Đại tá Trần Văn Tâm nói về địa đạo dài nhất được công nhận kỷ lục châu Á

Đại tá Trần Văn Tâm nói về địa đạo dài nhất được công nhận kỷ lục châu Á

Nhân sự kiện địa đạo Củ Chi được nhận bằng kỷ lục châu Á vào ngày 26.5.2012 tới tại Khách sạn Rex, Đại tá Trần Văn Tâm – Giám đốc Khu di tích lịch sử địa đạo Củ chi đã dành cho Cổng thông tin điện tử Kỷ lục cuộc trao đổi về địa đạo này qua nội dung dưới đây:

Chào ông, xin ông cho biết địa đạo Củ Chi được nhân dân khởi công đào từ năm nào, lúc bấy giờ có chiều dài và độ sâu bao nhiêu?

– Sau Nam kỳ khởi nghĩa, địa đạo Củ Chi hình thành từ hai vùng: 1. Vùng địch chiếm: Từ những căn hầm bí mật đào thông nhau bởi một đoạn hào, trên đoạn hào lát cây ngang qua rồi lắp đất lên, đi phía dưới. 2. Vùng giải phóng: Đào một đường hào dài vài trăm mét, trên hào lát cây ngang, lắp đất lại, đi lại ở dưới đoạn hào đó. Qua những trận càn quét của thực dân Pháp địa đạo rất dễ bị phát hiện và bị thiệt hại. Đến năm 1948, địa đạo Củ Chi chuyển sang đào sâu xuống từ 2,5m – 3,5m rồi đào khoét vô theo hướng phải, trái. Địa đạo được đào đầu tiên ở hai địa điểm: ấp Bà Giã, xã Phước Vĩnh An và ấp Cây Da, xã Tân Phú Trung, sau đó phát triển ra các xã khác.

Kết thúc thời kỳ chống Pháp, ở Củ Chi mới có 48km địa đạo. Do cường độ chiến tranh lúc này chưa ác liệt nhiều nên cấu trúc địa đạo cũng đơn giản.

Đến thời chống Mỹ, địa đạo Củ Chi có mấy khu, hệ thống địa đạo có mấy tầng, khoảng cách giữa tầng này với tầng kía là bao nhiêu mét? Tổng chiều dài đường hầm “xương sống” và các đường hầm nhánh? Hiện nay chiều dài ấy còn lại bao nhiêu kilômet, thưa ông?

– Trong thời kỳ chống Mỹ, địa đạo Củ Chi có hai khu:

+ Bến Dược: Căn cứ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định.

+ Bến Đình: Căn cứ Huyện ủy Củ Chi.

Lúc này, cường độ chiến tranh từng bước diễn ra ngày càng quyết liệt. Qua rút kinh nghiệm trong thời kỳ chống Pháp, cấu trúc địa đạo ngày càng phức tạp, kiên cố hơn, vững chắc hơn và bất ngờ hơn để đánh địch ở mọi lúc, mọi nơi.

Giai đoạn 1961 – 1965, Mỹ – ngụy tiến hành chiến lược Chiến tranh đặc biệt: Quân ngụy trực tiếp chiến đấu dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ nên cường độ chiến tranh có ác liệt nhưng chưa đến đỉnh cao. Vì vậy, địa đạo Củ Chi có cấu trúc chưa hoàn hảo, chỉ hình thành được đường địa đạo “xương sống” có độ sâu từ 2,5m – 3,5m, nối liền 6 xã phía Bắc Củ Chi địa đạo chỉ thông nhau trên địa bàn 2 ấp gần nhau của 2 xã gần nhau).

Giai đoạn 1966 – 1972, giai đoạn này địa đạo đã thông nhau với các công trình dưới lòng đất như: hầm làm việc, hầm sinh hoạt, hầm ăn uống, hầm nghỉ ngơi… chưa có nắp trầm, nắp bổng, hầm chông, đoạn eo, bẫy gài trong địa đạo. Riêng địa đạo nhánh (của từng ấp, từng cơ quan, từng đơn vị), nơi nào địa đạo có 2 – 3 độ sâu (từ 6m – 8m) mới có ụ, ổ chiến đấu, nắp trầm, nắp bổng.

