Thắm thiết tình quân dân trong những ngày tháng 4 năm 1975

Đoàn xe của sư đoàn đi rất chậm vì dọc đường hầu như không còn phải đối phó với địch mà được sự đón tiếp cổ vũ mừng chiến thắng đầy nhiệt tình của đồng bào…

Sư 316 thuộc là sư đoàn từng tham gia và lập nhiều chiến công trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4/1975.

Đáng kể nhất là trận mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột.

Đặc biệt, Sư 316 đã giam chân tiêu diệt Sư đoàn 25 và Liên đoàn Biệt động quân 23 của VNCH, tạo điều kiện cho đơn vị bạn mở toang “cánh cửa thép” ở Tây Bắc Sài Gòn, đẩy nhanh chiến dịch Hồ Chí Minh tới thắng lợi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tạo nên những chiến công ấy trước hết là nhờ sự chiến đấu quả cảm và hy sinh của biết bao cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt nam, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới sự chở che, giúp đỡ của nhân dân miền Nam, điều mà Trung tướng Nguyễn Hải Bằng, nguyên sư trưởng 316 luôn tâm niệm.

Đã 4 thập kỷ năm trôi qua, kỷ niệm cảm động về tình quân dân cá nước trong những ngày tháng hào hùng ấy vẫn được Trung tướng Nguyễn Hải Bằng thuật lại một cách hào sảng, mạch lạc…

Dưới đây là một số câu chuyện:

Dân vận, địch vận tận dụng vũ khí thu được

Sau khi giành chiến thắng trong chiến dịch Tây Nguyên, Sư 316 gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch mới. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cán bộ, chiến sĩ là tiến hành công tác dân vận vùng mới giải phóng.

Truyền thống làm công tác vận động quần chúng vùng mới giải phóng trước đây trong các chiến dịch Biên giới (1950), Địch hậu (1951), Tây Bắc (1952), Điện Biên Phủ (1954)… và các chiến dịch trên chiến trường nước bạn được phát huy.

Hằng ngày, từng tổ công tác đi vào các bản làng đồng bào di cư để tiến hành giải thích chính sách của Đảng, giúp địa phương xây dựng chính quyền mới ở cơ sở và giữ gìn trật tự, trị an để nhân dân ổn định cuộc sống, đi vào sản xuất.

Đặc biệt, sau chiến thắng, nhiều vũ khí hiện đại, với số lượng lớn bị phía bên kia bỏ lại gồm xe thiết giáp M133, pháo 105mm… Nếu huy động và sử dụng các vũ khí tại chỗ này, sẽ tiết kiếm thời gian, nhân lực, vật lực so với việc chờ đợi tiếp vận.

Tuy nhiên, điều đáng nói, trong lực lượng của ta, các xạ thủ sử dụng súng trên xe thì không thiếu nhưng người lái lại… hơi hiếm. Vì vậy, cán bộ Sư 316 cùng chính quyền địa phương huy động số lái xe là công nhân máy kéo trong các đồn điền cao su quanh khu vực và một số anh em hàng binh hợp tác hướng dẫn bộ đội ta thực hành chuyển hệ vũ khí, khai thác, sử dụng số vũ khí trên.

Nhờ vậy, Sư 316 đã thành lập được 1 tiểu đoàn 18 chiếc M113, và chuyển sang sử dụng pháo 105mm có nguồn đạn dồi dào thay cho pháo 122mm (đang chờ đạn tiếp viện). Số vũ khí này, đã phát huy rất tốt trong thời gian tiến công Sư đoàn 25 VNCH tại Trảng Bàng, Đồng Dù…

Hai lần trinh sát đáng nhớ

Đầu tháng 4/1975, để chuẩn bị triển khai lực lượng quanh căn cứ, hình thành thế bao vây chia cắt, giam hãm và sẵn sàng tiêu diệt Sư đoàn 25 VNCH, Sư 316 tiến hành nhiều lần trinh sát thực địa.

Một trong những lần trinh sát đó, sư trưởng Nguyễn Hải Bằng đã trực tiếp thực hiện trinh sát căn cứ Đồng Dù vào ban ngày, theo phương pháp công khai. Để tiện cho hoạt động, sư trưởng Bằng đóng giả nông dân đội đi làm ruộng cùng “vợ” (là nữ du kích Củ Chi gánh lúa, vừa dẫn đường vừa làm nhiệm vụ bảo vệ). Sau ít phút cải trang làm anh nông dân đội nón vác cuốc thì bỗng cô du kích nhìn vào chân vị sư trưởng và nói:

– Ủa, không ổn rồi. Sao chân anh Hai trắng thế? Ở đây không ai chân trắng nhu anh hai đâu. Thôi hãy tạm dừng để cải trang cái đã.

Ngay lập tức, cô du kích thay nhau đốt rơm rạ, lấy tro, than để xoa lên đôi chân cho thật giống chân người nông dân ở “đất thép”. Vừa cuốc đất vừa đào lỗ hun khói bắt chuột đồng cùng với những người nông dân khác, sư trưởng 316 vừa quan sát, ghi nhớ từng lô cốt, hàng rào, hỏa điểm, các trận địa, sau đó, ngồi ăn trưa và đánh dấu từng vị trí lên sơ đồ vẽ tạm.

