của Việt Nam thì tổng số quân Mỹ ở VN là hơn 580.000 quân (58 vạn, chưa tính quân đồng minh và tay sai). Theo nhiều tài liệu chính thống của Mỹ thì quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam là 553.000 quân (trên 55 vạn, chỉ có quân Mỹ, không tính quân đồng minh và ngụy quân)

Như vậy, trong cuộc chiến chống Mỹ, Việt Nam phải đối phó với quân số đông đảo nhất trong lịch sử Việt Nam. Quân số ngoại xâm nhiều thứ hai là chiến tranh Đại Việt – Nguyên Mông lần thứ hai với 50 vạn quân Mông Cổ. Lưu ý thời nhà Trần chúng ta chống quân xâm lược Nguyên – Mông 3 lần, với 3 cuộc chiến khác nhau trong 3 giai đoạn lịch sử khác nhau, chứ không phải là 1 cuộc chiến tiếp nối nhau về thời gian. Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần thứ nhất là vào năm 1258, 27 năm sau xảy ra lần thứ hai vào năm 1285, 2 năm sau xảy ra lần thứ ba vào năm 1287. Trong thời gian đó có những giai đoạn thái bình, và tuy cùng một quân địch nhưng rõ ràng đó là 3 cuộc chiến tranh khác nhau, với 3 kết quả thắng – bại cùng nghiêng về phía Đại Việt. Trong trong lần xâm lược thứ hai, quân Nguyên Mông đem vào đất Việt 50 vạn quân thì đó là quân số lâu nay đông kỷ lục, đông nhất trong lịch sử VN, cho đến khi bị Hoa Kỳ vượt qua.

Trong kháng chiến chống Mỹ, quân ta ở miền Nam số lượng đông nhất vào đỉnh cao là năm 1968 cũng chỉ 28 vạn quân (theo tài liệu phương Tây), và đông nhất trên cả nước là khoảng 52 vạn quân (theo tài liệu của Mỹ, hồ sơ Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ). Trong khi tổng số quân địch gồm Mỹ (lãnh đạo cuộc chiến), đồng minh, chư hầu, và ngụy quân thì khoảng 120 vạn quân. Đó là chỉ tính số quân ngoại xâm trực tiếp tham chiến và chiếm đóng lên lãnh thổ Việt Nam. Nếu tính cả quân đội đóng ngoài biển, Hạm Đội 7, hải đảo, các căn cứ quân sự ở Thái Lan, Singapore, Philippines thường xuyên yểm trợ vào miền Nam VN cho Mỹ thì quân số có thể lên đến 150 vạn quân. Gấp 3 lần quân số ngoại xâm mà VN đã đụng độ với quân Nguyên Mông. Số lượng quân ngoại xâm đông kỷ lục, và cũng phá kỷ lục lịch sử chiến tranh chống xâm lược của Việt Nam.

Quân ta ở miền Nam cao nhất trong một thời điểm nhất định là năm 1968 là 28 vạn quân thì càng chứng tỏ khả năng nối tiếp truyền thống lấy ít địch nhiều của cha ông. Miền Nam lúc bấy giờ mỗi người dân là một chiến sĩ, một đứa trẻ cũng biết đánh giặc, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh, giặc đến nhà cụ già cũng đánh. Như Đức Thánh Trần từng nói: Cả nước là thành, toàn dân thủ thành. Hoặc như Thái sư Trần Thủ Độ nói: Mỗi làng nước Nam là một thành trì kiên cố ngăn bước chân quân thù. Trong chiến tranh Mỹ – Việt, mỗi làng xã ở miền Nam là một thành lũy ngăn giặc, làm vướng chân và thiệt hại nặng cho lũ giặc xâm lăng.

Trong cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979. Tuy tài liệu ta ghi quân số địch là khoảng 65 vạn quân. Nhưng các tài liệu của địch chỉ ghi khoảng 30, 40 vạn quân. Còn trong chiến tranh chống Mỹ 1954-1975, các tài liệu Hoa Kỳ cũng ghi nhận là khoảng 55-60 vạn quân. Do đó cuộc chiến chống Mỹ đúng là cuộc chiến mà Việt Nam phải đối phó với nhiều quân giặc nhất. Cộng với việc Mỹ là quốc gia chưa bao giờ chiến bại trước khi đụng phải Việt Nam, quốc gia hùng mạnh nhất thế giới và ngày nay vẫn giàu mạnh nhất thế giới, với một quân đội (nhất là không quân) vô địch thế giới, có thể nói đây là cuộc chiến bi hùng, bi tráng, và oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Đây cũng là cuộc chiến gây tiếng vang chấn động thế giới hơn nhiều so với cuộc chiến chống Mông Cổ ngày xưa. Ngày nay đi nhiều nơi trên thế giới, gặp gỡ và nói chuyện với người nước ngoài, đặc biệt là những trí thức, sử gia, khi nói về Việt Nam thì họ thường chỉ nói đến sự kiện Việt Nam thắng Mỹ với khẩu hiệu “Vietnam – Ho Chi Minh – Giap, Giap, Giap” chứ hiếm khi nói về cuộc chiến chống Nguyên Mông, trừ những nhà sử học nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu đặc biệt về thời nhà Trần, thời phong kiến ở Việt Nam.

Từ xưa người ta hay nói “nhiều như quân Nguyên” để chỉ cái gì đó có số lượng cao. Tuy nhiên câu này ngày nay không còn đúng nữa, có lẽ nên đổi thành “nhiều như quân Mỹ” thì mới chính xác.

Thuật ngữ “ngụy” là gì?

Gọi các chính quyền, quân đội đánh thuê của giặc xâm lược trước 1975 là “ngụy” thì có đúng lịch sử hay không, có hợp tình hợp lý hay không, có làm cho người nghe, người đọc khó chịu, phản cảm hay không, có trở ngại gì cho vấn đề đoàn kết dân tộc hay không?

