Các đô thị miền nam Việt Nam dưới thời Mỹ

Sau Hiệp định Genève năm 1954, cùng với nguồn viện trợ Mỹ, tư bản nước ngoài cũng đầu tư vào Sài Gòn và vùng phụ cận, lên đến 1,2 tỉ USD trong hai năm 1958 – 1959. Nhiều cơ sở công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ được xây dựng khá hiện đại, như Xí nghiệp Dược phẩm Roussel, Vina-Spécia, Hoechst, các xí nghiệp pin-accu, bóng đèn…

Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển nhanh. Nhờ vậy, từ 1954 đến 1960, kinh tế miền Nam khá ổn định, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 5%, giá cả ít biến động. Sản lượng gạo xuất khẩu qua cảng Sài Gòn hàng năm đạt trên 300.000 tấn. Chất lượng hàng tiêu dùng khá đa dạng và phong phú.

Tuy nhiên, sau năm 1960, kinh tế miền Nam, chủ yếu là Sài Gòn bị sa sút. Xuất khẩu gạo giảm dần và từ năm 1964 trở đi phải nhập khẩu gạo hằng năm trên 500.000 tấn. Đặc biệt từ khi Mỹ và đồng minh của Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam Việt Nam, tình hình kinh tế, xã hội Sài Gòn càng thêm xáo trộn. Đồng tiền Sài Gòn năm 1965 bị sụt giá, từ 60 đồng/USD xuống còn 118 đồng/USD. Từ đó cho đến năm 1970 Sài Gòn và cả miền Nam sống chủ yếu bằng viện trợ Mỹ. Theo số liệu cũ, trong vòng 10 năm, từ 1960 đến 1970, số viện trợ kinh tế cho cả miền Nam lên đến trên 4 tỷ USD, chủ yếu là lương thực, hàng tiêu dùng, xăng dầu, vật tư, nguyên liệu cho sản xuất… Số viện trợ quân sự lên đến 8 tỷ USD. Đó là chưa kể số chi phí đổ vào để nuôi đội quân thường trực lên đến 500.000 người của Mỹ và đồng minh của Mỹ. Lạm phát ngày càng gia tăng, buộc chính quyền Sài Gòn năm 1966 phải phá giá đồng bạc.

Nông nghiệp bị đình đốn, chỉ có các ngành dịch vụ phục vụ chiến tranh và quân đội Mỹ là phát triển mạnh. Tuy nhiên, trong thời kỳ này nổi lên một bộ phận tư sản mại bản làm giàu bất chính nhờ hiệp kinh doanh hàng viện trợ, thầu dịch vụ cho chiến tranh, buôn lậu… Nhiều sĩ quan cao cấp, các chính khách trong chính quyền Sài Gòn… làm giàu nhanh chóng và trở thành tư sản mại bản chỉ trong vòng vài năm.

Thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, từ 1971, song song với chiến dịch bình định, lấn chiếm nông thôn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vạch ra các kế hoạch kinh tế lâu dài, với quy mô lớn, trong đó có kế hoạch phát triển kinh tế thời hậu chiến mới được hình thành tại vùng phụ cận Biên Hòa. Đây là nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp của cả miền Nam Việt Nam, được đầu tư trang bị nhiều máy móc, thiết bị hiện đại của phe tư bản chủ nghĩa vào thời bấy giờ. Chỉ trong hai năm 1971 – 1972, số vốn đầu tư cho khu công nghiệp Biên Hòa và Sài Gòn đã gấp hơn mười lần tổng số vốn đầu tư 10 năm trước đó. Đa số các xí nghiệp tại khu công nghiệp Biên Hòa đều có trụ sở chính đặt tại thành phố Sài Gòn.

Trước khi được giải phóng vào năm 1975, Sài Gòn – Gia Định có khoảng trên 30.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có hàng trăm xí nghiệp cỡ lớn tập trung trong ngành chế biến lương thực, thực phẩm và công nghiệp nhẹ, với số lượng công nhân hàng ngàn người như Vimytex, có 3.200 công nhân, Vinatexco có trên 3.200 công nhân, Sicovina trên 2.000 công nhân… Nhiều xí nghiệp có dây chuyền thiết bị hiện đại, công xuất lớn như xí nghiệp lớn chưa kịp khánh thành thì Sài Gòn đã được giải phóng như sữa Nestlé, Dầu Nhà Bè… Nhiều ngành có năng lực sản xuất lớn như dệt: 240 triệu mét vải/năm, bia, nước ngọt: 250 triệu lít/năm, thuốc lá: 500 bao/năm, sữa: 170 triệu hộp/năm, xà bông và bột giặt: 88.000 tấn/năm, hóa chất cơ bản, xút các loại: trên 50.000 tấn năm.

