Xin đừng chà đạp lịch sử!

Bên lề buổi ra mắt một số bộ sách, trong đó có bộ “Lịch sử Việt Nam”, ông Trần Đức Cường, chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sách trả lời phỏng vấn và cho biết rằng sách này đã dùng tên gọi ‘chính quyền SG’ thay cho từ ‘ngụy’ và tự ca ngợi mình, chê người xưa:

‘Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.

Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận.’

Vế thứ nhất trong câu cuối, ông nói đúng nhưng lại làm ngược lại. Vế thứ hai thì không những sai mà còn mâu thuẫn nghiêm trọng với vế thứ nhất! Nếu viết lịch sử một cách thực sự khách quan thì sẽ có thể làm cho bên phạm sai lầm mặc cảm khó chấp nhận. Còn cố tình bào chữa hay nói sai sự thật để làm vừa lòng họ thì đâu còn khách quan nữa, và làm như thế thì rõ ràng lại chà đạp bên chính nghĩa rồi còn gì? Lịch sử chứ có phải là dụ con nít tranh nhau đồ chơi trong nhà trẻ đâu mà phải làm sao để đôi bên đều chấp nhận được?!

Cả chủ quan và khách quan, bên ta, bên địch hay cả người trung lập đều đã công nhận thực chất của ngụy quyền Sài Gòn trong lịch sử rồi. Bào chữa, gọi khác bản chất của nó đi tức là “phịa sử” và do đó mới là không khách quan.

Ông viện trưởng này cho rằng phía cộng sản ngày xưa gọi là ngụy không khách quan vậy nên tôi sẽ không trích dẫn họ mà chỉ xem bằng chứng lịch sử và ý kiến của bên “khách” tức Mỹ ngụy cho nó “khách quan” nhé.

Trong một đoạn băng ghi âm, Tổng thống Johnson từng thú nhận chính quyền Mỹ đã thuê ‘một lũ côn đồ’ (quân đội ngụy) thanh toán Diệm. Rõ ràng chính quyền, quân đội ngụy là do Mỹ điều khiển giật dây làm việc mà còn không phải ngụy thì là gì? Có chính quyền chính danh độc lập nào mà quân đội lại nghe sai khiến của nước ngoài bắn bỏ tổng thống của mình như thế?!

Vào thời Nixon, sau khi đã đàm phán riêng xong xuôi với VNDCCH trong Hội đàm Paris, chính quyền Nixon mới bắt ngụy ký vào văn bản cuối cùng. Vì thấy những điều khoản trong hiệp định quá bất lợi cho mình, Thiệu dùng dằng, giận dỗi không chịu ký. Mỹ dọa không ký thì sẽ cắt viện trợ như đã từng đe dọa Diệm. Trong một đoạn băng ghi âm được công bố sau này, Nixon nói với Kissinger:

‘Tôi không biết dọa như thế đã đủ chưa nhưng tôi sẽ làm bất cứ chuyện chết tiệt nào có thể – chặt cái đầu nó xuống chẳng hạn,’

Chắc hẳn là dọa như thế đã đủ vì làm sao Thiệu có thể quên được gương sáng của Diệm nên đành ngoan ngoãn ký vào.

Bản thân chính quyền ngụy cũng đã tự thú nhận bằng lời nói, chứng minh bằng hành động quá rõ ràng thân phận tay sai rồi. Sự thật lịch sử là từ Bảo Đại đến Thiệu, các loại gọi là “quốc trưởng”, “tổng thống” của chính quyền ngụy đều do Pháp-Mỹ đưa lên và lôi xuống. Chính quyền hay quân đội cũng là do họ lập ra và điều khiển.

Pháp lập ra ‘Quốc gia VN’ năm 1949 để chia rẽ lực lượng kháng chiến Việt Nam vì thấy không thể tiêu diệt được Việt Minh sau ba năm. Họ hoàn toàn không thấy xấu hổ khi dùng lại vua bù nhìn Bảo Đại cho chức vụ ‘quốc trưởng’ bù nhìn. Quân đội ‘quốc gia’ này toàn là lính khố xanh, khố đỏ do họ đào tạo huấn luyện để chống lại dân tộc mà dân gian vẫn gọi là lính ngụy, ngụy binh.

Pháp thua phải cuốn gói thì Mỹ lại nhảy vào ngay đưa Diệm về lật Bảo Đại để tránh tiếng bù nhìn. Mỹ lăng xê Diệm như là một người yêu nước vì đã từng “chống Pháp”…. trong các nhà tu đạo bên Mỹ nhưng lại dùng lại quân đội ngụy thời Bảo Đại đã từng theo Pháp! Bởi vậy trong mắt nhân dân chứ không phải do cộng sản chụp mũ, ngụy luôn là ngụy.

Diệm cuối cùng cũng phải trả giá đắt như đã nói ở trên vì tưởng rằng Mỹ cho mình làm tổng thống thật!

‘Quốc trưởng’ Nguyễn Khánh, ‘tổng thống’ Thiệu sau đó cũng đều do Mỹ đưa lên và lôi xuống. Diệm nặng tội nhất thì bị thủ tiêu, Khánh bị trục xuất lưu đày, Thiệu bị ép từ chức tháng tư 1975.