Theo kinh nghiệm của người viết, những người khó chịu, mẫn cảm, dị ứng từ “ngụy” này là những người thiếu thông tin về cuộc chiến Việt – Pháp, Việt – Mỹ, mù mờ, mơ hồ, chưa biết nhiều vấn đề trong lịch sử hiện đại Việt Nam, họ không hiểu bản chất của những cuộc chiến này, họ không hiểu rõ bản chất của các ngụy quân, ngụy quyền, và họ cũng không hiểu ý nghĩa của từ “ngụy” theo góc độ thuật ngữ chính trị. Họ tưởng rằng từ “ngụy” là một từ gì đó mang tính lăng mạ, miệt thị, mạt sát v.v.

Tại Việt Nam, xưa nay do ảnh hưởng văn hóa ngôn ngữ Trung Hoa, nên trong dân gian có 2 từ “Ngụy” ( 魏, 偽 ). Nó là 2 chữ gốc Hán khác nhau, với 2 ý nghĩa khác nhau, tuy nhiên, khi chữ Hán được Việt hóa thành Hán Việt (phát âm theo lối Việt) thì đều là “ngụy”.

Một “Ngụy” ( 魏 ) là danh từ, để chỉ nước Ngụy, 1 trong 6 nước trong thời Chiến quốc (TQ), và nhà Ngụy của Tào Tháo trong thời Tam quốc (TQ), vì họ Tào cũng là dòng dõi nhiều đời của nước Ngụy. “Ngụy” này còn là một họ người thông dụng ở Trung Quốc (Ngụy Diên, Ngụy Nguyên v.v.).

Còn “ngụy” ( 偽 ) kia là một tính từ, để nói lên tính chất giả, ảo, không thật, không chính danh, bất hợp pháp, “hữu danh vô thực” của đối tượng nào đó. Nói về cái gì đó không phải thật, không có thực chất. Như “ngụy quân tử”, “ngụy trang”, “ngụy ngôn”, “ngụy biện”, “ngụy tạo”, “trá ngụy”, “ngụy quyền”, “ngụy triều” v.v. Trong hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến tranh lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam, thì dân gian Việt Nam, nhất là ở miền Nam dùng từ này quá lâu ngày thành quen miệng và nó dần trở thành một danh từ chung để chỉ ngụy quyền Sài Gòn 1954-1975. Khi nghe nói “bọn ngụy” thì hiểu ngay là người nói đang nói về ngụy quyền Sài Gòn này.

Trong lịch sử Việt Nam có 4 triều đại đã từng bị coi là ngụy triều, nhưng bản chất khác hẳn nhau. Đó là:

– Nhà Hồ và nhà Mạc, vì soán ngôi nên bị các sử gia Khổng-Nho phong kiến gọi là “ngụy triều”.

– Nhà Tây Sơn, do cả 2 đối thủ của nhau đều là họ Nguyễn. Cho nên nhà Nguyễn cho rằng mình đã là một triều đại chính thống từ thời chúa Nguyễn Hoàng, cho nên Nguyễn Tây Sơn là “ngụy Nguyễn”, còn mình mới là “chân Nguyễn”, là chính thống hoàng tộc. Các sử gia sau này còn gọi nhà Nguyễn là “cựu Nguyễn”, Tây Sơn là “tân Nguyễn” để phân biệt. Điểm khác biệt với các thời kỳ lịch sử khác là chỉ có duy nhất nhà Nguyễn gọi Tây Sơn là “ngụy”, trong phạm vi triều đình. Còn dân gian thì không gọi thế, mà họ coi Tây Sơn là anh hùng, họ xây đền thờ vua Quang Trung, bốn mùa khói nhang nghi ngút.

– Kể từ thời Tự Đức trở đi, các triều đại nhà Nguyễn sau này đều là bù nhìn của Pháp, cho nên đều bị các sĩ phu Bắc – Trung – Nam gọi đó là những ngụy triều bù nhìn. Bắt đầu từ cụ Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, cho đến nhà thơ Tú Mỡ sau này. Cụ Phan Bội Châu gọi là “ngụy triều Hiệp Hòa”, “ngụy triều Đồng Khánh”, “ngụy triều Khải Định” v.v. khi luận về phong trào Cần vương, để phân biệt các triều đình bù nhìn này với triều đình Hàm Nghi chống Pháp do Tôn Thất Thuyết phò tá.

Sau này phát xít Nhật, thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ dựng lên các ngụy quyền bù nhìn ở miền Nam Việt Nam thì chúng ta cũng gọi đó là những ngụy quyền. Có lẽ khởi đầu từ vở kịch nổi tiếng “Phá Mưu Bù Nhìn” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.

Thời đó bất kỳ lính tráng, quan chức người Việt nào dưới quyền Nhật, Pháp, Mỹ, thậm chí Tàu Tưởng, thì chúng ta gọi là ngụy. Cụ Phan Châu Trinh khi viết về sự hy sinh của tướng quân Cao Thắng trong nghĩa quân Phan Đình Phùng, cũng viết là: Cao tướng quân bị sĩ quan Pháp và vài trăm ngụy binh đón đánh. Tính từ “ngụy” này đã được dân ta sử dụng từ lâu rồi.

“Quốc gia Việt Nam”, “Việt Nam Cộng hòa” không phải là những chính quyền đúng nghĩa, đại bộ phận người dân miền Nam gọi họ là ngụy quyền, là bọn ngụy, ngụy quân … Họ không hội đủ tiêu chuẩn, điều kiện, căn cước của một chính quyền. Họ không có thực quyền. Không những họ đã không chính danh, đã được khai sinh ra một cách bất hợp pháp lên trên lãnh thổ của người khác, mà trên thực tế họ cũng không có quyền, họ chỉ làm theo ý chủ, họ không thể làm gì đi ngược lại với ý của chủ, lợi ích của chủ. Do đó họ là ngụy quyền. Người ta gọi là “ngụy quyền” là để phân biệt với những chính quyền đúng nghĩa. Ngụy quyền = chính quyền giả, ảo, chỉ có hư danh, “hữu danh vô thực”, “có tiếng không có miếng” v.v.