Cảng Sài Gòn được mở rộng, có khả năng bốc dỡ 7 triệu tấn/năm, với các khâu được cơ giới hóa khá cao. Sân bay Tân Sơn Nhất có khả năng tiếp nhận những loại máy bay hạng nặng, năm cao nhất trước giải phóng có khả năng tiếp nhận hàng năm trên 130 ngàn chuyến bay lên xuống, trên một triệu hành khách. Hệ thống cầu đường được mở rộng, xây dựng theo phương pháp hiện đại, tiêu biểu là xa lộ Sài Gòn, chạy dài từ thành phố Sài Gòn đến Biên Hòa.

Trong giai đoạn này, ngành xây dựng phát triển khá nhanh, một phần nhờ vào nguồn viện trợ Mỹ, phần khác, nhờ nguồn hậu cần to lớn mà quân đội Mỹ chuyển sang. Nhiều công trình kiến trúc và nhà cao tầng đua nhau mọc lên. Hầu hết các công trình xây dựng quan trọng, cầu đường lớn đều do hãng thầu RMK Mỹ đảm trách. Đây là hãng thầu lúc đó thuộc vào loại lớn nhất thế giới. Song song với đà phát triển đó, một đội ngũ công nhân có kỹ thuật, tay nghề giỏi, trí thức khoa học kỹ thuật… cũng tăng nhanh. Năm 1975, Sài Gòn có trên 200.000 lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có hơn 13.000 trí thức khoa học, kỹ thuật, hơn 20.000 cán bộ kỹ thuật sơ, trung cấp.

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Sài Gòn lúc bấy giờ bị lệ thuộc nặng về vật tư, nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng, linh kiện… của nước ngoài. Các ngành dệt, nhuộm, hóa chất, thuốc lá, giấy sữa hộp… hàng năm điều phải bỏ ra hàng chục triệu USD để nhập hóa chất, sợi bông, thuốc lá sợi, lúa mạch, bột sữa… để sản xuất. Các ngành công nghiệp cũng phát triển không đồng đều. Hầu hết là công nghiệp nhẹ. Ngành cơ khí chế tạo còn non yếu so với sự phát triển chung của toàn ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp nặng chỉ chiếm khoảng dưới 10% giá trị tổng sản lượng công nghiệp.

CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM

Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam kéo dài tháng 7/1954 đến tháng 5/1975 qua năm đời tổng thống Mỹ (Aixenhao, Kennơđi, Giônxơn, Nichxơn, Pho) điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và chiến tranh xâm lược của Mỹ. (“Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, Chiến tranh “Việt Nam hóa”). Chúng đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam tới 676 tỉ đôla (so với 341 tỉ trong Chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỉ trong chiến tranh Triều Tiên), và nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới 920 tỉ. Chúng huy động lúc cao nhất là 55 vạn quân viễn chinh, lôi kéo 5 nước ở châu Á – Thái Bình Dương tham chiến với số quân lúc cao nhất là hơn 7 vạn người vào cuộc chiến, trực tiếp chiến đấu và làm nòng cốt cho hơn một triệu quân tay sai ở miền Nam. Chúng đã giội xuống hai miền đất nước ta hơn 7,8 triệu tấn bom đạn, một khối lượng bom đạn lớn hơn lượng bom đạn mà chung đã sử dụng trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó.

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ

Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” của nhân dân ta ở miền Nam đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào thời kỳ khủng hoảng triền miên. Chiến lược “Chiến tranh đơn phương” của Aixenhao được thực thi ở miền Nam đã bị phá sản.

Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đang cuồn cuộn dâng lên, làm sụp đổ từng mảng lớn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.