‘Diễn văn’ từ chức của Thiệu trước khi chuồn êm cho thấy được sự phụ thuộc hoàn toàn của chính quyền và quân đội ngụy vào bàn tay Mỹ:

Tất cả các chiến lược chiến tranh từ ‘Chiến tranh cục bộ’ cho đến ‘VN hóa chiến tranh’ đều do Mỹ soạn thảo, thực hiện và chỉ huy điều khiển. Ngụy quân ngụy quyền chỉ tuân theo.

Khi được hỏi rằng mình có được người Mỹ tham khảo ý kiến về các hoạt động của họ trên đất VN không, ông Kỳ trả lời: ‘Tôi nghĩ rằng tất cả các quyết định quan trọng về chính trị cũng như quân sự đều được hình thành ở Washington, và họ chỉ cho chúng tôi biết trong chừng 24 giờ’ (trước khi thực hiện)…’cộng sản tuyên truyền rằng chúng tôi là bù nhìn tay sai của Mỹ thì cũng đúng thôi.’

‘Tôi nói với họ rằng, miền Nam cần một người như Hồ Chí Minh, một lãnh đạo thật sự, chứ không phải là một người của Mỹ nhưng họ không bao giờ hiểu.’

‘Việt Cộng luôn đối xử với chúng tôi như là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ, nhưng rồi chính người Mỹ cũng coi chúng tôi là những con bù nhìn của Mỹ, chứ không phải các nhà lãnh đạo thật sự của người dân Việt Nam’.

Lịch sử đôi khi khó nhận định rõ ràng nhưng trường hợp ngụy không phải là vấn đề kiểu như thế. Ngược lại nó thuộc loại rất rõ ràng được vì có rất nhiều bằng chứng và được tất cả các bên công nhận.

Ông lớn ở ‘Viện sử học’ này rõ ràng đã chà đạp lên lịch sử chứ không phải viết sử.

Những kẻ phản bội, “đốt đền” thế này còn leo lên hàng ngũ trí thức cấp cao nữa thì tương lai đất nước này sẽ ra sao? Con cháu sau này chúng cứ noi gương ngụy tha hồ rước giặc vào nhà tàn sát đồng bào để tranh quyền đoạt lợi vô tư thôi? 🤔

Theo blog Don’t Bull Shit

Advertisements

Ông Nguyễn Nhã và báo Tuổi Trẻ góp phần tuyên truyền xuyên tạc ý nghĩa lịch sử kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam

Báo Tuổi Trẻ đưa ra những ý kiến rất chủ quan, mơ hồ về lợi ích của việc công nhận ngụy quyền (thời kháng chiến chống Mỹ) từ các ‘tiến sĩ’ như sau:

1/ Họ cho rằng công nhận ngụy là một chính quyền độc lập mang tính chính danh có lợi cho việc tranh chấp pháp lý với TQ về HS, TS vì việc công nhận đó sẽ chứng minh được chính quyền VN hiện tại đã ‘chiếm hữu thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình’ hai quần đảo này.

Suy nghĩ kiểu đó phải nói là rất phản tác dụng vì việc công nhận sẽ chứng minh điều ngược lại! Nếu VNCH là một quốc gia độc lập riêng biệt như Mã hay Phi, thì có nghĩa là từ ngày nó thành lập và tách ra, VNDCCH hay CH miền Nam Việt Nam đâu còn chiếm hữu, quản lý bằng nhà nước và liên tục, hòa bình gì nữa? Phải xem ngụy là loạn đảng trong nước thì mới có thể đánh ngụy lấy lại đảo mà vẫn được xem là sở hữu thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình được chứ không thì hóa ra VN đã cướp đất chiếm đảo của một quốc gia có độc lập chủ quyền khác rồi còn gì?!

Hơn nữa, chuyện pháp lý mà các vị cứ làm như trò đùa trẻ con vậy! Chỉ cần đổi cách gọi là được! 😅 Cả hơn nửa thế kỷ nay nhà nước VN các thời kỳ đã ghi chép các chính quyền thuộc Pháp, thuộc Mỹ là ngụy thì TQ không thiếu bằng chứng khi ra tòa để chứng minh VN tráo trở?!

2/ Sợ lý do như trên chưa đủ trào phúng, Nguyễn Nhã bồi thêm: ‘Hiện nay có hơn 4 triệu Việt kiều trong đó các thành phần trong chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng rất quan trọng. Công nhận Việt Nam cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc’

Một “tiến sĩ giấy” khác là Lê Trung Tĩnh cũng được trích dẫn: ‘Việc từ bỏ cách gọi ‘ngụy quân’, ‘ngụy quyền’ và công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh.’