Ngón võ truyền thống của bọn xâm lược là đi vào đất của người khác rồi dựng lên một đám bù nhìn, tay sai, rồi gọi đó là một “chính quyền” rồi bảo rằng mình không xâm lược mà mình đang giúp cái “chính quyền” đó. Theo đó Nam Hán “giúp” Kiều Công Tiễn chứ không phải xâm lược đất Việt. Nguyên Mông “giúp” Trần Kiện, Trần Ích Tắc lên ngôi vua chứ không phải xâm lược Đại Việt. Quân Minh “phù Trần diệt Hồ” chứ không phải xâm lược Đại Ngu. Giặc Thanh “phò Lê diệt Tây Sơn”, “giúp Lê Chiêu Thống” chứ không phải xâm lược Bắc Hà. Thực dân Pháp “bảo hộ” nhà Nguyễn chứ không phải xâm lược Đại Nam. Sau này thì Mỹ là “đồng minh” của “Nam Việt Nam”, của “VNCH”, chứ không phải là xâm lược miền Nam Việt Nam, giặc bành trướng Bắc Kinh chỉ muốn “chống bè lũ Lê Duẩn”, “giúp đỡ Hoàng Văn Hoan”, “ủng hộ nhân dân VN chống Lê Duẩn”, “giúp đồng chí Hoàng Văn Hoan, người bạn tốt của nhân dân TQ, lật đổ tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ”, “dạy cho Việt Nam bài học”, “Việt Nam là côn đồ nên phải đánh” v.v. chứ không phải là xâm lược miền Bắc Việt Nam.

Để vạch trần thủ đoạn chính trị đó, từ xưa dân ta, đặc biệt các sĩ phu, các nhà nho, thường sâu sắc và thâm thúy gọi những đối tượng này là “ngụy”, “ngụy triều”, “ngụy quyền” để phân biệt với các triều đình, chính quyền thật sự. Cũng như sau thời Tự Đức thì các sĩ phu Bắc Hà và ở kinh thành Huế vẫn thường gọi các triều đình bù nhìn nhà Nguyễn dưới sự “bảo hộ” của Tây là “ngụy triều Hiệp Hòa”, “ngụy triều Đồng Khánh”, “ngụy triều Khải Định”, “ngụy quyền Bảo Đại” v.v. Dân tộc ta có kinh nghiệm lịch sử mấy ngàn năm đối phó với chính trị thâm nho Hán tộc Trung Hoa, đã nhìn thấy qua bao nhiêu chiêu bài của giặc, thì không lẽ bị hoa mắt bởi những chiêu bài chính trị, những mỹ từ chính trị bịp bợm của người Mỹ chỉ có vài trăm tuổi?

Chỉ có một bộ phận nào đó là ngộ nhận hoặc tham lam theo giặc rồi tự lừa dối bản thân, còn đại khối dân tộc ta thông minh, có nhận thức chính trị sâu sắc và sắc bén sau hàng ngàn năm giữ nước và tiền nhân đã truyền lại bao nhiêu bài học lịch sử.

Chưa nói đến các nhân sĩ, trí thức, sinh viên, những người có học vấn, ngay cả những người dân quê chân lấm tay bùn tuy họ có thể chưa đủ trình độ để diễn giải, phân tích ra được, thuyết phục ra bằng lời nói hoặc bằng chữ viết được, nhưng họ vẫn có cái nhìn “ngàn năm” đó, họ thấy, họ nghe, họ biết, họ nhận thức đúng, họ biết phải theo ai, ủng hộ ai, giúp đỡ ai, đào hầm che giấu ai, và phải chống lại ai.

Truyền thống chống xâm lược và đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam là vẫn thế, và không có chiêu bài chính trị nào có thể lừa gạt được dân tộc VN, phía xâm lược có thể lừa được, gây mơ hồ được cho một bộ phận nào đó, chứ không thể lừa dối được đại khối dân tộc, bất kể giặc xâm lược dùng cao chiêu, cách thức, phương pháp, thủ thuật chính trị nào, xâm lược dưới danh nghĩa gì, dưới bình phong nào, hay dưới hình thức nào, cũng không qua mắt được nhân dân.

Dân Việt Nam mình có thể còn kém dân trí về khoa học kỹ thuật, về văn minh đô thị, về kinh tế, về nhiều việc khác, nhưng về con mắt chính trị và quân sự (nhất là trong thời chiến, thời loạn) thì luôn rất tinh tường, do dân ta đã lăn lộn quanh nó suốt cả ngàn năm nay để vượt qua mà sống còn, sinh tồn.

Thực tế trước 1975 cũng cho thấy, ở miền Nam khi bắt liên lạc và tiếp cận với các gia đình, làng mạc để xây dựng căn cứ bí mật, nương nhờ vào sự giúp đỡ của người dân, thì chỉ cần một hoặc vài anh lính, anh chị du kích đến xin phép ngắn gọn là đủ. Không phải ngồi tuyên truyền, giải thích, phân tích gì dông dài học thuật. Không cần chính trị viên hay cán bộ Tuyên huấn nào có mặt để mà giảng giải, phân tích học thuật, thuyết phục hàn lâm gì về cuộc chiến lúc đó.

Người dân ai cũng quá hiểu cuộc chiến là thế nào, đến khi gặp quân Giải phóng, du kích quân, là họ tình nguyện giúp đỡ, nuôi giấu ngay, như một phản ứng tự nhiên, như đó là chuyện nên làm, đáng làm, đương nhiên phải làm, không có gì phải ưu tư, đắn đo, lo nghĩ, chọn lựa, hay phải ngồi đó phân tích, nghĩ ngợi xem bản chất cuộc chiến là gì, họ đã quá rõ, quá hiểu từ trước.

Sau năm 1973 thì sao, có phải là “nội chiến” không?