Khi Mỹ – ngụy thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, quân Mỹ trực tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá thường xuyên vào vùng giải phóng. Từ đó, cường độ chiến tranh từng bước được đẩy lên đến đỉnh cao của sự ác liệt. Rút kinh nghiệm qua thiệt hại của giai đoạn trước, giai đoạn này cấu trúc địa đạo có sáng tạo hơn, vững chắc, kiên cố hơn, liên hoàn dưới lòng đất, trên mặt đất thành hệ thống “địa đạo chiến”. Chiến hào được thông với ụ, ổ chiến đấu, các hầm thông với địa đạo cộng với các bãi tử địa, các loại cạm bẫy đảm bảo Tiến có thế công, lui có thế thủ, bất luận trong tình huống nào cũng giữ được thế chủ động tấn công địch.

Giai đoạn 1973 – 1975, chỉ sử dụng hệ thống địa đạo cũ có từ trước (1966 – 1972 ), không đào địa đạo mới nữa.

Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân và dân Củ Chi đào trên 250km đường hầm. Hiện nay, địa đạo được bảo tồn khoảng 10km để phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ Việt Nam và du khách quốc tế đến tham quan.

Ở tầng 3 địa đạo, một người chỉ có thể bò hoặc đi lom khom khi di chuyển

Thưa ông, để chống lại sự càn quét liên tục của địch ở địa đạo như: dùng chó phát hiện miệng địa đạo, gieo cỏ phá địa hình, dùng “đội quân chuột cống”…, quân và dân ta đã áp dụng những chiến thuật phản kích nào để địa đạo tồn tại đến ngày toàn thắng?

– Muốn đánh phá được địa đạo, Mỹ – ngụy thường thực hiện các bước sau: Nắm tình hình, thu thập tin tức từ những tên chiêu hồi, đầu hàng hoặc dùng tiền của dụ dỗ gia đình cán bộ, du kích bị gom vào ấp chiến lược; Sử dụng đội quân “chuột cống” và chó nghiệp vụ phát hiện hơi người qua lỗ thông hơi và cửa bí mật lên xuống địa đạo;Rải “cỏ Mỹ” để mùa mưa phát hiện lối hành quân của du kích. Mùa nắng thì đốt cỏ cháy hết để phát hiện du kích và căn cứ của ta.

Khi phát hiện nơi có địa đạo (hoặc nghi ngờ có địa đạo), Mỹ – ngụy tiến hành các thủ đoạn đánh phá sau: Gọi máy bay đến ném bom, gọi các cụm pháo chung quanh bắn tới với các cỡ bom pháo lớn khoan sâu xuống đất và nổ chậm để phá địa đạo; Huy động lực lượng, phương tiện để bơm nước, xông khói, hơi độc, hơi ngạt xuống địa đạo; Tập trung xe ủi, xe tăng hạng nặng xới, ủi, chà đi, xát lại để phá địa đạo.

Những loại bom đã được địch ném xuống vùng đất Củ Chi hòng phá hủy địa đạo nhưng đều thất bại

Về phía ta, cách phòng chống Mỹ – ngụy đánh phá địa đạo là kiên quyết đánh trả địch mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi loại vũ khí, bằng mọi cách đánh, kiểu đánh; Ở thì phân tán – đánh thì tập trung. Làm nắp trầm, nắp bổng ngay chỗ lên xuống giữa hai độ sâu để chống Mỹ – ngụy bơm nước, xông khói, hơi độc, hơi ngạt xuống địa đạo. Đào nhiều hầm chông, đoạn co, đoạn nút, các loại cạm bẫy để tiêu diệt lính Mỹ – ngụy khi chúng chui xuống địa đạo tìm theo du kích hoặc ít ra cũng làm chậm bước tiến của chúng.