Thực tế, thành phần trong ngụy quân, ngụy quyền là con số rất nhỏ trong 4 triệu người hải ngoại và giờ đã già yếu và dần không còn bao nhiêu. Con số đó làm sao so được với hàng chục triệu người Việt Nam hy sinh mạng sống, thân thể tống cổ quân Mỹ đi để bây giờ các ông lại đặt họ ngang hàng với đám con hoang của Mỹ?! Sao các ông không để ý đến cảm giác của họ? Các ông chà đạp lên tôn nghiêm của đại đa số người yêu nước để nịnh bợ thiểu số phản quốc gần chết hết sẽ tạo được sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc sao?! Còn các vết thương do ngụy cõng giặc vào gây ra cho đất nước này vẫn còn chảy máu đều đều hiện nay thì sao không để ý?!

3/ Và Nguyễn Nhã tiếp tục kiên trì ngụy biện: ‘Thừa nhận Việt Nam cộng hòa, Việt Nam chúng ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. Đặc biệt như tôi đã phát biểu trong Đại hội kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Khoa học lịch sử Việt Nam rằng giới sử học ở miền Nam trước đây không bị ảnh hưởng về chính trị, hay quan điểm. Bất cứ nước nào tôn trọng giới học thuật, khoa học, nghiên cứu, nước ấy sẽ phát triển và ngược lại rất khó phát triển’

Từ người bình dân Mỹ thường dùng để miêu tả kiểu nói như thế này là ‘bullshit’. Tên gọi chính thức cho loại ngụy biện này là ‘Irrelevant Appeals’, tạm dịch là thuyết phục bằng những chuyện không liên quan.

Theo kiểu này thì chúng ta cũng có thể phán rằng, vì Việt Nam dùng nhiều thứ từ nền văn minh Trung Hoa, nên chúng ta phải sửa hết sử lại, phải viết rằng các triều đại phong kiến của họ chưa từng xâm lược Việt Nam mà chỉ sang khai hóa, thì mới có thể chính thức thừa hưởng gia tài văn hóa của TH nhỉ?! Chưa nói đến chuyện ông cho rằng VN ‘thừa hưởng’ những gì đó từ ngụy quyền cũng chỉ là cố tình vơ vào thôi!

Nguyễn Nhã muốn thuyết phục người ta công nhận một thứ bằng cách đưa ra những bằng chứng không liên quan! Muốn người ta công nhận VNCH không phải là ngụy thì ông phải đưa ra được bằng chứng chứng minh các chế độ ngụy 1.0, 2.0 không phải do Pháp-Mỹ nặn ra để đánh lận con đen che đậy hành động xâm lược của họ. Các ‘quốc trưởng’, ‘tổng thống’ ngụy không phải do họ lôi lên, kéo xuống, chờ lệnh từ các dinh thái thú với tên gọi khác là ‘tòa đại sứ’! Quân đội ngụy không do họ thành lập và chỉ huy từ tổng tư lệnh xuống đến lính quèn! Đó mới là phương pháp viết sử tôn trọng học thuật, khoa học, chứ không bị ảnh hưởng bởi chính trị hay tình cảm cá nhân nhé các “tiến sĩ”!

Cái ‘Quĩ nghiên cứu Biển Đông’ không một viện khoa học nào thừa nhận này thật ra nó là cái quĩ nghiên cứu tìm cách “phục hồi danh dự” cho ngụy thì đúng hơn. Họ chỉ lợi dụng vấn đề biển đảo để ngụy biện cho ngụy quyền. Cuộc tháo chạy bỏ lại đảo gọi là ‘Hải chiến Hoàng Sa’ cũng lại được đem ra trong bài này của báo Tuổi Trẻ.

Làm mất toàn bộ HS là tội rất lớn của ngụy quyền nhưng những người thuộc quĩ này đang biến nó thành công! Rõ ràng là ngụy không có khả năng về chính trị, quân sự, quản lý nên đáng lẽ họ không theo Pháp-Mỹ thì chính quyền VN đã tiếp thu, quản lý từ 1954 và dĩ nhiên đã có khả năng bảo vệ tốt hơn. Chúng ta khó có thể mất toàn bộ HS và do đó TQ cũng khó có thể tiến xuống đến TS.

Chính quyền ngụy chỉ được cái ăn bám là không ai bằng. Lãnh thổ trên bộ còn phải dựa hơi Pháp-Mỹ bảo vệ cho thì làm sao có khả năng giữ đảo mà cũng giành để bị cướp mất? Do đó tội lỗi rất lớn là ở họ và ngụy quân với tàu to súng lớn, máy bay các loại mà hèn nhát bất lực bắn cả vào nhau rồi bỏ chạy mà vinh với danh gì? Đó là một vết nhơ trong lịch sử biển đảo của VN.

Theo blog Don’t Bull Shit

Nước Đức và Việt Nam, hai hoàn cảnh lịch sử chiến tranh khác nhau

Xuất phát từ tầm nhìn hẹp và thiếu kiến thức, có những người hay so sánh sự chia cắt của Đức với Việt Nam rồi ca ngợi Đức thống nhất mà không có chuyện thù ghét nhau.

Thứ nhất, đó là một ngụy biện mà bên Tây gọi là ‘faulty comparison’, so sánh sai lệch, vì hoàn cảnh của sự chia cắt Việt Nam và Đức không giống nhau.

