Tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
THẮNG LỢI VĨ ĐẠI, BÀI HỌC LỊCH SỬ(1)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu trưng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”.

Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã đối diện với những thách thức ghê gớm: một nghìn năm Bắc thuộc; một nghìn năm bảo vệ độc lập chống lại các triều đại phong kiến phương Bắc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên – Mông – đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XIII; gần một trăm năm chống ách thống trị thực dân và chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và hai mươi mốt năm chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.

Việt Nam trở thành tiêu điểm của một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là nơi đọ sức điển hình giữa tiến bộ và phản động, giữa chính nghĩa và phi nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy âm mưu can thiệp đen tối của Mỹ từ cuối cuộc chiến tranh Đông Dương. Để tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ Tơruman. Trên chiến trường Điện Biên Phủ còn chưa tan mùi thuốc súng, Người đã dặn “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”, “Chúng ta còn phải đánh Mỹ!”.

Tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu họp trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết mấy ngày, Đảng ta đã xác định: “Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”.

Kế thừa những thành quả của cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dân tộc ta bước vào một cuộc kháng chiến chống Mỹ, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Đội ngũ lãnh đạo Đảng và quân đội ta đã dày dạn kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến và chiến tranh cách mạng. Quân và dân ta trong cả nước đã trải qua thử thách và trưởng thành nhiều mặt sau 9 năm chống Mỹ trường kỳ.

Bác Hồ và Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối cách mạng trong giai đoạn mới: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; miền Bắc có vai trò quyết định nhất, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. đó cũng là ý chí mọi người con Việt Nam: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Đảng ta đã kết hợp và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, xây dựng liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, đoàn kết với các trào lưu cách mạng trên thế giới, với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hình thành và phát triển một mặt trận rộng lớn của nhân loại yêu chuộc hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược.

Bác Hồ và Đảng ta đã xây dựng cho toàn quân, toàn dân ta từ Nam chí Bắc “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trên cơ sở truyền thống quật cường bất khuất, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam.

Quyết đánh và biết đánh, anh dũng và thông minh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và năng lực sáng tạo là bản lính và trí tuệ Việt Nam, là sức sống mãnh liệt của dân tộc để vượt qua thử thách lịch sử này.

Quyết đánh và biết đánh là quá tình sáng tạo, sáng tạo của lãnh đạo và sáng tạo của quần chúng trên cơ sở đi vào thực tiễn chiến đấu, phát hiện và nắm vững quy lụật thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng, biết địch biết ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng thực tế hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch, tập trung đánh đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, kiên trì giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.

Dưới ánh sáng “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn năm 1956, đặc biệt là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng năm 1959, đồng bào miền Nam anh dũng đã tự lực vượt qua thời kỳ đen tối, vùng lên khởi nghĩa từng phần; làm tan rã bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở, giành lại phần lớn nông thôn.

Cao trào Đồng khởi vĩ đại đã đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, vô hiệu hóa chế độ thống trị độc tài thực dân kiểu mới do Mỹ dựng lên.

Năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời tập hợp ý chí và sức mạnh to lớn của mọi tầng lớn nhân dân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng.

Năm 1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên toàn miền Nam, thúc đẩy cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới.

Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, một hình thức trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” dùng để đối phó lại trào lưu cách mạng trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Đánh bại “chiến tranh đặc biệt” là một quá trình phát triển sáng tạo từ đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. Với phương châm “Hai chân, ba mũi, ba vùng” tổng kết từ thực tiễn, quân và dân miền Nam đã đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, bẻ gãy các cuộc càn quét của quân ngụy, phá rã hệ thống ấp chiến lược, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận ở nông thôn và thành thị, từng bước phát triển đấu tranh vũ trang.

Năm 1963, thắng lợi vang dội trong trận chống càn tại Ấp Bắc đã chứng minh khả năng đánh thắng quân ngụy có cố vấn Mỹ giúp bằng chiến tranh du kích. Các chiến dịch tiếp theo Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, tiêu diệt từng tiểu đoàn đến chiến đoàn quân ngụy đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải thay đổi chế độ ngụy quyền, quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Năm 1965, bằng quyết định đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh tại một nơi cách Mỹ nửa vòng trái đất, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” với sự tham chiến trực tiếp trên quy mô lướn của Lục quân, Hải quân và Không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, phát động cuộc “chiến tranh phá hoại” ác liệt bằng không quân và hải quân ra miền Bắc Việt Nam, chính quyền Giônxơn đặt mục tiêu đầy tham vọng là đập tan ý chí giải phóng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, thiết lập tiền đồ thực dân mới và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, chặn đứng phong trào giải phóng dân tộc trên quy mô toàn cầu.

Cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ bắt đầu.

Dân tộc ta đứng trước một thách thức chưa từng có trong lịch sử.

Bác Hồ và Đảng ta đã đánh giá tình hình cục diện mới một một cách bình tĩnh, sáng suốt, tạo sự nhất trí cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toan dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Năm 1966, tại “Hội nghị Diên Hồng của thời đại Hồ Chí Minh”, tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” của Cách mạng Tháng Tám “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của kháng chiến chống Pháp đã biến thành lời Hịch “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.

Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, hiểm nghèo, dân tộc ta đã tỏ rõ bản lính quyết đánh và biết đánh. Cả nước đánh Mỹ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trên miền Bắc, quân dân ta “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, hậu phương lớn bảo đảm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các thế hệ nối tiếp nhau “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Các trận đánh ở Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bầu Bàng là những cuộc đọ sức đầu tiên làm lộ những điểm yếu cụ thể của quân viễn chinh Mỹ. Trên miền Bắc, chúng ta đã đánh trả quyết liệt không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi máy bay hiện đại, bắt sống phi công Mỹ. Dưới mưa bom bão đạn, sự chi viện chiến lược cho miền Nam vẫn được tăng cường từng ngày qua tuyến vận tải Trướng Sơn và những đoàn tàu không số trên biển Đông.

Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất trừ bom nguyên tử; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên tới hơn nửa triệu quân với một lực lượng lớn hải quân, không quân chiến lược, chiến thuật, 7 vạn rưỡi quân các nước theo Mỹ và hơn một triệu quân ngụy, một quân số kỷ lục cho cuộc chiến tranh cục bộ. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm và thành phố, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên… Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với ta.

Trong tính toán chiến lược của đế quốc Mỹ, với sự huy động tiềm lực nhân lực và vật chất khổng lồ như vậy, sau hai hoặc ba mùa khô chúng sẽ đánh gãy xương sống quân chủ lực Việt cộng, tiêu diệt Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, tàn phá và phong tỏa miền Bắc, cắt đứt đường Hồ Chí Minh, găn chặn sự chi viện Bắc Nam, làm lung lay ý chí kháng chiến của chúng ta, áp đặt lại chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.

Trải qua hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với những cuộc hành quân lớn như Attenbôrô Gianxơnxiti và quân Mỹ không những không diệt được Quân giải phóng, không bắt được cơ quan đầu não kháng chiến, ngược lại phải chịu những tổn thất nặng nề.

Trên mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị, chúng ta đã giành thắng lợi áp đảo trong những cuộc đối đầu quy mô và ác liệt giữa các đơn vị chủ lực ta và các sư đoàn chiến đấu tinh nhuệ của quân viễn chinh Mỹ, có ưu thế tuyệt đối về khả năng cơ động đường không, hỏa lực phi pháo và bảo đảm hậu cần. Trong các chiến dịch Sa Thầy năm 1966, Đăk Tô năm 1967, A Sầu – A Lưới năm 1969, ta đã hạn chế được chỗ mạnh của quân Mỹ trên chiến trường rừng núi, dụ địch vào bẫy chiến dịch, vận dụng chiến thuật “vận động tấn công kết hợp chốt” giáng cho địch những đòn tiêu diệt bất ngờ nhất. Đây là sự phát triển mới của chiến lược quân sự, của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, ”lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh” trong chiến tranh hiện đại.

Đến mùa khô thứ ba, khi Mỹ chưa kịp ra tay và tập trung chú ý vào căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, đồng loạt đánh vào tất cả các đô thị miền Nam. Đây là đòn chiến lược bất ngờ làm rung chuyển toàn nước Mỹ. Tướng Mỹ Oétmôlen bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng MácNamara từ chức. Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20, chấp nhận vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một sáng tạo quân sự độc đáo, tạo ra bước ngoặt cơ bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra quá trình “xuống thang chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh bại một bước ý chí xâm lược của Mỹ trong lúc quân Mỹ đông nhất, mạnh nhất và những cố gắng chiến tranh cao nhất. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, chính quyền Mỹ phải “phi Mỹ hóa” – “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là cuộc đọ sức dai dẳng và quyết liệt trong một giai đoạn rất khó khăn của cuộc kháng chiến. Địch dùng quân ngụy được hỏa lực Mỹ yểm trợ xâm lược Campuchia, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tăng cường cố gắng “b́ình định” miền Nam, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng bộc lộ trong tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Sát cánh cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em, tăng cường sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, chúng ta đã từng bước khôi phục lại cơ sở chiến tranh nhân dân ở những nơi bị suy yếu, giành lại chỗ đứng của quân chủ lực ở nhiều vùng nông thôn.