Cũng như trước đó, khi Mỹ chưa đổ đại quân vào, thì lúc đó có phải là nội chiến hay không? Đương nhiên là không! Vì trong bất kỳ giai đoạn nào từ 1954-1975 thì Mỹ vẫn là người lãnh đạo cuộc chiến. Đó là một cuộc chiến liên tục, tiếp nối nhau từ kháng Pháp – Mỹ đến 1954, và chống toàn Mỹ đến 1975. Quân đội “VNCH” là do thực dân Pháp thành lập, dữ kiện này ghi rõ trong sách giáo khoa Sài Gòn trước 1975 và nhiều tài liệu của các sĩ quan ngụy. Như vậy quân đội này là của Pháp. Sau đó Mỹ vào dùng và vá lại bằng tổ chức kiểu Mỹ. Nhiều tài liệu của Mỹ cũng cho biết như vậy. Trong bài “Lesson of the Vietnam War” của cựu sĩ quan Bộ quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg ghi rõ các lý do mà Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam, trong đó có lý do thứ hai: “Bởi vì việc tra tấn và giết chóc thiếu nhân tính đang được thực hiện bởi đội quân mà Hoa Kỳ trang bị, huấn luyện và trả lương.”

Trong giai đoạn 1973-1975, về cơ bản là ngụy quân vẫn chiến đấu cho Mỹ, cho quyền lợi của Mỹ, theo sự chỉ đạo của Mỹ, theo ý Mỹ, phục vụ cho chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, và vẫn do Mỹ nuôi. Mỹ buông ra là chết. Như vậy trong giai đoạn này là một hệ thống thực dân mới (người bản xứ trực tiếp chiến đấu, làm việc, quản lý, còn người chủ đứng ngoài kiểm soát, thao túng, và tài trợ, đỡ đầu, chống lưng và hưởng lợi). Giai đoạn 1964 đến 1973 là giai đoạn gần như thực dân cũ, nghĩa là Mỹ trực tiếp vào làm, trực tiếp vào đánh.

Sở dĩ Mỹ đưa gần 60 vạn quân vào miền Nam Việt Nam là để giữ cho chính quyền bù nhìn của họ khỏi bị sụp đổ. Sau này tổng thống Nixon thú nhận nếu lúc đó Mỹ không đem đại quân vào Nam thì chính quyền phục vụ cho họ sẽ sụp đổ. Sau này quân Mỹ chết quá nhiều, nhất là sau trận Mậu Thân, cả thế giới, cả nước Mỹ và Lưỡng viện Mỹ kêu ca, trong nội bộ chính quyền Mỹ mâu thuẫn trầm trọng, nên đành rút về để quân bản xứ đánh thay tiếp tục.

Bản chất cuộc chiến là xuyên suốt, không nên ngộ nhận rằng có cuộc chiến nào khác chỉ vì Mỹ “đem quân vào, rút quân ra”. Các tài liệu nước ngoài cũng không ai chia cuộc chiến này ra làm 3 giai đoạn cả. Đây là một cuộc chiến xuyên suốt đến 1975. Đối với Mỹ, chỉ có 1 Vietnam War chứ không có 3 cuộc chiến tranh khác nhau.

Ngụy Sài Gòn có phải là “đồng minh” của Mỹ?

“Đồng minh” gì mà người Mỹ tràn ngập miền Nam. “Đồng minh” kiểu gì mà suốt Hiệp định Paris về Việt Nam chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, Lê Đức Thọ và Kissinger là đàm phán, mặc cả với nhau, chứ Việt Nam DCCH không đàm phán với tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu, không quan tâm tới họ. Họ thì chỉ ngồi chầu rìa và làm cái máy ký tên theo ý Mỹ, lệnh Mỹ.

“Đồng minh” gì mà chỉ giảm viện trợ quân sự xuống 700 triệu USD là sụp đổ ngay năm đó. “Đồng minh” kiểu gì mà năm 1975 một bên có trực thăng để tẩu thoát, một bên không có trực thăng, phải bám càng, bị “đồng minh Hoa Kỳ” đạp rơi xuống không hề khách sáo. “Đồng minh” kiểu gì mà chỗ nào mà dễ chết nhất là lùa “đồng minh” của mình vào để chết thay, như trong chiến dịch Hạ Lào, Mỹ lùa lính ngụy vào vùng rừng thiêng nước độc, “đất thánh cộng sản” Hạ Lào.

“Đồng minh” gì mà ngụy quân thỉnh thoảng cứ bị không quân Mỹ “dội bom nhầm” lên đầu. Lính ngụy bị quân cảnh Mỹ đánh đập tàn nhẫn. Người Mỹ ở miền Nam chỉ tay năm ngón và muốn giết ai thì giết, từ “tổng thống”, tướng tá, sĩ quan, binh lính cho đến dân thường. Ám sát (sau đó đều không có kết quả điều tra, “không tìm ra được hung thủ”), bức tử, cách chức, lưu đày những tướng lĩnh, quan chức nào mà Mỹ không vừa ý, không bằng lòng. Bắn giết, đánh đập, cưỡng hiếp những “công dân VNCH” thường xuyên. Coi “luật pháp VNCH” như cỏ rác, đạp lên mà đi.

“Đồng minh” gì mà sinh ra gần nửa triệu con lai Mỹ, một con số kỷ lục. Và sau này tới nỗi hình thành một chương trình xuất ngoại chưa từng có trong lịch sử thế giới: Diện con lai. “Đồng minh” kiểu gì mà người Mỹ muốn đưa ai lên thì đưa, lôi ai xuống thì lôi, đặt ai lên ngôi thì đặt, phế bỏ ai thì phế bỏ, lưu đày ai thì lưu đày, muốn làm gì thì làm còn tự do hơn cả nhà mình, những hành động phế – lập này của Mỹ có khác gì Toàn quyền Đông Dương và chế độ “bảo hộ” của đế quốc Pháp trước đây khi họ tha hồ phế – lập những ông vua nhà Nguyễn? Tại nước Mỹ chắc chắn chính phủ và quân đội Mỹ không dám làm càn và lộng hành tới mức độ như thế, nhưng ở xứ thuộc địa kiểu mới thì họ tha hồ tác quái.