Đức bị chia cắt vì nước này đem quân đi xâm lược cả Châu Âu nhưng thất bại nên bị phe Đồng minh chia nhau chiếm đóng cả hai miền. Hai bên chính thể đông và tây nước Đức không mang tội ác dẫn giặc vào nhà tàn phá quê hương giết hại giống nòi như ngụy ở VN thì họ đâu có tội gì mà không thể huề cả làng?

Việt Nam bị Mỹ xâm lược chia cắt nên trái ngược với trường hợp của Đức. Ngụy chọn bám váy giặc ngoại xâm, dâng chủ quyền quốc gia để đổi lấy sự sung sướng vật chất cho riêng mình thì đó là một tội ác không thể tha thứ đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Gây ra tội ác như thế mà được đối xử như ở VN thì đã là may mắn. Nay được đằng chân lại lại lân đằng đầu?

Nếu muốn so sánh thì có thể dùng trường hợp của Pháp. Trong Thế chiến II, sau khi Đức thắng Pháp, một chính quyền bù nhìn ở Pháp được lập ra, thường gọi là chế độ Vitchy, do Thống chế Philippe Pétain cầm đầu. Phe kháng chiến do Charles de Gaulle lãnh đạo vẫn tiếp tục đánh cho đến khi Đức đầu hàng đồng minh. Sau khi thắng lợi, phe kháng chiến đã tử hình hàng chục ngàn người hợp tác với Đức, kết tội 120 ngàn. Ngay cả những đĩ điếm phục vụ cho Đức cũng bị đem ra cạo đầu làm nhục trước công chúng. Họ gọi đó là giai đoạn ‘thanh lọc’ nước Pháp.

http://www.nytimes.com/1986/07/27/books/the-purification-of-france.html?mcubz=3
https://en.wikipedia.org/wiki/Vichy_France#Purges

Hai miền nước Đức sau Thế chiến II đều bị Mỹ, Liên Xô chiếm đóng và cùng lập ra hai chính quyền phục vụ cho mình. Hai chính quyền này có tính chất như nhau thì lấy tư cách gì để phán xét đối phương như chính quyền kháng chiến Pháp phán xét chính quyền Vitchy làm tay sai cho Đức hay chính quyền cộng sản VN phán xét chính quyền ngụy làm tay sai cho Pháp-Mỹ.

Tuy vậy sau khi nước Đức thống nhất, chính quyền mới của Đức vẫn tiến hành điều tra hàng ngàn vụ, xét xử kết án hàng trăm vụ vì lý do chính trị chứ đâu có phải thống nhất thì huề cả làng như những kẻ ấu trĩ tưởng tượng đâu?

Còn vấn đề thù ghét thì xưa nay “ba que vàng vẩu” là bên luôn ôm hận thù cay cú suốt mấy chục năm chứ cộng sản rảnh rỗi đâu mà thù hận? Người nào muốn xóa bỏ hận thù (ngược) thì về VN làm ăn như cha con ông Nguyễn Cao Kỳ thì có vấn đề gì đâu?

Theo blog Don’t Bull Shit

Những kẻ “đốt đền” muốn gỡ lại danh dự cho ngụy quân, ngụy quyền thời chống Mỹ?

Tết Kỷ Dậu năm 1789, Chiến thắng của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ, Người Anh hùng áo vải đến từ đất Tây Sơn, Bình Định đã lãnh đạo quân và dân ta đánh đuổi 20 vạn quân xâm lược Trung Quốc (triều đại Mãn Thanh) ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Trong tuyên cáo chiến thắng, Hoàng đế Quang Trung viết:

“Đánh cho để dài tóc.
Đánh cho để đen răng.
Đánh cho nó chính luân bất phản.
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn.
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Tết Kỷ Dậu 1969, đúng vào dịp kỷ niệm 180 năm sau Chiến thắng Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789, trong khi thế cả nước thi đua đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm bài thơ Chúc tết Xuân Kỷ Dậu. Trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của cả cuộc đời vì nước vì dân, Bác Hồ viết:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang.
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do.
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, Đồng bào.
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”.

Trong bài thơ đó, Bác Hồ đã chỉ đích danh chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn là ngụy. Tại sao gọi chúng là “Ngụy” ? Hẳn Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có lý do để gọi chúng như vậy chứ ?

Theo Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội Việt Nam. Hà Nội. 1994) thì “Ngụy” là giả tạo. “Ngụy biện” là cố ý dùng những ý lẽ bề ngoài có vẻ đúng nhưng thực ra là sai để rút ra những kết luận sai lệch. “Ngụy tạo” là bày đặt ra cái giả nhằm lừa dối. Ngụy tạo chứng cứ là một ví dụ.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 3 (NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội. 2003) thì: “Ngụy quân” là tên gọi chung để chỉ lực lượng vũ trang người bản xứ do nước ngoài tổ chức, trang bị, nuôi dưỡng và chỉ huy để để thực hiện chính sách “dùng người bản xứ đánh người bản xứ trong các cuộc chiến tranh xâm lược. Trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, các nước đi xâm lược đều có tổ chức “ngụy quân” dưới chiêu bài “Quân đội quốc gia” nhằm ngụy trang cho mục đích xâm lược của họ. Cũng theo Từ điểm Bách khoa Việt Nam nói trên, “Ngụy quyền” là chính quyền do các thế lực nước ngoài xâm lược lập ra để chống đối lại chính quyền hợp pháp, hợp hiến của nhân dân nước sở tại chống xâm lược.

