Giám mục Mỹ kể về ‘chuồng cọp’

Giám mục Mỹ kể về “chuồng cọp”

Giám mục Mỹ Thomas Gumbleton đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1973, với quyết tâm tìm hiểu tối đa sự thật về cuộc chiến mà Mỹ tuyên truyền là để bảo vệ người dân Việt Nam.

Song, những gì ông thực sự chứng kiến lại là chính quyền Sài Gòn – với sự đứng sau giật dây của Mỹ – thẳng tay đàn áp phong trào phản chiến tại miền Nam Việt Nam, trừng phạt các tù nhân chính trị trong những “quan tài sống” – chuồng cọp (Tiger Cage). Sự thật cay đắng về cuộc chiến đã được giám mục Gumbleton đưa qua những bài báo và bài thuyết trình trên khắp nước Mỹ, góp phần thúc đẩy phong trào phản chiến lan rộng trong những người Mỹ yêu chuộng hòa bình và công lý.

Hành trình đi tìm sự thật

Trong suốt cuộc phỏng vấn, giám mục Gumbleton luôn sử dụng cụm từ tội ác (evils) mỗi khi nói về những nỗi đau chiến tranh mà Mỹ đã gây ra tại Việt Nam. Ông nói, 10 ngày có mặt tại Sài Gòn vào năm 1973 là thời điểm ông được tiệm cận với sự thật một cách trực diện, để khám phá ra những điều mà chính quyền Mỹ đã giấu giếm về cuộc chiến tại Việt Nam. Giám mục Gumbleton kể:

“Vào tháng 12.1972, Tổng thống Nixon đã yêu cầu mở chiến dịch không kích Việt Nam. Tôi quá thất vọng với quyết định leo thang chiến tranh của Chính phủ Mỹ, nên đã quyết định đến Việt Nam để phản đối, để được biết sự thực về cuộc chiến mà Mỹ đang tuyên truyền là chống chủ nghĩa cộng sản. Tôi muốn điều tra về những đàn áp mà chính quyền Sài Gòn tiến hành đối với những lực lượng phản đối chiến tranh.

Khi đó, những người dân Mỹ yêu hòa bình đang sôi sục khi được nghe thông tin về nhục hình tra tấn tù nhân trong “chuồng cọp” của chính quyền Sài Gòn và Mỹ. Điều này càng khiến tôi quyết tâm đến Việt Nam để tìm ra được tối đa sự thật, nhằm đưa những sự thật đó trở về Mỹ và thúc đẩy phong trào phản chiến. Tôi muốn chính quyền Mỹ phải làm điều gì đó để sửa đổi lại những tội ác đã gây ra trong cuộc chiến tại Việt Nam. 10 ngày ngắn ngủi, nhưng đã làm chấn động tâm hồn tôi, giúp tôi hiểu rõ về cuộc chiến. Khi trở về Mỹ, tôi đã viết về những gì tôi trực tiếp thấy, những gì đã xảy ra, được lắng nghe từ chính người dân miền Nam Việt Nam”.

Bài báo về chuyến đi Việt Nam năm 1973 của giám mục Gumbleton đã được đăng trang trọng trên tờ National Catholic Reporter.

“Tôi cố gắng mô tả những gì chính mắt tôi đã nhìn thấy. Tôi muốn nói với người dân Mỹ về chính phủ ‘Nam Việt Nam’ không phải là chính quyền của công lý. Thực chất, họ đã thực hiện rất nhiều tội ác như đàn áp, tra tấn đối với người dân tại miền Nam Việt Nam, đưa những người chống đối chính quyền vào chuồng cọp.

Tôi được thấy những tù nhân sau khi rời chuồng cọp đã không thể đi lại, mắt hóa mù vì những nhục hình trong xàlim khét tiếng này. Khi được tận mắt nhìn thấy chuồng cọp tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở TP. Hồ Chí Minh trong chuyến thăm sau này, tôi rùng mình vì mức độ kinh khủng và độc ác của nó. Sẽ không quá nếu nói đó là một quan tài sống đối với các tù nhân” – giám mục Gumbleton nói.

Mỹ gieo rắc nỗi sợ không tưởng về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

– Ông còn gặp những nhân chứng nào nữa trong chuyến đi năm 1973?