“Đồng minh” tới nỗi Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý với Hiệp định Paris về Việt Nam được ký giữa 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, nhưng Thiệu vẫn phải ký vào, trong lịch sử thế giới có loại “đồng minh” nào mà không đồng ý với bản hiệp định mà vẫn bị “đồng minh” bắt ký vào hay không? “Đồng minh” loại này thì cũng tương tự Trần Ích Tắc “đồng minh” của Nguyên Mông, Lê Chiêu Thống “đồng minh” của Mãn Thanh, Bảo Đại “đồng minh” của Pháp.

“Đồng minh” gì mà những chóp bu ngụy, “tổng thống” ngụy thậm chí không được hỏi ý kiến cho việc Mỹ đổ quân hay rút quân; các chiến dịch lớn phải đợi Mỹ duyệt kế hoạch trong khi chỉ huy ngụy (nếu tham gia) không được biết kế hoạch cho đến phút cuối, chiến dịch Hạ Lào (Đường 9 Nam Lào) là một ví dụ. “Đồng minh” mà người dân ngay tại xứ sở của “đồng minh” ra đường biểu tình, giương cao biểu ngữ: “Fxxx the Saigon puppet government.” (Đxx chính quyền con rối Sài Gòn).

Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và ngụy quyền Sài Gòn thực tế là quan hệ chủ tớ chứ không phải là quan hệ đồng minh đúng nghĩa, bạn bè bình đẳng. Tại miền Nam, Mỹ là chủ, Mỹ nắm vai trò chỉ đạo, giám sát, chỉ huy, quản lý, và trả lương. Ngụy quyền SG làm gì cũng phải hỏi và chờ ý Mỹ, thưa trình, chờ nhận lệnh Mỹ, chờ quyết định sau cùng (final decision) từ Tòa đại sứ, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc.

Việt Nam nhận viện trợ, giúp đỡ từ Liên Xô, Trung Quốc và một số nước khác như Đông Đức, Bắc Triều Tiên, Cu Ba v.v. đó là sự viện trợ có hoàn lại (sau chiến tranh thì VN phải trả nợ), và sự giúp đỡ không kèm theo sự áp đặt về chính trị và quân sự, cũng như đại quân của họ không được phép vào Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lãnh đạo tất cả. Tại miền Nam thì Mỹ nắm tất cả, lãnh đạo tất cả; chính trị, kinh tế, quân sự, như cựu phó tổng thống ngụy Nguyễn Cao Kỳ, cựu phó thủ tướng ngụy Đỗ Mậu, cựu tướng ngụy Nguyễn Hữu Hạnh đã thú nhận trên báo Thanh Niên, các hồi ký, và BBC.

VNDCCH nhận viện trợ và giúp đỡ vật chất từ tất cả các nước XHCN chứ không phải riêng 1 cường quốc duy nhất nào. Trong khi đó nhà cầm quyền Sài Gòn hoàn toàn lệ thuộc, dựa dẫm hẳn vào một mình chính phủ Mỹ. Mỹ chỉ cần nới lỏng tay là ngụy quyền của họ sụp đổ.

Tại miền Nam có 2 lực lượng Nam Việt Nam. Một bên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bên này dựa vào dân để sống, được dân nuôi giấu, che chở, đùm bọc, bảo vệ. Một bên là ngụy quyền Sài Gòn, tự xưng là “Việt Nam Cộng hòa”, dựa vào Mỹ để sống, được Mỹ nuôi dưỡng, cưu mang, bảo hộ, tài trợ, nắm giữ, kiểm soát, điều khiển.

Đây mới là đồng minh đích thực: Trung Quốc không giúp đỡ Việt Nam nữa và VN vẫn sống nhăn. Trung Quốc đem quân đánh VN, VN đánh cho Trung Quốc cút về nước. Liên Xô sụp đổ, Việt Nam vẫn sống dai và ngày càng khỏe hơn.

Mỹ nới lỏng tay với ngụy Sài Gòn, cắt giảm viện trợ, là ngụy Sài Gòn sụp đổ ngay lập tức. Khả năng tự tồn tại, tự sinh tồn, tự sống còn của ngụy Sài Gòn là con số 0. Sự tồn vong của họ hoàn toàn phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng của “đồng minh” Hoa Kỳ.

IV. Tổng kết

1. Nguyên nhân có cuộc chiến từ năm 1954 đến 1975 là do Mỹ đã cướp mất miền Nam của Việt Nam, cướp lấy nửa nước Việt Nam, và từ đó miền Nam Việt Nam trở thành vùng bị tạm chiếm, vùng chưa giải phóng, trong đó gồm cả những quần đảo ngoài khơi như Hoàng Sa và Trường Sa, Phú Quốc và Côn Đảo v.v. Bản chất cuộc chiến này là một cuộc chiến tranh vệ quốc giữa quân dân Việt Nam ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam và gần 60 vạn quân viễn chinh xâm lược từ Hoa Kỳ xa xôi. Ngụy quyền, ngụy quân “Quốc gia Việt Nam” rồi “Việt Nam Cộng hòa” đầu tiên do thực dân Pháp xây dựng, sau đó được đế quốc Mỹ nuôi lớn. Họ không có thực quyền, “hữu danh vô thực”, họ là những con rối, bù nhìn đúng nghĩa. Các chính thể cờ vàng ở miền Nam dưới bàn tay mẫu quốc cũng chưa bao giờ hội đủ các yếu tố, phẩm chất, thực lực, đặc điểm, giá trị, căn cước của 1 quốc gia đúng nghĩa, của 1 đất nước có đầy đủ chủ quyền, có đủ chủ quyền độc lập về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa.

2. Bản chất của cuộc chiến tranh này cũng như bản chất của các bên là như vậy, mà nó không liên quan tới kết quả thắng thua. Trong lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam có rất nhiều kẻ thắng không thành chính nghĩa, người thua nhưng không ai coi là giặc, là ngụy, trái lại được coi là anh hùng. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ngay trong lúc cuộc chiến vẫn đang diễn ra, chưa có kết quả thắng – thua, thì nhân dân cả nước, nhất là người dân miền Nam đã gọi các chính quyền và quân đội tay sai là “ngụy”.