Đối chiếu với những điều kiện trên đây, chính quyền Sài Gòn từ năm 1950 đến năm 1975 là chính quyền ngụy, chính quyền bù nhìn do thực dân Pháp (1949 – 1954) và đế quốc Mỹ (1954 – 1975) dựng lên cũng là chính quyền ngụy để chống lại chính quyền hợp pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đang lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành hai cuộc kháng chiến nhằm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Cũng đối chiếu với những điều kiện ấy, quân đội Sài Gòn hoàn toàn là một quân đội bù nhìn do thực dân Pháp (1949-1954) và đế quốc Mỹ (1954 – 1975) tổ chức, trang bị, nuôi dưỡng và chỉ huy để thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”.

Ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn không có tư cách gì để được gọi là một chính quyền hợp pháp, hợp hiến, đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Ngụy quân Sài Gòn lại càng không thể có bất cứ một điều kiện nào để có thể được coi là một quân đội chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ Quốc. Mà ngược lại, đó là quân đội và chính quyền tay sai cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chống lại nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam.

Thế mà nay, trong bộ sách Lịch sử Việt Nam (tái bản) dài 15 tập, tập thể tác giả của bộ sách này do PGS. TS. Trần Đức Cường chủ biên đã bỏ cách gọi “ngụy quân Sài Gòn” và “ngụy quyền Sài Gòn”. Vậy các giáo sư, tiến sĩ sử học đã soạn bộ sách này hãy xem lại chính mình và hãy đọc lại, nhóa lại bài thơ “Chúc Tết Xuân Kỷ Dậu 1969” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

PGS. TS Trần Đức Cường cho rằng: “Chính quyền Việt Nam cộng hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong gần 21 năm. Năm 1954 còn có một thể chế nữa gọi là Quốc gia Việt Nam. Sau đó đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế Bảo Đại để làm quốc trưởng, sau đó trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống”. Vậy tôi xin hỏi:

1- Cái gọi là Quốc gia Việt Nam do ai dựng lên nếu không phải là thực dân Pháp ? Bảo Đại đã thoái vị vào năm 1945 thì có còn đại diện cho nhân dân Việt Nam được nữa hay không ? Và ai đã móc cái “thây ma chính trị” Bảo Đại ấy lên để phong làm “Quốc trưởng” nếu không phải là thực dân Pháp ?

2- Ngô Đình Diệm và chính quyền bù nhìn của ông ta do ai dựng lên nếu không phải là đế quốc Mỹ ? Quân đội ngụy Sài Gòn phục vụ cho lợi ích của ai nếu không phải ;là lợi ích của đế quốc Mỹ ? Quân đội ngụy Sài Gòn bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam hay phục vụ cho âm mưu chia cắt lâu dài đối với Việt Nam của đế quốc Mỹ và một số thế lực khác ?

3- Chính quyền ngụy Sài Gòn, quân đội ngụy Sài Gòn đã bị quét sạch khỏi miền Nam Việt Nam trong Chiến thắng mùa Xuân 1975 đánh dấu thắng lợi của các lược lượng yêu nước, yêu hòa bình, độc lập, dân chủ ở Việt Nam. Chính quyền bù nhìn ấy, quân đội bù nhìn đã đi ngược lại lợi ích của dân tộc Việt Nam có tư cách gì để được coi là một chính thể ?

Hơn 1.500.000 quân nhân Quân đội Nhân dân Việt Nam và hơn 3.000.000 người dân Việt Nam đã đổ xương máu và hy sinh trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam. Thế những xương máu của họ đã bị mấy nhà sử học soạn lên bộ sử này phản bội. Hương hồn họ sẽ về hỏi tội các ông khi các ông đã đặt bọn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn ngang hàng với họ với những lập luận xảo ngôn.

Cho dù ông PGS. TS Trần Đức Cường cũng có đặt vấn đề rằng “Nhưng vấn đề phải nghiên cứu cho rõ nguyên tắc vận hành của chính quyền này là gì ? Đó là một thực thể trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam” thì đây là một sự ngụy biện. Bản chất của một chính quyền là mục tiêu chính trị của nó, bản chất của một quân đội là phục vụ mục đích chính trị của chính quyền mà nó bảo vệ cho dù nó vận hành ở bất kỳ đâu, trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam. Không có chuyện một chính quyền chung chung, không có chuyện một quân đội lại không có bản chất chính trị. Thậm chí, kể cả quân đội đánh thuê cũng bị chi phối bởi lợi ích chính trị của kẻ đã thuê chúng.