Trước tình hình trên, G. Kennơđi lên làm Tổng thống Mỹ đã phải điều chỉnh lại chủ nghĩa Aixenhao. Kennơđi đề ra chiến lược “phản ứng linh hoạt” thay cho chiến lược “trả đũa ồ ạt” với ba loại chiến tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh tổng lực. Hai kiểu chiến tranh trên được coi là “chiến tranh hạn chế”. Mục đích của “Chiến tranh đặc biệt” (còn gọi là “chiến tranh thứ ba”, “chiến tranh chống du kích”, “chiến tranh lật đổ”) là chống lại phong trào giải phóng dân tộc.

Công cụ để tiến hành chiến tranh là lực lượng quân sự người bản xứ do Mỹ trang bị và chỉ huy; tiền bạc, vũ khi trang trị của Mỹ là công cụ chủ yếu của chiến tranh đặc biệt. Chúng coi đó là hình thức linh hoạt, kịp thời để đối phó có hiệu quả đối với phong trào giải phóng dân tộc. Cùng ngày nhận chức Tổng thống Mỹ, 20-1-1961 Kennơđi chính thức công bố học thuyết mới và chọn Việt Nam làm nơi thí điểm “chiến tranh đặc biệt”. Kennơđi đã chấp nhận viện trợ cứu nguy chế độ Diệm và đưa 19.000 quân chiến đấu, dưới tên gọi cố vấn quân sự, sang Việt Nam. Kennơđi coi Việt Nam là tuyến cuối cùng chống cộng sản ở Đông Nam Á và nếu Mỹ rút khỏi Việt Nam thì sự sụp đổ sẽ diễn ra ở cả khu vực Đông Nam Á! Ngày 8-5-1961, chính sách đối với Việt Nam đã được chính thức phê chuẩn và mang tên NSAM-52 với nội dung chủ yếu: Tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy yểm hộ của phái đoàn cố vấn quân sự MAAG; đưa lực lượng đặc biệt của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt, chốt chặt biên giới, chống miền Bắc thâm nhập; tăng cường mở rộng, cải tiến trang bị và huấn luyện quân đội, coi đó là công cụ chủ yếu để chống chiến tranh du kích; khẩn trương bình định, lập “ấp chiến lược” hòng dồn hơn 10 triệu người dân miền Nam vào các trại tập trung trá hình để thực hiện “Tác nước bắt cá”, cô lập để tiêu diệt cách mạng miền Nam; ra sức củng cố chính quyền các cấp và đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh phá hoại chống lại miền Bắc.

Ngày 11-5-1961, Mỹ đưa 400 tên lính đầu tiên thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam, nâng tổng số quân Mỹ ở miền Nam từ 1077 cố vấn quân sự (1960) lên 10640 (1962) – gồm 2360 cố vấn và 8280 tên thuộc các đơn vị kỹ thuật. Tháng 4-1961, Mỹ tiến hành cải tổ hệ thống tổ chức chiến trường: bỏ các quân khu, lập ba vùng chiến thuật, do các quân đoàn chủ lực đảm nhiệm với đủ các thành phần quân địa phương, binh chủng yểm trợ, chỉ huy; dưới là các tiểu khu (tỉnh) và các chi khu quân sự (huyện hoặc quận).

Cố vấn Mỹ có mặt ở các cấp đến tận các tiểu khu, các trung tâm huấn luyện, các cơ quan tác chiến, các cấp tiểu đoàn, các biệt khu – chi khu chủ yếu. Chúng tăng cường trang bị cho quân đội Sài Gòn nhiều máy bay, xe bọc thép, vũ khí hiện đại và đưa dần lực lượng không quân, hậu cần yểm trợ Mỹ vào miền Nam. Diệm đã cử người học hỏi kinh nghiệm chống du kích, dần dân lập “ấp chiến lược” ở Malaixia, Philippin về để đàn áp cách mạng. Mỹ cho mời Tômxơn (Thomson) – chuyên gia quân sự chống du kích của Anh tại Malaixia, sang làm cố vấn “bình định”.