Xuân năm 1969, trong thơ chúc mừng năm mới Bác Hồ có câu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Người đã vạch ra quá trình chiến lược hai bước để tiến tới thắng lợi cuối cùng. Trong câu đầu tiên của Di chúc, Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.

Quân và dân ta đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác. Sau khi cùng quân và dân Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 – Nam Lào năm 1971, đầu năm 1972, chúng ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.

Tháng 12-1972, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng.

Tháng 1-1973, chính quyền Níchxơn buộc phải ký Hiệp định Hòa binh Pari, rút hết quân Mỹ về nước trong khi quân chủ lực ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên một sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng có lợi cho ta trong 18 năm kháng chiến chống Mỹ.

Trận quyết chiến chiến lược Mùa Xuân 1975 đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo những trận then chốt, đặc biệt là nghệ thuật điều hành chiến tranh ở giai đoạn cuối. Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược về thế và lực ở cả hai miền Nam – Bắc, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng chiến thắng Buôn Mê Thuột đã tạo ra sự đột biến trong cuộc diện chiến tranh

Nhạy bén nắm bắt thời cơ và chủ động tạo ra thời cơ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược theo nhịp độ thay đổi nhanh chóng của chiến tranh, thay đổi quyết sách từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong vòng hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm. Và sau thắng lợi của chiến dịch Huế – Đà Nẵng, hạ quyết tâm cuối cùng giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.

Với khí thế “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy sau 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tấn công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị tiêu diệt và tan rã, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Ngụy quyền sụp đổ. Những tên xâm lược Mỹ cuối cùng phải tháo chạy khỏi đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ huy ở tầm vĩ mô của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng, các Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh các chiến trường, Bộ Tư lệnh các chiến dịch và đường Trường Sơn… và thắng lợi của hoạt động chiến đấu ngoan cường và đấu tranh sáng tạo của từng chiến trường, từng đơn vị… không chỉ riêng một chiến trường nào, một bộ phận nào. Thắng lợi này là kết quả của toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài của nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ.

Vì sao nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay, vùng lên bẻ gãy gông xiềng nô lệ, lại đánh thắng hai đế quốc to trong một cuộc chiến tranh không cân sức, giành lại non sông đất nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội?

Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi này, phải nhìn sâu vào chiều dày lịch sử hàng nghìn năm, vào nền văn hóa dân tộc, tìm hiểu truyền thống và di sản quân sự của dân tộc Việt Nam và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Một điều hiếm thấy trong lịch sử các bộc tộ người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, một nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, cố kết với nhau trong một quốc gia dân tộc thống nhất, chống lại thiên tai và giặc ngoại xâm. Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta không bị đồng hóa và đã vùng lên giành lại nền độc lập. Cho đến khi vị tổ Trung hưng đầu tiên là Anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì kỷ nguyên một nghìn năm độc lập tự chủ đã được mở ra. Suốt trong một nghìn năm ấy, dân tộc ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần, từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh, quân Mông – Nguyên – đội quân xâm lược mạnh nhất thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều lãnh thổ từ Á sang Âu.

Mỗi khi kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức” bảo vệ xã tắc. Từ Hịch tướng sĩ và Di chúc Canh Tý đến Bình Ngô đại cáo, một học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành: “Trăm họ là binh”, “Lấy đoản binh chống trường trận”, “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Học thuyết đó đã dẫn dắt các cuộc đấu tranh giành lại và giữ vững chủ quyền dân tộc với những tư tưởng vượt thời đại: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “Dập tắt muôn đời chiến tranh”, “Đem lại thái bình muôn thuở”.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, có sự phát triển mới về bản chất so với các thời kỳ lịch sử trước là: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, đem lại tự do và ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng chính nghĩa, thực sự vì dân và do toàn dân tiến hành. Sự thay đổi về bản chất đó là giải phóng sức mạnh tinh thần và vật chất vô cùng to lớn của nhân dân ta trong cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Trên nền tảng tinh thần quyết chiến thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, tư tưởng cơ bản của học thuyến quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc. Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ viết: “cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân”(1). Người kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân pháp: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”(2). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Người khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là một cuộc chiến tranh nhân dân. “31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ cứu nước”(3). Người nêu cao chính sách đại đoàn kết dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công”(4).