Vì những lý do trên, chúng tôi, những cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, Công an Nhân dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ và cực lực phản đối việc thay đổi cách gọi đối với “ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn”. Thực chất chúng chỉ là quân đội bù nhìn đánh thuê cho Pháp và Mỹ, là chính quyền bù nhìn do Pháp rồi đến Mỹ giật dây để cai trị nhân dân Việt Nam, đem lại lợi ích cho ngoại bang.

Chúng tôi cũng khẩn thiết đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo Trung ương và Hội đồng lý luận Trung ương xem xét lại bộ sách “Lịch sử Việt Nam (tái bản)” khi bộ sách nói trên và những người đã soạn ra nó bắt đầu có những biểu hiện nghiêm trọng của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, của sự tự diễn biến, tự chuyển hóa, xóa nhòa ranh giới đúng – sai, đánh lộn sòng phải – trái và phản bội lại sự hy sinh của hàng chục triệu đồng bào, chiến sĩ ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam./.

Nguyễn Minh Tâm

Chiến tranh điện tử dữ dội nhất thế giới ở Việt Nam

Cuộc chiến tranh điện tử mạnh mẽ và dữ đội nhất trong lịch sử tác chiến đã xảy ra trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, là cuộc đối đầu giữa một thế trận phòng không nhân dân nhiều tầng nhiều lớp, với một lực lượng không quân cường kích mạnh nhất thế giới, với mọi loại vũ khí, trang thiết bị vô cùng hiện đại.

Sự phát triển mạnh mẽ tác chiến điện tử Không quân – Không quân Hải quân Mỹ ở Việt Nam

Trong những năm đầu của cuộc chiến tranh đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh từ sau đại chiến thế giới lần thứ II, lực lượng không quân Mỹ chỉ phải đối phó với lực lượng súng pháo phòng không các cỡ nòng từ súng trường đến pháo phòng không 100 mm.

Chỉ có hệ thống pháo phòng không 57mm được kết nối với radar điều khiển bắn. Do đó, tác chiến điện tử (TCĐT) chỉ nằm trong lĩnh vực sử dụng máy bay trinh sát các độ cao, từ máy bay U-2, SR – 71 đến máy bay trinh sát không người lái.

Sự xuất hiện của hệ thống tên lửa phòng không S-75 Dvina đã làm thay đổi tất cả. Chưa bao giờ các phi công Mỹ cảm thấy khủng khiếp khi bay vào bầu trời Hà Nội, số lượng máy bay bị bắn hạ tăng lên đến chóng mặt và buộc Bộ Tổng tham mưu Không quân và Không quân Hải quân Mỹ phải khẩn cấp đối phó.

Những phương tiện chế áp điện tử được nhanh chóng nghiên cứu và chế tạo dựa trên các thông số kỹ chiến thuật của những tổ hợp tên lửa S-75 Dvina do Israel thu được từ liên quân các nước Ả rập.

Đỉnh cao của các hoạt động TCĐT trong cuộc không chiến trên bầu trời miền Bắc là các chiến dịch Linebacker I và Linebacker II vào năm 1972, có sự tham gia với quy mô lớn của máy bay ném bom chiến lược B-52.

Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch mà các hoạt động TCĐT của Không quân Mỹ được triển khai với quy mô lớn nhất, áp dụng những công nghệ hiện đại nhất và thực hiện có hiệu quả cao nhất tính từ thời điểm áp dụng các phương tiện chế áp điện tử chống hệ thống phòng không miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là hệ thống tên lửa S-75 Dvina trong thế trận phòng ngự Hà Nội, Hải Phòng.

Cơ cấu tổ chức của hệ thống TCĐT quân đội Mỹ trong chiến dịch Linebacker II

Trong quá trình tiến hành chiến dịch không kích đường không mang tính chất quyết định cuộc chiến tranh Việt Nam trên cả lĩnh vực chính trị và quân sự. Bộ Tổng tham mưu liên quân quân đội Mỹ đã triển khai trên quy mô rộng lớn các hoạt động TCĐT, xác định hệ thống đồng bộ các hoạt động TCĐT là yếu tố quyết định quan trọng đảm bảo các hoạt động tác chiến của lực lượng không kích đường không. Các hoạt động TCĐT bao gồm có:

– Tìm kiếm và phát hiện tất cả các khí tài radar điện tử của hệ thống phòng không.;

– Chế áp điện tử tất cả các đài radar của các phượng tiện, vũ khí phòng không của Việt Nam;

– Sử dụng các đầu đạn (bom, tên lửa tự dẫn chống radar) tiệu diệt và phá hủy các phương tiện phát sóng radar của hệ thống phòng không.

Các hoạt động TCĐT được triển khai trên tất cả các mục tiêu và mục đích tác chiến ở tầm chiến lược cũng như tầm chiến thuật. Các nhiệm vụ trinh sát chiến lược được thực hiện bởi các máy bay như SR-71, U-2 và RC-135, các nhiệm vụ trinh sát chiến thuật được thực hiện bởi các đài trinh sát điện tử – radar chế độ thụ động, lắp đặt trên tất cả các máy bay chiến lược, chiến thuật và máy bay thuộc không quân hải quân.