Năm 1961, quân của Diệm tăng lên 17 vạn người, 5 vạn bảo an dân vệ và 85 đại đội đặc biệt. Đồng thời, Mỹ – ngụy tăng cường bắt lính, tăng thời hạn quân dịch từ 12 đến 18 tháng. Được Mỹ hỗ trợ, quân đội Sài Gòn đã mở 2 vạn cuộc càn quét quy mô (từ tiểu đoàn đến trung đoàn), đánh phá ác liệt phục vụ cho việc gom dân lập ấp chiến lược. Chúng còn dự định tăng quân của Diệm lên 27 vạn người. Tháng 6-1961, Kennơđi cử E.Xtalây sang miền Nam Việt Nam. Xtalây đưa ra một kế hoạch chiến lược gồm ba điểm: 1- Dự kiến trong vòng 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962) sẽ lập được 16.000 ấp chiến lược, đánh phá cơ sở cách mạng, cơ bản bình định được miền Nam; 2- Dự kiến trong năm 1963 sẽ khôi phục nền kinh tế, phát triển lực lượng, tiến hành các hoạt động gây rối, phá hoại làm mất ổn định miền Bắc; 3- Chuyển sang phát triển kinh tế và dự kiến đến cuối năm 1965 miền Nam sẽ trở thành một quốc gia mạnh của “thế giới tự do”.

Tháng 5-1961, Mỹ quyết định tăng gấp hai lần viện trợ quân sự cho Diệm. Ngày 14-11-1961, Kennơđi chuẩn y kế hoạch Xtalây và những kiến nghị của Taylo (Taylor) (trừ 2 điểm là đưa lực lượng đặc nhiệm Mỹ vào miền Nam và ném bom miền Bắc). Sau một năm thăm dò thử nghiệm, kế hoạch này được hoàn chỉnh dần. Ngày 8-2-1962, Mỹ thiết lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (gọi tắt là MACV, thay cho phái đoàn MAAG).

Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt Mỹ cũng được thành lập. Lực lượng không quân, hậu cần cũng dần dần được đưa vào miền Nam. Đầu năm 1962, kế hoạch Xtalây – Taylo được tiến hành toàn diện. Cuối năm 1962, lực lượng yểm trợ chiến đấu Mỹ đã lên tới 11300 tên, lực lượng quân của Diệm cũng tăng lên 354000 người. Tháng 7-1961, đợt thí điểm lập ấp chiến lược được triển khai ở Vĩnh Long (Nam Bộ) và Quảng Ngãi (Trung Bộ). Đến tháng 8-1961, chúng triển khai kế hoạch này trên toàn miền Nam. Kế hoạch này được chúng coi là “quốc sách”, dự định dồn 10 triệu người dân vào 16000 ấp chiến lược, trong tổng số 17000 ấp trên toàn miền Nam. Ở những vùng chúng nắm được quyền kiểm soát, chúng dùng sức mạnh của bộ máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét dồn dân lập “ấp chiến lược”.

Ở những vùng chúng không kiểm soát được, chúng dùng quân đội đánh phá bao vây, cô lập, càn quét, buộc dân phải chạy vào vùng chúng kiểm soát. Chúng còn tiến hành các cuộc hành quân càn quét dài ngày đánh vào vùng Bến Cát, Tây Ninh, vùng giải phóng Bình Định, Phú Yên, các căn cứ U Minh, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, chiến khu Đ. Chúng dùng xe rải bom đạn chà xát nhiều lần, đánh vào từng khu vực, chia thành từng lô để khống chế, biến những “ấp chiến lược” thành điểm tựa phòng thủ chống cộng. Đối với Campuchia, Mỹ xúi giục và vũ trang cho bọn phản động tiến hành các hoạt động phá rối (kể cả ám sát nhà vua), bạo loạn nhằm thực hiện âm mưu cướp chính quần, lật đổ chính phủ hòa bình trung lập, gạt bỏ ảnh hưởng của Pháp. Ở Lào, Mỹ đưa lực lượng lính thủy đánh bộ vào Thái Lan, sẵn sàng tham chiến ở Lào và thúc ép chính quyền Sài Gòn đưa quân vào Đông Nam Lào để ngăn chặn đường tiếp tế của ta từ Bắc vào Nam. Từ giữa năm 1961, quân đội phái hữu Lào từ 3 vạn tăng lên 5 vạn với 11600 cố vấn Mỹ, chúng thúc đẩy bọn phản động lấn chiếm vùng giải phóng Lào. Trên thực tế từ năm 1961, cùng với việc thực hiện “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, Mỹ còn tiến hành “chiến tranh đặc biệt” cả ở Lào.

