Tội ác chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương và nhiệm vụ nói lên sự thật của chúng ta – Fred Branfman

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khái niệm sự thật chẳng còn mang ý nghĩa thực tế, và khó mà phân biệt được đâu là thực tế và đâu là và huyền thoại. Chúng ta cũng khó mà phân biệt được chính khách với giáo sĩ, hay lực sĩ, hay thương gia. Thành ra, có lẽ chúng ta cũng chẳng nên để ý đến những lời tuyên bố thiếu thành thật từ những người có dính dáng ít nhiều đến cuộc tranh cử tổng thống Mĩ hiện nay.

Nhưng có một vài dối trá chẳng những vô lí, mà còn gớm guốc và bệnh hoạn. Và chúng ta cần phải sửa lại cho đúng với sự thật. Một trong những lừa dối trắng trợn nhất hiện nay là bài quảng cáo trên tivi Mĩ về vụ “Swift Boat Veterans”, mà trong đó một vài cựu chiến binh Mĩ tố cáo John Kerry đã nói dối khi ông ta tuyên bố rằng chính sách của chính phủ Mĩ và hành động tàn ác của một số lính Mĩ tại Đông Dương có thể xem là tội phạm chiến tranh (war crimes). Quốc gia này chưa có một thất bại nào to lớn hơn là sự suy đồi đạo đức của chúng ta, không dám nhận trách nhiệm trước cái chết của hàng trăm ngàn nông dân Đông Dương bị chúng ta sát hại trong quá trình vi phạm những luật lệ chiến tranh. Những người cầm tay lái dư luận trong giới truyền thông của xứ sở này cũng chẳng màn nghiên cứu sự thật lịch sử để giáo dục cho con em chúng ta về những tội phạm chiến tranh của Mĩ tại Đông Dương.

Sự vi phạm các qui tắc chiến tranh rõ ràng nhất của Mĩ là những đợt pháo kích vào các làng xã gây thương vong cho thường dân tại Đông Dương. Hành động này vi phạm Điều mục số 25 của Qui ước Hague 1907 mà Mĩ là một trong những nước phê chuẩn. Điều mục này viết: “Cấm tất cả các tấn công hay bỏ bom, hay bất cứ phương tiện nào, vào các thị trấn, làng xã, nơi cư trú, hay bin-đinh không có sự bảo vệ.”

Trong cuốn sách cổ điển The Village of Ben Suc, tác giả Jonathan Schell mô tả máy bay bay qua những cánh đồng mênh mông, những vùng được các giới chức quân sự Mĩ tuyên bố là “tự do bắn phá” và tha hồ thả bom xuống các làng xã bất kể có hay không có dân phía dưới. Cuốn sách này gây một ảnh hưởng lớn đến John Kerry trong thời chiến.

Tôi đã trực tiếp phỏng vấn hơn 2.000 nông dân chạy trốn những trận bom của Mĩ ở Lào. Mỗi người nông dân chất phác cho tôi biết làng xã của họ đều bị bom đạn của Mĩ san bằng thành bình địa, và bằng chứng này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay nếu ai đó chịu khó ghé thăm Đồng bằng Jars ở miền Bắc nước Lào. Phần lớn những trận dội bom nhắm vào các vùng nông thôn không phòng vệ, bởi vì du kích Pathet Lào và bộ đội Bắc Việt Nam di chuyển trong rừng núi và máy bay không thể nào phát hiện từ trên không.

Tại Cambodia, các quan chức Mĩ tuyên bố rằng họ sẽ không dội bom xuống một làng nào nếu không có lệnh từ “Quan bom” (“Bombing Officer”) từ Căn cứ không quân Nakhorn Phanom ở Thailand. Nhưng đây là một sự nói láo trắng trợn. Tôi đã từng thu băng các cuộc đối thoại, thảo luận giữa các phi công và sĩ quan không lưu khi họ dội bom. Các cuộc đối thoại này cho thấy các phi công Mĩ chẳng bao giờ hỏi “Quan bom” có nên thả bom hay không; họ tự hành động theo ý họ. Sự thật này cũng từng được Sidney Schanberg đề cập đến trên tờ New York Times vào tháng 5 năm 1973. Sau này tôi còn có dịp phỏng vấn một Quan bom tại Căn cứ Không quân Nakhorn Phanom, và ông ta cho biết công việc duy nhất của ông ta là làm sao bảo vệ an toàn cho các tình báo viên CIA tại những nơi bị dội bom.

Mĩ đã dội xuống Đông Dương 6.727.084 tấn bom, hơn 3 lần số bom dội xuống Âu châu và Thái Bình dương trong thế chiến thứ II. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được có bao nhiêu người Đông Dương vô tội đã chết vì những trận dội bom phi pháp, nhưng theo ước đoán của cựu Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara thì khoảng 3,4 triệu người Việt Nam, Lào và Cam-bốt đã chết tromg chiến tranh. Bởi vì phần lớn những cái chết này do bom đạn của Mĩ gây ra, con số thường dân vô tội bị chết phải lên đến vài trăm ngàn người.