– Tôi đã có cuộc gặp với các tín đồ Thiên chúa giáo, với những người dân thường phản đối chiến tranh. Họ là những người vô cùng dũng cảm, vì họ dám chống lại và dám đứng lên đòi lại độc lập cho Việt Nam. Tôi hiểu người dân Việt Nam chỉ có mục tiêu duy nhất là được độc lập, được tự do. Để thấy, Chính phủ Mỹ đã cố tình gieo rắc nỗi sợ hãi không đáng có về miền Bắc Việt Nam khi đó, để dư luận Mỹ ủng hộ cuộc chiến. Vì vậy, khi trở về Mỹ sau chuyến đi năm 1973, tôi đã nỗ lực hết sức để đưa sự thật đến với người dân Mỹ. Tôi vô cùng xúc động khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ vào Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một phần của lịch sử. Người dân Mỹ không hề biết điều đó.

– Dư luận Mỹ phản ứng như thế nào về bài báo của ông?

– Bài báo trên National Catholic Reporter đã gây ra được những tác động lớn trong cộng đồng. Tôi cũng đã có rất nhiều cuộc diễn thuyết trên khắp nước Mỹ và tham gia các diễn đàn tranh luận tại nhà thờ về cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Tôi cố gắng chuyển tải những hình ảnh chân thực nhất về những gì diễn ra ở Việt Nam.

Song cũng có nhiều người Mỹ quá khích muốn bài xích và phản đối những thông tin mà tôi đưa ra. Thậm chí, họ còn biểu tình bên ngoài các nhà thờ nơi tôi đến diễn thuyết và gọi tôi là “tín đồ Bắc Việt”. Nhưng điều tôi thấy chỉ là của người yêu hòa bình và ủng hộ công lý.

– Hành động ủng hộ Việt Nam có khiến ông bị cô lập trong giới chức nhà thờ khi đó?

– Tôi không đơn độc. Có rất nhiều giám mục khác cũng phản đối chiến tranh tại Việt Nam; song tôi cho rằng chúng tôi vẫn chưa làm hết sức mình để có thể nâng cao nhận thức cho các tín đồ về việc vì sao cuộc chiến tranh đó là phi nghĩa và cần phải chấm dứt. Không những thế, Mỹ đã sử dụng những vũ khí tàn bạo, kể cả vũ khí hóa học như bom napalm, chất độc da cam tại Việt Nam. Đó là những tội ác không thể biện minh.

Tôi từng xem một bộ phim tài liệu về cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara – người đã dẫn đầu nỗ lực cuộc chiến chống Việt Nam. Sau khi chiến tranh kết thúc, vào thập niên 1990, ông McNamara đã có chuyến thăm đến Việt Nam. Ông đã gặp các nhà lãnh đạo Việt Nam – những người mà ông từng mang bom chống lại trong chiến tranh. Cựu Bộ trưởng McNamara đã nói “Chúng tôi đã không hiểu Việt Nam. Đó là một sai lầm lớn”. Với tôi, đó là lời thú nhận muộn màng, sau khi chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người.

Lòng vị tha của người Việt

Mãi đến năm 1988, Giám mục Gumbleton mới có dịp thực sự đặt chân lên miền Bắc Việt Nam- điều mà ông, dù rất mong mỏi, nhưng đã không thể thực hiện được trong chuyến đi năm 1973. “Tôi đã liên hệ và đến thăm nhiều tín đồ Thiên chúa giáo tại Hà Nội. Vào thời điểm đó, cuộc sống của họ còn nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam đã đạt được rất nhiều tiến bộ cho đến nay. Trong chuyến thăm lần này, tôi cũng đi thăm một nhà thờ ở Hà Nội và rất ấn tượng trước những hoạt động của họ” – ông nói.

– Sau 3 lần đến Việt Nam, giữa chiến tranh, ngay sau đổi mới và thời điểm hiện tại 2013, ông cảm nhận như thế nào về sự thay đổi của Việt Nam?

– Tôi rất ấn tượng trước sức sống mãnh liệt và sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam; nhưng tôi cũng lo ngại về số lượng xe gắn máy gây ô nhiễm ở VN hiện nay. Đó là tín hiệu mừng vì nền kinh tế đang lớn mạnh, nhưng nó cũng xả khí thải gây tác hại đến sức khỏe con người.