Các bộ khí tài trinh sát radar được nêu trong bảng sau:

Các đài trinh sát điện tử APR-25 (26), APR-36 (37) và APS-109 cho phép các phi công Mỹ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ không những phát hiện được bị chiếu xạ bằng radar của vũ khí phòng không, mà còn theo các thông số nhận được xác định được loại radar, hướng chiếu xạ radar và khoảng cách từ đài radar đến các máy bay.

Thông tin về radar được truyền đến phi công và cơ trưởng bằng tín hiệu âm thanh và được hiển thị trên màn hình bảng đặc biệt cùng với các đèn tín hiệu. Hướng chiếu tia quét radar và nguồn phát đài radar cũng như khoảng cách đến đài radar được xác định bằng các thông số tín hiệu trên màn hình đặc biệt hiển thị bằng các chỉ số điện từ. Ví dụ như trên đài trinh sát ARR-25 (26) có 4 giải pháp indicator hiển thị tín hiệu:

– Màn hình hiển thị indicator “góc phương vị – tầm xa”;

– Bảng báo hiệu chiếu sáng và tín hiệu đèn nhấp nháy;

– Tín hiệu âm thanh trong tai nghe mũ lái;

– Đồng hồ và kim chỉ mức độ nguy hiểm.

Hướng chiếu xạ của radar được xác định bằng các anten thu thụ động với các vùng thu sóng radar chùm lên nhau, xác suất sai lệch xác định góc phương vị từ 1-2°. Tầm xa của các đài radar có xác suất sai lệch lớn hơn, dựa trên công suất chùm sóng radio chiếu xạ lên máy bay (tính trên những thông số kỹ chiến thuật mẫu về các đài radar của Phòng không Việt Nam) do đó có độ chính xác không cao.

Kiểu loại và tính năng kỹ chiến thuật của các phương tiện phòng không cũng được hiển thị lên màn hình indicator điện từ. Khi máy bay bị chiếu xạ bởi nhiều đài radar khác nhau, hệ thống phụ thuộc vào các thông số của bức xạ radio, độ dài của bước sóng, công suất của chùm sóng hoặc đường truyền xung để xác định các đài radar cũng như góc và hướng phát. Thông tin lần lượt theo mức độ ưu tiên nguy hiểm hiển thị lên màn hình indicator điện tử.

 Máy bay tác chiến điện tử EB – 66.
Máy bay tác chiến điện tử EB – 66.

Thực hiện công tác chế áp điện tử, trên máy bay ném bom chiến lược B-52 và máy bay tác chiến điện tử EB – 66 có các đài trinh sát ALR-20. Đài có nhiệm vị xác định tần số phát sóng của các đài radar và hiệu chỉnh các đầu phát xung gây nhiễu, được lựa chọn để chế áp các đài radar.

Như vậy, bằng các trang thiết bị điện tử có trên máy bay, các phi công có khả năng đánh giá được tình hình môi trường điện từ trên chiến trường, xác định mức độ nguy hiểm từ các đài radar theo dõi, radar pháo phòng không và radar tên lửa, từ đó xác định thời điểm lực lượng phòng không mặt đất phóng tên lửa, từ những thông tin nhận được, quyết định các hoạt động cơ động tránh tên lửa hoặc sử dụng vũ khí tên lửa chống radar.

Các hoạt động tác chiến nhằm chế áp điện tử lực lượng phòng không

Không quân và Hải quân Mỹ, trước thế trận phòng không dày đặc của miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là khu vực Hà Nội và Hải Phòng, đã nỗ lực tổ chức và triển khai TCĐT trên quy mô lớn nhất nhằm phá hoại và cắt đứt mọi hoạt động điều hành tác chiến của Bộ Tham mưu lực lượng Phòng không – Không quân, đồng thời giảm đến tối thiếu khả năng chiến đấu của vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu của không quân và phòng không Việt Nam.

Để thực hiện mục đích đó, quân đội Mỹ sử dụng triệt để các phương tiện chế áp bằng gây xung radio nhiễu loạn trong không gian điện từ, gây nhiễu chủ động và rải gây nhiễu thụ động. Số lượng các đầu phát nhiễu radio điện từ phụ thuộc vào loại máy bay và nhiệm vụ chiến đấu được giao.

Trên máy bay ném bom chiến lược B – 52  lắp đặt 15 đầu phát xung điện từ radio gây nhiễu chủ động, trên máy bay tác chiến điện tử EB -66 lắp 12 đầu phát xung gây nhiễu, trên các máy bay chiến thuật có từ 2 – 4 đầu phát. Các đầu phát xung radio gây nhiễu có thể phát xung che phủ một dải tần số từ 40 đến 10500 MHz .

Thiết bị gây nhiễu tập trung nhiều vào dải tần số hoạt động của các tổ hợp khí tài điện tử radar trinh sát tầm xa, radar điều khiển và dẫn bắn tên lửa phòng không, pháo phòng không và radar dẫn đường máy bay tiêm kích của quân chủng Phòng không Không quân.