Nhiều trí thức, nhân sĩ, học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới, kể cả nhiều người nằm trong chính quyền Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, những người thua trận, những người bên ngoài không liên quan gì tới cuộc chiến, những người không nằm trong chính quyền Việt Nam, quân đội Việt Nam, không thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban tuyên giáo TW, hay thuộc các nhóm tác giả biên soạn sách giáo khoa Việt Nam, hay thuộc các nhóm sử gia trong nước VN, cũng có quan điểm tương đồng với quan điểm chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam và quan điểm chính thống của đại đa số nhân dân Việt Nam.

3. Cả bộ máy, chế độ được giặc xâm lược thành lập nên một cách bất hợp pháp, vi Hiến và vi phạm luật pháp Việt Nam, và vi phạm tất cả các hiệp định pháp lý mà các bên liên quan đã ký. Pháp – Mỹ đã dựng và nuôi những “quốc gia” lên trên quốc gia Việt Nam đã tồn tại mấy ngàn năm và đã phục hưng nền độc lập tự chủ từ 1945. Họ đã dựng và nuôi những “nhà nước” lên trên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập từ 1945. Họ nặn ra những “Quốc hội” lên trên Quốc hội đã bầu cử toàn quốc, toàn dân vào năm 1946.

Quốc hội 1946 là Quốc hội mang tính toàn dân, cho thấy rõ ý chí và nguyện vọng của nhân dân nhất trong lịch sử Việt Nam, thời đó ở miền Nam trong các vùng tạm chiếm của giặc, người dân bất chấp bị thực dân Pháp (chính quyền Vichy thân Đức) và phát xít Nhật dội bom, khủng bố, bắn giết, dùng bạo lực phản cách mạng ngăn trở những cử tri của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Do đó những lá phiếu thời ấy ở miền Nam còn được gọi là “phiếu máu”.

Đạo diễn điện ảnh người Thụy Điển Gerald Evans sau khi đi cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thăm dân cư chung quanh cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, đã nói đại ý: Sông Bến Hải, cầu Hiền Lương đã nói lên ý chí bất khuất đến thần thánh của dân tộc Việt Nam và man rợ đến tột cùng của chính phủ Hoa Kỳ. Quân đội Mỹ thắng khắp thế giới mà chỉ thua ở Việt Nam vì VN có một nền văn hóa căn bản vững chắc lâu đời. Chứ không hẳn quân Mỹ thua vì không thiện chiến bằng, không dũng cảm bằng, không trung thành bằng, không ái quốc bằng. Cũng không thua vì du kích Việt Nam, hay thua vì rừng VN, hay vì ruồi muỗi côn trùng, vì khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt dễ gây bệnh tật, sốt rét cho người ngoài. Mỹ thua Việt Nam vì dân tộc VN có một căn bản gốc rễ, cội nguồn văn hóa vững bền và điều này đã tạo ra một ý chí sắt thép cho từng chiến binh và người dân chống lại sự ngoại thuộc. Tôi xin khâm phục.

Từ lúc Mỹ thất bại tại Việt Nam đến nay, hầu hết các giới nghiên cứu, các nhà sử học, nhà quân sự, nhà chính trị học kim cổ, Đông Tây khi tìm hiểu về lịch sử Hoa Kỳ, về nước Mỹ, về quân đội Hoa Kỳ, và về cuộc chiến xâm lược Việt Nam đều đặt ra một nghi vấn, một câu hỏi: Tại sao Mỹ thua Việt Nam?

Với 58 vạn quân tinh nhuệ, kỷ luật, có kinh nghiệm chiến trường khắp năm châu, với các tướng lĩnh, sĩ quan dày dặn kinh nghiệm khắp thế giới qua Thế chiến thứ hai và chiến trường Triều Tiên, từng chinh phục hầu hết các thế lực quân sự hùng mạnh, thiện chiến từ Á sang Âu. Một quốc gia trong lịch sử 200 năm chưa hề nềm mùi thua cuộc. Một lực lượng không quân vô địch, bất khả chiến bại, có sức mạnh áp đảo, với máy bay chiến lược B52 tối tân nhất thời đó, chưa bao giờ nếm mùi thua trận. Họ chỉ bại ở duy nhất trên mảnh đất nhỏ bé trên bán đảo Đông Dương.

Họ dùng gần 60 vạn quân trong nội địa Việt Nam, và cả nhiều căn cứ quân sự bên ngoài và chung quanh Việt Nam, tổng số gần 100 vạn quân. Với một trình độ phát triển cao hơn nhiều bậc. Với một trình độ khoa học kỹ thuật vượt trội, áp đảo, với một sức mạnh quân sự, ngân sách quốc phòng, chi tiêu vũ khí, công nghệ chiến tranh khổng lồ. Với những vũ khí hiện đại, tối tân, kể cả vũ khí sinh học hủy diệt thiên nhiên, môi trường, mầm sống, sinh vật, cây cỏ, con người, hủy rụi những rừng già thiên nhiên tồn tại hàng ngàn năm để Việt Cộng không thể ẩn thân. Để lại di hại, di chứng tàn khốc đến ngày nay và có thể ngàn năm sau. Với một nền văn minh công nghệ vượt bực và bỏ xa VN, đi trước VN rất lâu và bỏ rất xa VN lại phía sau. Nhưng họ vẫn thua.