Tôi ngưỡng mộ người dân Việt Nam về những gì các bạn đã làm được. Tôi đã đi thăm Bảo tàng Dân tộc học tại Hà Nội và được biết Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó người Việt (dân tộc Kinh) là lớn nhất. Nhưng tất cả các dân tộc đều có quyền duy trì bản sắc, được gìn giữ tiếng nói riêng. Tôi vô cùng ấn tượng trước điều đó. Bởi, nước Mỹ được biết đến như một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa; nhưng tựu trung, tất cả mọi người dân Mỹ- bất kể nguồn gốc- đều phải mang “giá trị Mỹ”. Còn ở Việt Nam, các bạn cho phép mỗi dân tộc được là chính mình. Tôi sẽ cố gắng để những người dân Mỹ hiểu hơn về Việt Nam, cũng như tôi mỗi ngày đều học được một điều mới về Việt Nam.

– Ông mang theo hành trang nào trở lại Mỹ sau chuyến thăm này?

Tôi có quyết tâm lớn trong việc giúp người Mỹ hiểu hơn về sự vị tha của người dân Việt Nam. Tôi thấy điều đó ở mọi nơi, về lòng tốt của người Việt Nam. Tôi muốn truyền tải thông điệp đến người dân Mỹ rằng Việt Nam đang ngày càng đổi mới. Đất nước này không còn chiến tranh và không phải là kẻ thù của nước Mỹ. Có lẽ- từ đúng hơn- là Việt Nam chưa từng là kẻ thù của nước Mỹ. Người Mỹ cần phải có mối quan hệ tốt hơn với Việt Nam, và giúp đỡ Việt Nam để hàn gắn những vết thương chiến tranh.

Những nhân chứng sống cho sự quả cảm của dân tộc Việt

Dấu ấn trong chuyến thăm đến Việt Nam năm 2013 của giám mục Gumbleton còn là kỷ niệm chương mà ông được Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam trao tặng vì những đóng góp lớn trong việc vận động tuyên truyền các tổ chức, cá nhân giúp đỡ cho nạn nhân da cam Việt Nam. Theo ông Nguyễn Văn Rinh, ông Gumbleton là người rất tích cực trong việc vận động ủng hộ vụ kiện các công ty hóa chất Hoa Kỳ của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam. Ông đã cùng chung tay hỗ trợ tổ chức 6 đoàn nạn nhân da cam cùng lãnh đạo Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đến Mỹ và nhiều đoàn cựu binh Hoa Kỳ đến Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh. Giám mục Gembleton cũng là người có công vận động người công giáo và nhân dân Mỹ tích cực giúp đỡ nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam.

“Tôi đã được gặp và trò chuyện với rất nhiều nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Thật kinh khủng khi phải nhìn thấy những em bé sinh ra không có chân tay vì những hóa chất Mỹ đã rải xuống Việt Nam. Tôi không kìm được nước mắt chứng kiến một bé gái nhỏ không có tay đã cố gắng dùng những ngón chân giữ bút để viết chữ. Đó là những tội ác không thể tha thứ. Đó là những điều không ai được làm cho nhân loại. Những trẻ em nạn nhân của chất độc da cam là những nhân chứng sống cho sự quả cảm của dân tộc Việt Nam, khi các em vẫn cố vươn lên trong cuộc sống bất chấp những nỗi đau của mình. Mỹ cần phải giúp đỡ hơn nữa các nạn nhân và gia đình của họ. Nhiều gia đình đang phải sống trong hoàn cảnh quá khó khăn. Thật quá sức chịu đựng khi phải chứng kiến cuộc sống tồi tàn và những nỗi đau mà họ phải đối mặt hằng ngày”.

Giám mục Thomas Gumbleton là Ủy viên Ủy ban Giám mục soạn thảo thư mục sư “Những thách thức của hòa bình” (1983); Chủ tịch Tổ chức Bánh mỳ cho thế giới (1976-1984); Chủ tịch sáng lập Tổ chức Hòa bình Kitô (Pax Christi), Mỹ (1972 – 1991) và đồng sáng lập Liên minh Nhân quyền Michigan (1980). Ông từng đến Việt Nam những năm 1973, 1898. Cuối tháng 1.2013, ông có mặt tại Việt Nam tham dự sự kiện kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Theo Hội Những Người Ghét Bọn Phản Động (Facebook)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s