Chúng ta đã kế thừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc truyền thống của dân tộc “lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu đánh mạnh”, sáng tạo ra hàng loạt cách đánh thông minh của các lực lượng vũ trang, của mọi quân binh chủng, của từng cán nhân chiến sĩ,… đem ý chí quyết thắng và trí tuệ của ta để chiến thắng mọi chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật hiện đại của quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần.

Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự của Bác Hồ, sự nôn nóng chủ quan và không sát thực tiễn, có lúc có nơi đã hạn chế không ít thắng lợi và dẫn đến tổn thất.

Trong thời kỳ đầu chiến tranh, nhiều cán bộ quân sự ở chiến trường đã hiểu sai mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, chỉ chủ trương đấu tranh chính trị và dân quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực. Đảng ta không bao giờ có một chiến lược quân sự thuần túy, đồng thời chưa bao giờ hạn chế đấu tranh vũ trang trong phạm vi chiến tranh du kích. Đối mặt với sức mạnh vật chất to lớn của đối phương, chỉ có xây dựng bộ đội chủ lực từ đại đội, tiểu đoàn đến những sư đoàn, quân đoàn mạnh, mới đủ sức đánh những đòn tiểu đoàn lớn quyết định chiến trường. Quan điểm này cũng dẫn đến những cố gắng lớn lao khắc phục tổn thất do địch đánh phá, quyết đưa tuyến vận tải Trường Sơn lên cơ giới hóa, đáp ứng yêu cầu chiến lược của chiến trường miền Nam.

Lại do chủ quan duy ý chí, không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nên đã chủ trương tiến hành tổng khởi nghĩa, bộc lộ toàn bộ cơ sở cách mạng của quần chúng trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn một triệu quân Mỹ – ngụy và các nước chư hầu. Việc tiếp tục kéo dài tấn công vào các đô thị, chậm chuyển hướng hoạt động về nông thôn trong Mậu Thân 1968 đã gây ra nhiều tổn thất về thế và lực cho cách mạng.

Áp dụng sai tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cũng là bài học phải trả giá bằng xương máu. Tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng là tiến công, còn hình thức tác chiến thì có tiến công và phòng ngự cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Việc phủ nhận phòng ngự, thậm chí coi phòng ngự là hữu khuynh đã dẫn đến thương vong cho bộ đội trong một số trận đánh.

Trong suốt quá tình chiến tranh 30 năm, Học thuyết quân sự Việt Nam luôn bám sát mục tiêu cam, xuất phát từ thực tiễn cụ thể của chiến tranh, tìm ra quy luật hành động. Trên cơ sở thế trận và sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn giữ thế chủ động trên chiến trường trong mọi tình huống, buộc địch phải bị động đối phó theo chiến lược và cách đánh của ta. Kẻ địch muốn đánh nhanh nhưng lại buộc phải kéo dài chiến tranh, muốn tạo nên hình thái chiến tranh có chiến tuyến thì lại phải tác chiến trong thế xen kẽ, cài răng lược, muốn tập trung lực lượng thì lại bị chiến tranh nhân dân của ta căng ra trên các chiến trường… Mọi tính toán chiến lược của bọn xâm lược đều sai lầm. Càng cố gắng, địch càng sa lầy và bất lực, dẫn đến thất bại cuối cùng không thể tránh khỏi trên chiến trường Việt Nam.

Bước vào thế kỷ XXI, cục diện thế giới đang có những biến chuyển to lớn. Bên cạnh nguyện vọng và xu hướng xây dựng một thế giới hòa bình và công bằng của đại đa số các dân tộc và loài người tiến bộ, các siêu cường và các thế lực hiếu chiến cùng các tập đoàn công nghiệp quân sự siêu quốc gia đang muốn thiết lập một trật tự thế giới mới trong điều kiện toàn cầu hóa toàn diện do họ chi phối, đồng thời gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược, kích động ly khai, xung đột sắc tộc và tôn giáo, hoạt động bạo loạn lật đổ, phục vụ những mục tiêu bá quyền, lôi cuốn thế giới vào cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có. Môi trường an ninh thế giới biến đổi khôn lường.

Trong tình hình mới hiện nay, đánh giá đúng những thay đổi của tình hình để thích nghi với sự phát triển và vận động của chiến tranh hiện đại, xây dựng và hoàn thiện Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại mới, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và khả năng giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dù hiện đại đến đâu và bất kể từ đâu tới.

Ngày toàn thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử như một sự kết thúc trọn vẹn của cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn khát khao hào bình, đã phải trải qua cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ. Với ba mốc son Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Điện Biên Phủ và Mùa Xuân 1975 toàn thắng, dân tộc ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước, đất nước ta sạch bóng quân thù, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập thống nhất.