Họ huy động một lực lượng không quân đánh đâu thắng đó, bách chiến bách thắng, chưa từng có đối thủ, với đủ mọi loại bom, từ bom Napalm đến bom bi, rải thảm lên mảnh đất nhỏ bé ở Đông Nam Á, với gần 9 triệu tấn bom, gấp 3 lần tổng số bom mà các phe rải xuống quả địa cầu trong Thế chiến II nói riêng và trong lịch sử chiến tranh của nhân loại nói chung. Tất cả số bom đó đều tập trung hợp lại dội xuống một mảnh đất nghèo nàn, điêu tàn, nhỏ bé, một mảnh đất có diện tích thua xa 1 tiểu bang Texas của Mỹ (vùng đất mà Mỹ cướp của Mexico sau khi đánh bại tướng Santa Anna). Nhưng họ vẫn thua ở Việt Nam.

Họ bỏ ra hàng tỷ đô la lập ra những quân trường rộng lớn, hoành tráng, quy mô, mô phỏng địa lý, khí hậu, thời tiết, phong thổ, rừng cây Việt Nam, hòng đối phó với chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân của VN. Xây dựng những cơ quan nghiên cứu, những nhà máy sản xuất những vũ khí đặc thù phù hợp với chiến trường Việt Nam, để chống lại con người VN. Họ làm đủ mọi cách có thể nghĩ ra, họ không bỏ qua một sơ hở nào, một yếu tố nào, một chi tiết nhỏ nào, một hòn đá nào (leaves no stone unturn), họ tận dụng mọi lĩnh vực từ chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tâm lý chiến, chiêu hồi v.v. đặc biệt là tận dụng ưu thế vượt trội về công nghệ. Họ tận dụng mọi lợi thế về khoa học quân sự, công nghệ chiến tranh. Với những lãnh đạo, tướng lĩnh, chuyên viên tài năng, chuyên nghiệp, làm việc một cách bài bản, khoa học, dưới tay là một đội quân nhà nghề không ai địch nổi.

Họ dùng Chiến tranh điện tử với Hàng rào điện tử McNamara, “cây nhiệt đới”. Dùng Chiến tranh hóa học với những chất độc sinh học, chất độc diệt rừng, hủy diệt dần mòn con người, môi trường, thiên nhiên VN, nhằm đè bẹp sức kháng cự của VN, và dùng Chất độc khai quang, Chất độc da cam (Dioxin) hủy diệt các rừng già, cây cỏ, khiến cho du kích Việt Nam mất dần chỗ ẩn thân, mai phục, phục kích.

Vẫn chưa hài lòng với 2 loại hình chiến tranh điện tử và hóa học, Hoa Kỳ còn tiến hành thêm một loại hình chiến tranh công nghệ cao, gọi là “Chiến tranh khí tượng”. Đây là một loại hình chiến tranh mà họ đã sử dụng những công nghệ tiên tiến, tối tân nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích làm đảo lộn, phá hủy môi sinh, thiên nhiên, gây lụt lội, tắc ách ở trên những tuyến của 5 con đường mòn Hồ Chí Minh chi viện từ Bắc vào Nam, đặc biệt với con đường huyết mạch Trường Sơn. Loại chiến tranh khí tượng của Mỹ được che đậy dưới từ ngữ huyễn hoặc, thơ mộng “người đồng bào trung gian” (Intermediary compatriot), chương trình mở mắt (pop eye), công trình sông Nill xanh ( Blue Nile )… Nhưng họ vẫn thua tại Việt Nam.

Đây không hẳn là từ chủ nghĩa yêu nước, mà còn là sự đấu trí. Ngoài ý chí sắt đá, một thần kinh thép, một tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thì cuộc chiến này còn nói lên bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Trong cuộc đọ sức lịch sử này, Việt Nam đã chiến thắng sức mạnh khổng lồ của Mỹ, một ký giả Mỹ đã viết: “Người Việt Nam đã cho thế giới thấy có một khoảng cách ghê gớm giữa khoa học kỹ thuật với sức mạnh thuần túy của con người. Hãy tưởng tượng xem, nếu người Việt Nam bị đánh bại thì thế giới sẽ ra sao? Chúng ta sẽ chẳng còn biết làm gì nữa ngoài việc quỳ gối trước những thần tượng của kỹ thuật.”

Đây là cuộc chiến lấy trứng chọi đá, châu chấu đá xe. Cuộc chiến mà nhiều trí thức Cơ-đốc-giáo Hoa Kỳ gọi là cuộc chiến “David vs. Goliath”. Một cuộc chiến rất không cân sức. Một cuộc chiến mà mới bắt đầu thì ai cũng tưởng rằng mình biết kết quả thắng bại. Nhưng Mỹ vẫn thua.

Chính vì vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử” đã viết nguyên văn như sau: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuấttiềm lực kinh tế quân sự.

Một số nhà nghiên cứu sử học, một số chuyên gia chính trị, quân sự Hoa Kỳ và các nước ngoài lâu nay tin rằng người Việt thắng Mỹ là vì khí hậu, phong thổ, vì du kích tài ba, giỏi ẩn thân, vì đặc công, biệt động thành liều lĩnh không sợ chết, vì tướng giỏi, vì lãnh đạo tài đức, vì thần tượng Hồ Chí Minh, vì tướng Võ Nguyên Giáp, vì sự quản lý nghiêm minh của Lê Duẩn … vì… v.v. đều không đúng hoàn toàn. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thắng Mỹ vì biết vận dụng lòng yêu nước của toàn dân, biết khai thác cái vũ khí yêu nước đó đem ra chống lại quân xâm lược Mỹ. Vũ khí yêu nước đó có được chính là từ văn hóa giữ nước giữ làng sâu xa từ ngàn xưa, sau ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ một chủ đạo dân tộc sâu sắc từ cội nguồn gốc rễ ăn sâu vào máu, vào da thịt của từng người con đất Việt, một bản sắc dân tộc, một nền văn hóa chủ đạo cơ bản vốn mạnh mẽ từ lâu đời, với cái gốc rễ vững chắc, bền chặt, từ ngàn năm nay.