Một lần trinh sát khác của Sư 316 đã xảy ra sự việc hy hữu. Tiểu đoàn công binh của Sư đoàn 316 được giao nhiệm vụ làm đường quân sự gấp. Do đơn vị không giao nhiệm vụ rõ ràng cho cấp dưới nên có 2 chiến sĩ cắm lộ tiêu làm đường đã đi lạc vào ấp chiến lược và bị địch bắt. (Đặc điểm chiến trường này là ta – địch ở thế xen kẽ nhau, ấp này theo giải phóng nhưng ấp kia lại do địch kiểm soát, có ấp ban ngày địch không chế nhưng ban đêm lại là của ta). Nghe tin 2 chiến sĩ bị địch bắt, anh em cán bộ rất lo lắng vì sợ bị lộ kế hoạch tác chiến.

Nhưng thật lạ, khi hai chiến sĩ bị địch bắt đưa về đồn, viên đồn trưởng không tra khảo gì mà lại chiến sĩ ta như thượng khách, đối đãi tử tế, mời ăn uống đàng hoàng. Viên đồn trưởng này chỉ yêu cầu, khi sư đoàn đánh tới thì báo cho các lực lượng của ta biết là đồn đã đầu hàng và xin ghi công cho đồn đã giúp đỡ cách mạng… Sức mạnh chính nghĩa của cuộc kháng chiến và đà thắng lợi của cuộc tổng tiến công đã làm một bộ phận trong hàng ngũ đối phương tự nhận thức, phải nhanh chóng kết thúc sự kháng cự phi nghĩa.

Dân tộc Việt Nam là một

Từng dẫn đầu đoàn quân giải phóng Buôn Ma Thuột, thế nhưng cảm giác của sư trưởng Nguyễn Hải Bằng tiến vào giải phóng Sài Gòn khác hẳn, không chỉ bởi sự rộng lớn, hoa lệ của “Hòn ngọc Viễn Đông” mà ở không khí nô nức mừng đất nước kết thúc binh đao, đất nước thống nhất.

Khi hoàn thành nhiệm vụ giam chân, tiêu diệt Sư đoàn 25 VNCH, Sư 316 quay trở ra đường 1 và thẳng tiến về phía Sài Gòn. Từ lúc này, đoàn xe của sư đoàn đi rất chậm vì dọc đường hầu như không còn phải đối phó với địch mà được sự đón tiếp cổ vũ mừng chiến thắng đầy nhiệt tình của đồng bào.

Qua thị trấn Củ Chi và Tân Phú Trung, xe chỉ nhích từng chút như đi bộ. Không những nhân dân mà cả binh lính địch đầu hàng cũng tràn ra vây chặt xe bộ đội như đón người thân trở về. Nhiều binh lính VNCH còn xin đi nhờ xe vào Sài Gòn. “Thật lạ lùng. Đang trên đường đi chiến đấu, kẻ địch còn trước mặt mà cứ như ngày hội”, Trung tướng Nguyễn Hải Bằng hồi tưởng. Vì vậy, từ lúc Tổng thống chế độ cũ Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng tới 17h ngày 30/4, đoàn xe đầu tiên của Sư 316 mới tiến vào Dinh Độc Lập.

Những ngày sau giải phóng, khi Sư 316 đóng quân tập trung ở căn cứ Lai Khê, cứ ngày nghỉ, nhân dân các huyện lân cận lại kéo nhau đến thăm bộ đội, dù không phải họ hàng thân thích. “Họ tới chơi cả ngày chủ nhật, mang thức ăn, hoa quả nói chuyện, ôn lại những kỷ niệm khi bộ đội còn đóng quân phân tán ở nhà dân. Cuộc trò chuyện cứ thế kéo dài đến tối nhân dân mới chịu ra về”, Trung tướng Bằng kể lại. Cuối cùng, sau những năm dài chia cắt, nhân dân hai miền Nam – Bắc đã cùng chung sống trong một đất nước thống nhất, gọi nhau tiếng đồng bào thân thương như vậy.

Trung tướng Nguyễn Hải Bằng, sinh năm 1932, nhập ngũ năm 1946 khi đang học trung học. Từ năm 1964, theo sự điều động của trên, ông theo tàu không số vào Nam. Suốt 10 năm liền, ông công tác với nhiệm vụ xây dựng bộ đội chủ lực cho miền Nam. Ông từng tham gia chiến dịch Đồng Xoài tới khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam, đánh Mỹ trên các mặt trận Bầu Bàn, Dầu Tiếng, chiến khu C, chiến khu D.

Ông từng chỉ huy đơn vị của mình chiến đấu trực tiếp với các lực lượng quân sự khét tiếng của Mỹ như Sư đoàn “Anh cả đỏ” (Sư đoàn bộ binh số 1, thành lập năm 1917), Sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” (Sư đoàn bộ binh cơ giới 25), Lữ đoàn dù 173, Sư đoàn không vận số 1… Cuối năm 1974, ông nhận nhiệm vụ chỉ huy Sư đoàn 316 tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975.

 VĂN TUẤN (ĐẤT VIỆT ONLINE)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s