Trên phạm vi thế giới, lần đâu tiên trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến đã vùng lên tự giải phóng và liên tiếp đánh thắng hai cường quốc đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình. Cụm từ “Việt Nam – Hồ Chí Minh” đi vào ngôn ngữ của các dân tộc đồng nghĩa với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người. Thắng lợi của nhân dân ta cũng là thắng lợi của nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.

Thắng lợi của chúng ta khẳng định một chân lý thời đại: “Bất kỳ một quốc gia nào dù có hùng mạnh đến đâu, nếu dùng bạo lực để áp đặt ý chí của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định thất bại”. Điện Biên Phủ, và kết cục chiến tranh trong Mùa xuân 1975 là những Điểm hẹn mà Lịch sử giành cho những cuộc chiến tranh xâm lược.

30 năm sau ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng đang tiến tới kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những thay đổi sâu sắc trên đất nước.

60 năm sau, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta và nhân dân ta vẫn đang nỗ lực đưa vào cuộc sống những tư tưởng đi trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước. Ngay sau ngày độc lập và cũng là ngay trước khi dân tộc ta sắp phải bước vào cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối phát triển mối quan hệ hòa bình hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời thực hiện hòa những bước đi đầu tiên để thiết lập một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, hòa hợp, văn minh và hạng phúc cho nhân dân.

Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, giành được nhưng thắng lợi to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đối ngoại, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Tuy nhiên, dù thành tích đạt được to lớn như thế nào, chúng ta cũng phải dũng cảm nhìn vào thực trạng tụt hậu của đất nước ta so với các nước phát triển, khắc phục bằng được những cản trở trên con đường tiến lên. Đó là sự yếu kém về trình độ quản lý và lỏng kẻo kỷ cương, sự lạc hậu về công nghệ và khả năng cạnh trang của nền kinh tế chậm phát triển, tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những suy thoái đạo đức và tệ nạn xã hội do lối sống hưởng thụ mang lại. các thế hệ ngày nay hãy kế tục truyền thống của cha anh, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những trở lực, phấn đấu rèn đức, luyện trí, luyện tài, sống có hoài bão, thi đua lập nghiệp lớn trên mọi lĩnh vực, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta tiến nhanh và vững, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong ước.

Kỷ niệm toàn thắng 30 tháng Tư, chúng ta càng nhớ đến Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh, các cán bộ lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các chiến trường, những người đã có những đóng góp lớn lao cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc mà ngày nay không còn nữa.

Chúng ta vô cùng xúc động nhớ tới biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng để Tổ quốc ta, nhân dân ta có được ngày nay. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước cùng toàn thể đồng bào trong cả nước lời thăm hỏi ân cần và lòng biết ơn sâu sắc.

Tôi thân ái gửi tới cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, các đồng chí thương bệnh binh, các cựu chiến binh, các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc màu da cam, các cựu chiến binh, nam nữ thanh niên xung phong, dân công, giao liên, lời thăm hỏi ân cần và những tình cảm thân thiết nhất.

Tôi xin gửi tới nhân dân các nước anh em cùng bạn bè quốc tế lời cảm ơn chân thành về sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn và quý báu đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Nhân dịp này, chúng ta kêu gọi Mỹ và các nước đã tham gia với Mỹ trong cuộc chiến tranh tội ác ở Việt Nam, hãy thực hiện nghĩa vụ pháp lý và nhân đạo của họ, bằng mọi cách giúp đỡ nhân dân Việt Nam hàn gắn những vết thương và khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước, giúp những nạn nhân của cuộc chiến tranh trở lại cuộc sống bình yên.

Tôi tin tưởng vững chắc rằng, dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, với hoài bão lớn, kiên định trong mọi tình huống, phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến ước mơ thành hiện thức, tiếp tục tiến lên vững chắc trong sự nghiệp đổi mới, làm cho nước ta, một nước anh hùng nhưng còn nghèo sớm khắc phục tình trạng lạc hậu, đuổi kịp và sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới, trở thành một nước anh hùng, giàu mạnh, cho toàn dân ta được sống hạnh phúc trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.
(2) Sđd, t.4, tr.480.
(3) Sđd, t.12, tr.323.
(4) Sđd, t.10, tr.67.

(1) Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa Xuân 1975 – Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15-4-2005, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 234, tháng 4 năm 2005, tr.7-13, 37.

One thought on “Tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử

  1. Pingback: Phim tài liệu Việt Nam: Lời nguyền chiến thắng | Chiến tranh Việt Nam

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s