Thiếu Long

—————————————————————–

Tài liệu tham khảo

Việt Nam:

– Tác giả: Hồ Chí Minh (xuất bản năm 1990, 2000, 2011) (tiếng Việt). Hồ Chí Minh toàn tập. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật.
– Tác giả: Võ Nguyên Giáp – Hồi ký: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – Năm xuất bản: 2005
– Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam – Ban biên soạn: Gs. NGND Phan Huy Lê, Nhà sử học Dương Trung Quốc, Trần Xuân Thanh – Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia – Năm xuất bản: 2010
– Chung một bóng cờ (nhiều tác giả), Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, 1995.
– Hồ Khang, Tết Mậu Thân 1968: Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hà Nội: Nxb Quân đội Nhân dân, 2005.
– Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris – Tác giả: Lưu Văn Lợi – Nguyễn Anh Vũ – Nhà xuất bản: Công an Nhân dân – Năm xuất bản: 2002
– Cuộc Đồng khởi kì diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960 – NXB Đà Nẵng – Năm xuất bản: 2006 – Tác giả: Lê Hồng Lĩnh
– Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Bến Tre – Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre – Năm xuất bàn: 1985
– Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 – Tập 1-8 – Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia – Năm xuất bản: 1996
– Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua – Nhà xuất bản Sự Thật – 1979
– Khắc Thành-Sanh Phúc, Lịch sử các nước Đông Nam Á, NXB Trẻ, 2003
– Đại Nam thực lục, Quốc sử quán triều Nguyễn
– Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Văn hóa – Thông tin, 2005

Quốc tế:

– Anderson, David L. Columbia Guide to the Vietnam War (2004).
– Berman, Larry. Lyndon Johnson’s War: The Road to Stalemate (1991).
– Ford, Harold P. CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes, 1962–1968. (1998).
– McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook.
– Logevall, Fredrik. The Origins of the Vietnam War (Longman [Seminar Studies in History] 2001).
– Carter, Jimmy. By The President Of The United States Of America, A Proclamation Granting Pardon For Violations Of The Selective Service Act, 4 August 1964 To 28 March 1973 (21 January 1977)
– McCain, John. Faith of My Fathers: A Family Memoir (1999) *Marshall, Kathryn. In the Combat Zone: An Oral History of American Women in Vietnam, 1966–1975 (1987)
– Kissinger, United States Secretary of State Henry A. “Lessons on Vietnam”, (1975) secret memoranda to U.S. President Ford
– U.S. Department of State. Foreign Relations of the United States (multivolume collection of official secret documents)
– U.S. Department of Defense and the House Committee on Armed Services. U.S.-Vietnam Relations, 1945–1967. Washington, D.C. Department of Defense and the House Committee on Armed Services, 1971, 12 volumes.
– Phim tài liệu: Vietnam – The 10,00 ngày War (Cuộc chiến 10.000 ngày), đạo diễn: Michael Mclear.
– Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing
– Neil Sheehan, A Bright Shining Lie, Random House, 1988
– Mitchell K.Hall, The Vietnam War, Pearson Education, 2007
– Michael Bibby, The Vietnam War and Postmodernity, Univ of Massachusetts Press, 2000
– James Stuart Olson, Historical Dictionary of the 1970s, Published 1999, Greenwood Press
– History Study Guides, The Vietnam War, Barnes & Noble
– Tucker, Spencer. ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1998) 3 vol. reference set; also one-volume abridgement (2001).
– Department of the Army. Report of the Department of the Army Review of the Preliminary Investigations into the My Lai Incident (Báo cáo của tướng Peers), Volumes I-III (1970).
– “American soldiers testify in My Lai court martial”. By Karen D. Smith. Dec. 6, 2000. Amarillo Globe-News.
– Neier, A. War Crimes: Brutality, Genocide, Terror, and the Struggle for Justice, Random House
– Tác giả: Teitel, Martin. “Again, the Suffering of Mylai”, New York Times, 6 tháng 6 năm 1972
– Tác giả: Đỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi – Văn Nghệ Publishing Co., 2007
– Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội – Nhà xuất bản Harper Collins, 1999 Vương quốc Anh – Tác giả: Richard H.Shultz, Jr – Dịch giả: Hoàng Anh Tuyên – Nhà xuất bản: Văn hoá – Thông tin – Năm xuất bản: 2002
– Những bí mật về Chiến tranh Việt Nam – Ts. Daniel Ellsberg – Dịch giả: Tĩnh Hà, Kiều Oanh – NXB Công an Nhân dân
– Sự lừa dối hào nhoáng – Tác giả: Neil Sheehan – Người dịch: Đoàn Doãn – Nhà xuất bản Công An Nhân Dân – Năm 2003
– 40 ngày sống với đối phương – Tác giả: Richard Dudman – Người dịch: Trần Ngọc Châu – Dương Thủy – Nhà xuất bản: Trẻ
– Những gì tôi thấy ở Việt Nam – Tác giả: Alain Wasmes – Người dịch: Nguyễn Huy Cầu – Nhà xuất bản: Công an Nhân dân – Năm xuất bản: 2004
– Nhìn lại quá khứ – Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam – Tác giả: Robert McNamara – Người dịch: Hồ Chính Hạnh, Huy Bình, Thu Thủy, Minh Nga – Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia – Năm xuất bản: 1995
– Hồ sơ mật Dinh Độc Lập (The Palace File) – Tác giả: Nguyễn Tiến Hưng – Harper & Row Publishers – 1986
– Stein, R. Conrad (1994). The Korean War: “The Forgotten War”. Hillside, NJ: Enslow Publishers
– Chen, Jian (1994). China’s Road to the Korean War: The Making of the Sino-American Confrontation. New York: Columbia University Press
– Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950-1975 – Tác giả: George C. Herring – Người dịch: Phạm Ngọc Thạch – Nhà xuất bản: Công an Nhân dân – Năm xuất bản: 2004

– Tài liệu Internet

Nguồn: Thiếu Long’s blog

Advertisements

One thought on “Nhìn lại sự thật lịch sử để hòa hợp dân tộc Việt Nam

  1. Pingback: 9 điểm khác biệt lớn về cuộc chiến tranh ở Việt Nam và cuộc chiến tranh của Triều Tiên | Chiến tranh Việt Nam

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s