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ

Đầu 1965, cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ tiến hành chống lại nhân dân ta ở miền Nam đã phát triển đến đỉnh cao và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Để cứu vãn tình thế, Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.

“Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng lực) được đề ra phù hợp với chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt”. “Chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ giữa năm 1965, được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân của một số nước thân Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và quân của chính quyền Sài Gòn, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị.

Lính Mỹ có mặt ở miền Nam vào cuối năm 1964 là 26.000 người, đến cuối năm 1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính của các nước thân Mỹ. Đó là chưa kể 70.000 lính hải quân và không quân trên các căn cứ của Mỹ ở Guam, Philippin, Thái Lan và Hạm đội 7 luôn sẵn sàng tham chiến ở miền Nam.

Sau khi đã đưa một đại đội máy bay F.105 vào Biên Hòa và một tiểu đoàn tên lửa phòng không “Hốc” vào Đà Nẵng, ngày 8-3-1965, Mỹ cho hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 9 lính thủy đánh bộ từ Ôkinaoa vào Đà Nẵng, mở đầu việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam.

Ngày 26-6-1965, Oétmolen được Chính phủ Mỹ cho phép đưa quân Mỹ ra trận “khi nào thấy cần thiết”.

Ngày 17-7-1965, khi Giônxơn thông báo quyết định đưa 44 tiểu đoàn Mỹ vào miền Nam Việt Nam và chấp nhận chiến lược “tìm diệt” của Oétmolen, một quyết định đã “vượt quan ngưỡng cửa bước vào cuộc chiến tranh trên bộ ở châu Á”, thì cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới – giai đoạn “chiến tranh cục bộ”.

Tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, Mỹ nhằm thực hiện âm mưu:

– Nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo được chủ lực ta bằng chiến lược quân sự mới “tìm diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán đánh nhỏ, hoặc rút về biên giới, làm cho chiến tranh cách mạng tàn lụi dần.

– Mở rộng và củng cố hậu phương của chúng, lập đội quân “bình định” kết hợp hoạt động càn quét với các hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp; tung tiền, đổ của nhiều hơn nữa, cố thực hiện cho kỳ được “mặt trận thứ hai” nhằm “tranh thủ trái tim của nhân dân”, thực chất là giành lại dân (trước hết là nông dân ở vùng được giải phóng), bắt họ trở lại ách kìm kẹp tàn bạo của Mỹ – ngụy.

– Ỷ vào ưu thế quân sự với đội quân đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn chinh mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” tiến công đơn vị quân giải phóng ở Vạn Tường – Quảng Ngãi (8-1965). Tiếp đó, Mỹ mở liền hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân vào “đất thánh Việt cộng”.

Chiến lược “Việt Nam hóa” của Mỹ

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân, là đòn bất ngờ góp phần quyết định chiều hướng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm chấn động dư luận nước Mỹ và thế giới.

Sau đòn bất ngờ Tết Mậu Thân, phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi rút hết quân đội về nước của nhân dân dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ cũng ra quyết định đòi rút tất cả quân đội Mỹ ở Việt Nam về nước trong thời hạn ngắn nhất.

Lợi dụng tâm lí chống chiến tranh, mong muốn sớm chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và đổi mới tình hình chính trị – xã hội nước Mỹ, Níchxơn tung ra lời hứa chấm dứt chiến tranh trong vòng 6 tháng và sẽ có những thay đổi trong chính sách đối nội, đối ngoại của nước Mỹ, để mong trúng cử tổng thống trong kỳ bầu cử cuối năm 1968.

Sau khi trúng cử tổng thống, chính thức bước vào Nhà Trắng (đầu năm 1969), Níchxơn đã cho ra đời học thuyết mang tên mình – “Học thuyết Níchxơn” và tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Đông Dương.

“Học thuyết Níchxơn” với chiến lược quân sự tương ứng “Ngăn đe thực tế” được thay thế cho chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Kennơđi đã bị phá sản. Đề ra học thuyết mới, chiến lược toàn cầu mới, tập đoàn Níchxơn mưu toan khôi phục lại sức mạnh của Mỹ, cố giữ vai trò “sen đầm quốc tế”, vai trò lãnh đạo “thế giới tự do”, cố bám lấy những lợi ích đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.