Bên cạnh địa đạo chính phải có địa đạo phụ. Thực hiện tốt khẩu hiệu 5 không: Đi không dấu – nấu không khói – nói không to – ho không tiếng – giếng không mòn. Sử dụng ớt, tiêu xay nhuyễn, quần, áo, xà phòng, khăn mặt lính Mỹ thường dùng bỏ lại trên chiến trường, cắt nhỏ ra, đặt quanh lỗ thông hơi và cửa lên xuống địa đạo để chống chó nghiệp vụ.

Lỗ thoát hơi được ngụy trang thành ổ mối

Sau năm 1975, Địa đạo Củ Chi trở thành Khu di tích lịch sử và du lịch nổi tiếng của TP. Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung. Ông hãy cho biết việc trùng tu, nâng cấp địa đạo đã được Ban quản lý Khu di tích địa đạo tiến hành qua mấy giai đoạn và hiện nay ra sao?

– Ngay từ ngày giải phóng, Thành ủy – UBND, Bộ CHQS TP. Hồ Chí Minh (nay là Bộ Tư lệnh thành phố) và Huyện ủy – UBND huyện Củ Chi có chủ trương giữ gìn di tích lịch sử địa đạo Củ Chi (Bến Dược và Bến Đình) để tôn tạo, bảo tồn.

Đến năm 1978 mới có kế hoạch sửa chữa một số căn hầm và đường địa đạo, đồng thời đã tiếp một số đoàn khách quốc tế, một số đoàn cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cựu chiến binh về thăm căn cứ cũ – chiến trường xưa. Do nhu cầu tham quan tìm hiểu, nghiên cứu ngày càng tăng của khách, nên đầu năm 1980, Thành ủy và Bộ CHQS TP. Hồ Chí Minh có chủ trương lập kế hoạch khôi phục tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp và qui tập hiện vật về khu di tích.

Đầu năm 1990, được UBND TP. Hồ Chí Minh cho phép liên doanh với Công ty Du lịch thành phố để khai thác lượng khách trong và ngoài nước đến với địa đạo và bắt đầu thu phí tham quan (khách Việt Nam gần như miễn phí).

Đến năm 1994, UBND TP. Hồ Chí Minh quyết định đổi tên từ Xí nghiệp liên doanh Du lịch 87 thành Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi trực thuộc Bộ CHQS Thành phố và được hạch toán độc lập, là Đơn vị sự nghiệp có thu. Nhiệm vụ chính của Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi là tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Củ Chi nói riêng và cả nước nói chung trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và đế quốc Mỹ cho du khách trong và ngoài nước đến tham quan tìm hiểu địa đạo.

Hiện nay, Ban giám đốc Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi luôn chú trọng đến công tác giữ gìn, tôn tạo các công trình di tích lịch sử, sưu tầm hiện vật trưng bày và đầu tư xây dựng thêm nhiều công trình phục vụ công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng như: Khu tái hiện Vùng giải phóng Củ Chi; sa bàn tam giác sắt; hồ mô phỏng Biển Đông và ba mô hình thu nhỏ đặc trưng của ba miền (miền Bắc: Chùa Một Cột; miền Trung: Ngọ Môn Huế; miền Nam: Bến Nhà Rồng); phục hồi, trùng tu Di tích lịch sử Trụ sở Phái đoàn liên lạc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tại số 87A Trần Kế Xương, phường 7, quận Phú Nhuận; Khu truyền thống cách mạng Sài Gòn – Gia Định; tái hiện, tôn tạo Di tích lịch sử chiến khu Rừng Sác huyện Cần Giờ; mở rộng Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi (125ha) tại xã Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương để để tái hiện khu căn cứ hoạt động bám trụ vùng sông nước ven đô Sài Gòn… và mở rộng các loại hình dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí của du khách như: Hồ bơi, Trường bắn thể thao quốc phòng, bắn súng đạn sơn, nhà hàng, dịch vụ canô du ngoạn ngắm sông Sài Gòn, chèo thuyền kayak, bơi thiên nga, xe đạp đôi…

Bia tưởng niệm anh hùng liệt sĩ ở đền Bến Dược

Tái hiện lại cảnh sinh hoạt

Mô hình thu nhỏ Ngọ Môn Huế.