Phát biểu trong chương trình “Meet The Press” vào tháng Tư năm 1971, John Kerry cho biết, “Tôi đã từng dính dáng đến những vụ tàn sát và liên lụy đến những tội ác mà hàng ngàn binh lính khác phạm phải; tôi cũng bắn phá vào những vùng được xem là bắn phá thoải mái; tôi đã từng dùng súng để uy hiếp người dân, để đánh phá đường giao thông, từng tham dự vào những đợt truy lùng và tiêu diệt, từng đốt cháy làng xã. Tất cả những hành động này đi ngược lại với những luật lệ về chiến tranh trong Qui ước Geneva, và tất cả đều do cấp trên ra lệnh trên giấy trắng mực đen, và chính những người ra lệnh này cũng là những tên tội phạm chiến tranh.”

Đây là những sự thật, những gì đã xảy ra trên thực tế ở Đông Dương, và John Kerry xứng đáng được khen ngợi khi ông can đảm dám nói và nói lớn tiếng. Những cựu chiến binh điều trần trước phiên tòa “Winter Soldier” tại Detroit về tội phạm chiến tranh đã gây một ảnh hưởng lớn đến John Kerry, và là động cơ cho ông nói lên sự thật trên chương trình Meet the Press. Ấy thế mà những người quảng cáo Swift Boat dám sỉ nhục đến những cựu chiến binh can đảm này, dám nói rằng họ đã nói dối!

Gần đây, tờ Toledo Blade đã được trao giải thưởng Pulitzer vì những bài báo làm chấn động dư luận quốc tế về một nhóm lính biệt kích Mĩ đã phạm phải tội phạm chiến tranh tại Việt Nam. Chẳng những thế, tờ Toledo Blade còn cho biết nhiều quan chức cao cấp nhất như Donald Rumsfeld (nay là Bộ trưởng Quốc phòng) từng biết rõ những tội phạm này nhưng cố tình làm ngơ để cho lính Mĩ thẳng tay giết người Việt Nam.

Vì công lí là công lí của kẻ mạnh, cho nên chẳng có một quan chức cao cấp nào trong bộ máy chiến tranh của Mĩ bị trừng phạt, hay bị kỉ luật, bởi vì những tội phạm mà chín họ ra lệnh. Chúng ta không dạy cho con em chúng ta rằng quốc gia này có khả năng vi phạm những qui ước chiến tranh, rằng quốc gia này đã từng gây nên những tội phạm chiến tranh.

Điều này chẳng những là một sỉ nhục đến những người vô tội đã nằm xuống mà còn là một sỉ nhục đến lịch sử. Nó làm tổn hại đến quyền lợi quốc gia của chúng ta. Nếu những quan chức cao cấp bị trừng trị vì những tội phạm chiến tranh của họ tại Đông Dương, thì có lẽ chúng ta sẽ không phạm phải những xì-căng-đan trong nhà tù Abu Ghraib ngày nay. Nếu những quan chức cao cấp bị trừng trị vì những tội ác của họ trong thời chiến thì có lẽ chúng ta sẽ không kinh qua những hận thù của khối Hồi giáo đối với chúng ta.

Nhưng ở đây vấn đề còn có một ý nghĩa lớn hơn. Trong tương lai khả năng mà nước Mĩ gây ảnh hưởng tích cực đến thế giới – và duy trì lòng trung thành của giới trẻ – tùy thuộc vào uy tín đạo đức của chúng ta, vào khả năng ghi nhận rằng không chỉ Mĩ mà còn có nhiều người khác trên hành tinh này cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc như chúng ta. Nước Đức thời hậu chiến ghi nhận trách nhiệm về tội ác của Đức trong thế chiến thứ II, không chỉ vì nạn nhân của chiến tranh, mà còn vì tương lai nước Đức. Người Đức hiểu rằng một quốc gia không dám nhìn nhận cái sai trái của mình trước con em mình và trước thế giới thì không thể nào khôi phục trung tâm đạo đức được.

Trịnh Công Sơn, một thi nhạc sĩ hát rong (poet-troubadour) của Việt Nam từng viết những câu sau đây:

“Xác người nằm trôi sông
phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố
trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ
dưới mái hiên chùa
Trong giáo đường thành phố
trên thềm nhà hoang vu.
Mùa xuân ơi, xác nuôi thơm cho đất ruộng cày
Việt Nam ơi, xác thêm hơi cho đất ngày mai
Đường đi tới
dù chông gai
Thì quanh đây đã có người.”

Nước Mĩ sẽ không thể nào khôi phục vị thế đạo đức trên trường quốc tế hay quên được nỗi ám ảnh cuộc chiến Đông Dương, nếu chúng ta không dạy cho con em chúng ta rằng chúng ta là tác giả tạo nên những xác người này, và chúng ta đã vi phạm các qui tắc chiến tranh. Nếu Mĩ muốn trở thành một quốc gia được xây dựng trên nền tảng sự thật, chúng ta hãy bắt đầu với một trong những chân lí quan trọng nhất: đó là chúng ta phải nhận lãnh trách nhiệm về những cái chết của thường dân mà chúng ta gây nên trong cuộc chiến Đông Dương.

Fred Branfman
Nguyễn Văn dịch

Fred Branfman, từng là Giám đốc Dự án Chiến tranh trên không (Project Air War) vạch trần những trận dội bom của Mĩ vào các làng xã ở Đông Dương. Ông hiện về hưu và tập trung vào việc viết sách. Ông hiện sống tại Santa Barbara, bang California.

Theo Nuclear Age Peace Foundation

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s