“Học thuyết Níchxơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và Đông Dương, là nơi Mỹ đã từng dùng làm điểm khởi đầu thực hiện chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” (1961 – 1968) và cũng đã trở thành điểm kết thúc chiến lược đó. Học thuyết này được vận dụng cụ thể trong những chiến lược chiến tranh ở từng nước. Ở Việt Nam, đó là chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh; ở Lào – “Lào hóa” chiến tranh; ở Campuchia – “Khơme hóa” chiến tranh và trên toàn Đông Dương là “Đông Dương hóa” chiến tranh.

Chiến lược này được đề ra trên cơ sở điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Giônxơn. Chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh của Níchxơn giống chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Giônxơn ở chỗ: rút dần quân Mỹ ra khỏi Đông Dương, tránh những tổn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ, trong lúc vẫn bám giữ miền Nam Việt Nam.

“Việt Nam hóa” chiến tranh hay “phi Mỹ hóa” chiến tranh, như tên gọi của nó, về cơ bản, đó là cuộc chiến tranh giữa những người Việt Nam với nhau. Âm mưu cơ bản của Mỹ vẫn là “dùng người Việt đánh người Việt”, “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” với bom đạn, đôla Mỹ, do Mỹ chỉ huy và vì lợi ích của Mỹ.

Mỹ rút quân không chỉ ở lời tuyên bố như của Giônxơn (3-1968) mà cả trên thực tế, bắt đầu từ sau trận đòn Tết Mậu Thân (1968). Nhưng không phải vì thế mà cho rằng cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương đã “tàn lụi” dần. Trái lại, cuộc chiến tranh của Mỹ dưới thời Níchxơn càng được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương. Có điều khác với Giônxơn, là Níchxơn đã tận dụng triệt để xương máu của người bản xứ vào những mục tiêu chiến lược ở Việt Nam và Đông Dương. Với “Việt Nam hóa” chiến tranh, xương máu của người Mỹ có giảm, nhưng vai trò “cố vấn” của Mỹ ngày càng quan trọng, những điều kiện vật chất của Mỹ để thực hiện chương trình “Việt Nam hóa” chiến tranh ngày càng lớn.

Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của “Việt Nam hóa” chiến tranh, quân Mỹ vẫn còn giữ vai trò quan trọng, cùng với quân đội Sài Gòn là hai lực lượng chiến lược: quân Mỹ là chỗ dựa của quân đội Sài Gòn và của “Việt Nam hóa” chiến tranh còn quân đội Sài Gòn là công cụ chủ yếu để thực hiện “Việt Nam hóa” chiến tranh.

Để đạt được mục tiêu chiến lược của “Việt Nam hóa” chiến tranh, Níchxơn đưa ra thực hiện cùng lúc ba loại chiến tranh là “chiến tranh giành dân”, “chiến tranh hủy diệt”, “chiến tranh bóp nghẹt”, trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mỹ, kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt.

Khi triển khai chương trình “Việt Nam hóa” chiến tranh, một yêu cầu trọng tâm được các nhà chiến lược Mỹ nêu lên là bằng mọi cách “bình định”, cho được vùng nông thôn rộng lớn miền Nam, thực hiện cái gọi là “chiến tranh giành dân” (“tranh thủ nông dân chống lại Việt Cộng”).

Chính sách “bình định” trong tất cả các thời kì của cuộc chiến tranh được nâng lên thành “quốc sách”. Tuy nhiên, dưới thời Kennơđi và nhất là thời Giônxơn, vẫn lấy việc tiêu diệt các lực lượng cách mạng làm mục tiêu đầu tiên. Đến thời Níchxơn, “quốc sách bình định” được nâng lên thành lí luận và dùng làm cơ sở cho chiến lược “Việt Nam hóa”.

Để thực hiện cái gọi là “quốc sách bình định”, chính quyền Níchxơn đã giúp chính quyền Sài Gòn thiết lập một hệ thống chính trị và vũ trang ở cơ sở cho hoàn chỉnh, được huấn luyện theo kiểu thống trị của chủ nghĩa thực dân mới, tạo cho chính quyền Sài Gòn một cơ sở xã hội kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thực thi chương trình “cải cách tiền địa”, ban hành “Luật người cày có ruộng” (26-3-1970) nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột phong kiến, chuyển địa chủ sang kinh doanh tư bản chủ nghĩa, “giúp nông dân có ruộng đất để cày cấy”(!); phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, tạo lập chủ nghĩa tư bản ở nông thôn, xóa bỏ ảnh hưởng sâu rộng của cách mạng đối với nông dân, tăng cường bóc lột nông dân, xây dựng cơ sở kinh tế, chính trị và xã hội mới của chế độ thực dân mới của Mỹ.