Đền thờ Bến Dược Củ Chi là đền thờ được xây dựng với quy mô khang trang, bề thế để thờ các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trên vùng đết Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, xin ông cho biết những hạng mục chính của đền thờ và tổng số Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh được tôn thờ tại đây, cũng như số lượng du khách trong và ngoài nước đến thăm địa đạo hàng năm?

– Công trình Đền TNLS Bến Dược Củ Chi do Hội kiến trúc sư TP. Hồ Chí Minh thiết kế mà trực tiếp là Kiến trúc sư Khương Văn Mười. Công trình có 5 hạng mục. Cụ thể 5 hạng mục của công trình Đền là: Cổng Tam quan, Nhà văn bia, Tháp, Đền chính (chính điện và tầng hầm), hoa viên, 3 bức tranh hoành tráng và biểu tượng Hồn thiêng đất nước. Hiện nay, trong đền đã khắc được 54.752 tên liệt sỹ.

Xin cảm ơn ông đã cho độc giả thêm nhiều thông tin thú vị về địa đạo Củ Chi!

Bạn đọc có thể tham khảo lượng khách tham quan địa đạo qua bảng số liệu sau (Từ 1990-2011)

STT

Năm

Tổng số khách

Ghi chú

01

1990

36.116 lượt người

– Việt Nam : 26.845

– Ngoại quốc : 9.271

02

1991

156.960 lượt người

– Việt Nam :126.597

– Ngoại quốc : 30.363

03

1992

159.170 lượt người

– Việt Nam : 79.913

– Ngoại quốc : 79.257

04

1993

250.274 lượt người

– Việt Nam : 165.650

– Ngoại quốc : 84.624

05

1994

373.508 lượt người

– Việt Nam : 236.867

– Ngoại quốc : 136.641

06

1995

732.068 lượt người

– Việt Nam : 531.092

– Ngoại quốc : 200.976

07

1996

1.261.137 lượt người

– Việt Nam : 1.036.789

– Ngoại quốc : 182.371

08

1997

1.280.328 lượt người

– Việt Nam : 1.120.140

– Ngoại quốc : 160.188

09

1998

1.261.137 lượt người

– Việt Nam : 1.128.265

– Ngoại quốc : 132.872

10

1999

1.324.300 lượt người

– Việt Nam : 1.164.331

– Ngoại quốc :159.969

11

2000

826.200 lượt người

– Việt Nam : 642.337

– Ngoại quốc : 183.863

12

2001

875.801 lượt người

– Việt Nam : 641.683

– Ngoại quốc : 231.118

13

2002

994.646 lượt người

– Việt Nam : 762.286

– Ngoại quốc : 232.360

14

2003

888.855 lượt người

– Việt Nam : 668.663

– Ngoại quốc : 220.192

15

2004

904.561 lượt người

– Việt Nam : 660.508

– Ngoại quốc : 244.053

16

2005

839.166 lượt người

– Việt Nam : 544.188

– Ngoại quốc : 284.928

17

2006

834.926 lượt người

– Việt Nam : 511.106

– Ngoại quốc : 323.820

18

2007

892.290 lượt người

– Việt Nam : 505.054

– Ngoại quốc : 387.236

19

2008

790.529 lượt người

– Việt Nam : 354.069

– Ngoại quốc : 436.460

20

2009

1.125.000 lượt người

– Việt Nam : 766.339

– Ngoại quốc : 358.661

21

2010

1.263.919 lượt người

– Việt Nam : 852.243

– Ngoại quốc : 411.676

22

2011

1.420.000 lượt người

– Việt Nam : 927.484

– Ngoại quốc : 492.516

Như Bá (thực hiện) – kyluc.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s