Đi đôi với việc thực hiện chính sách “bình định”, Mỹ còn giúp chính quyền Sài Gòn xây dựng lực lượng quân chủ lực với hơn 1 triệu người, được huấn luyện đầy đủ, trang bị hiện đại để có thể “tự đứng vững”, “tự gánh vác chiến tranh” khi quân Mỹ rút hết về nước.

Quân đội Sài Gòn được tăng cường và hiện đại hóa để rồi biến thành “công cụ” của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa”. Đội quân này được sử dụng vào các cuộc hành quân càn quét chống phá cách mạng, xóa bỏ các căn cứ của quân giải phóng, hòng đẩy chủ lực quân giải phóng ra xa, cắt đứt con đường tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc. Quân đội Sài Gòn cùng với quân Mỹ, còn bị đẩy vào các cuộc hành quân xâm lược Lào và Campuchia.

Cũng như ở Việt Nam, Mỹ đẩy mạnh “chiến tranh đặc biệt” ở Lào. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Lào dưới hình thức “chiến tranh đặc biệt” bắt đầu từ thời Kennơđi, qua thời Giônxơn, đến thời Níchxơn thì được tăng cường phù hợp với “học thuyết Níchxơn”, gọi là “chiến tranh đặc biệt tăng cường” hay “Lào hóa” chiến tranh. Lực lượng tiến hành “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào là quân phỉ Vàng Pao và quân Viêng Chăn, ngoài ra có sự tham gia của quân Thái Lan và quân Sài Gòn. Còn Mỹ đóng vai trò cố vấn, trực tiếp chỉ huy và yểm trợ bằng hỏa lực và không quân.

Mở đầu cho hành động tăng cường “chiến tranh đặc biệt” ở Lào là cuộc hành quân lớn mang tên “Cù kiệt” (có nghĩa là gỡ danh dự) của lực lượng lớn quân phỉ Vàng Pao, quân Thái Lan và quân Sài Gòn do Mỹ trực tiếp chỉ huy, đánh chiếm vùng giải phóng Lào ở Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng.

Đồng thời với những hành động đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam và Lào, Mỹ còn mở rộng chiến tranh xâm lược Campuchia.

Ngày 18-3-1970, Mỹ làm cuộc đảo chính quân sự ở Campuchia, lật đổ Chính phủ trung lập Xihanúc, thành lập Chính phủ bù nhìn Lon Non, với hi vọng bằng cách đó sẽ cô lập được cách mạng Việt Nam. Tiếp đó, ngày 30-4-1970, Mỹ đưa hơn 10 vạn – vừa quân Mỹ vừa quân Sài Gòn, mở cuộc hành quân đánh chiếm Campuchia, nhằm cứu bọn Lon Non đang có nguy cơ sụp đổ, triệt phá cái mà chúng gọi là “đất thánh Việt cộng” trên đất Campuchia, biến nước này thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ, thực hiện ở đây một chiến lược chiến tranh mới phù hợp với “học thuyết Níchxơn” – chiến lược “Khơme hóa chiến tranh”.

Đi đôi với việc sử dụng sức mạnh tối đa của nước Mỹ vào những cuộc phiêu lưu quân sự mới ở Đông Dương, Níchxơn còn dùng nhiều thủ đoạn chính trị và ngoại giao nhằm đạt những mục tiêu của cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và mục tiêu của chiến lược toàn cầu phản cách mạng.

Lên nắm quyền, Níchxơn liền cho triển khai chiến dịch “ngoại giao toàn cầu”, đóng vai trò “sứ giải hòa bình” đi thương lượng với nhiều nước (trước hết là với các nước lớn) với mưu đồ lôi kéo họ, nhất là các nước đồng minh, vào hùa với Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, thực hiện cái gọi là “cùng chia sẻ trách nhiệm”; chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc; chia rẽ ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung; cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương với các nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn gần xa trên thế giới.

Theo Nhân Dân

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s