Hoạt động chế áp điện tử nhằm vào các loại radar như P -12, P- 15, P-35, PRV 11, đài điều khiển và dẫn đường tên lửa RSNA – 75M, đài điều khiển hỏa lực phòng không SON – 9, đài radar theo dõi, ngắm bắn mục tiêu của máy bay tiêm kích RP – 21M, các đài vô tuyến R – 405 và tổng đài tác chiến R – 109. Trên các máy bay B-52 và máy bay TCĐT EB -66 lắp đặt các đài phát gây nhiễu các rãnh đạn RSNA – 75M, trên các máy bay chiến thuật không lắp đặt các loại này.

Gây nhiễu thụ động chủ yếu sử dụng các cuộn dây bạc lượng cực phản xạ sóng radar, che chắn các dải tần số có bước sóng cm, dm, m. Gây nhiễu thụ động thường được máy bay chiến thuật F-4 Phantom thực hiện bằng các avtomat và các thùng container dây băng gây nhiễu.

Các chùm dây băng gây nhiễu thụ động này được sử dụng để che chắn và ngụy trang đội hình không kích của máy bay ném bom chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân, đồng thời cũng được dùng để tự vệ ngụy trang trước nguy cơ bị tên lửa phòng không bắn rơi. Hệ thống các bộ khí tài gây nhiễu được tổ chức như sau:

– Hệ thống khí tài gây nhiễu chủ động (nhiễu loạn sóng radio chủ động chế áp các đài radar được phát từ các máy bay ném bom chiến lược, máy bay chiến thuật, máy bay TCĐT EB – 66 và các chiến hạm thuộc hạm đội 7 đang hoạt động ngoài khơi vịnh Bắc Bộ.

– Các đài gây nhiễu các rãnh đạn tên lửa S- 75M bằng sóng radio được lắp trên các cụm máy bay tập kích chiến thuật đường không và máy bay yểm trợ, nghi binh và chi viện thuộc Không quân và Không quân hải quân Mỹ;

– Các loại nhiễu thụ động (dây băng gây nhiễu lưỡng cực) được lắp đặt trên các máy bay chiến lược,  chiến thuật và các máy bay không quân hải quân.

Trong các đợt tấn công ồ ạt bằng máy bay ném bom chiến lược, các cụm không kích máy bay chiến thuật, đòn tấn công gây nhiễu được bắt đầu bằng các máy bay TCĐT.

Nguyên tắc tổ chức thực hiện như sau: Trước 15-20 phút bắt đầu tấn công, các máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu chủ động (Không quân  – ЕВ-66, Không quân Hải quân – ЕА-6В và ЕКА-ЗВ), tiếp cận vùng trời Vịnh Bắc Bộ và Lào và bắt đầu gây nhiễu chiến thuật, 10-16 phút sau cuộc không kích, các máy bay TCĐT dừng phát xung radio gây nhiễu.

Vùng TCĐT của máy bay EB – 66 thông thường nằm trên hướng bay không kích của máy bay B- 52 vào mục tiêu. Các máy bay TCĐT bay theo 1 quỹ đạo chiến đấu trên độ cao từ 6 – 7 km mỗi tốp thường từ 2 – 3 máy bay. Trên hướng Thái Lan – Lào các máy bay bay ở khoảng cách đến biên giới Việt Nam từ 60 – 80 km trên vùng trời Sầm Nưa; từ hướng căn cứ Guam – Vịnh Bắc Bộ – 50 – 60 km cách bờ biển.

Mỗi tốp máy bay TCĐT Mỹ được bảo vệ và che chắn bởi một biên đội máy bay tiêm kích (1 – 2 chiếc). Tần số phát sóng radio gây nhiễu của EB – 66 nằm trong dải tần tử 40 – 3500 MHz. Các máy bay chiến thuật như F -4, F -105 trong đội hình chi viện và yểm trợ cho máy bay B-52 cũng được trang bị các bộ khí tài gây nhiễu chủ động.

Các máy bay này được lắp đặt 4 container gây nhiễu chủ động ALQ-87 hoặc  ALQ-101, gây nhiễu radar trong một hoặc hai chế độ. Ở chế độ chế áp sóng radar SNR tìm kiếm, phát hiện mục tiêu và dẫn đường đạn trên tần số 40-50 MHz của các đài radar tên lửa, pháo phòng không và radar trinh sát mục tiêu tầm xa. Khi máy bay không bị chiếu xạ bằng radar (thoát khỏi vùng theo dõi) của radar.

Chế độ thứ hai là chế độ phát xung radio ngăn chặn phát hiện và theo dõi của các radar tầm xa trên tần số bước sóng từ 200-300 МHz. Chế độ này được bật khi máy bay bay vào vùng chiến đấu của các đài radar phát hiện mục tiêu, không phụ thuộc vào tình huống bị chiếu xạ hay không. Hệ thống điều khiển các bộ khí tài gây nhiễu được tự động hóa hoặc phi công sẽ điều khiển trên chế độ “bật – tắt” khi bước vào cuộc không kích.

 Sơ đồ gây nhiễu thụ động của máy bay B-52 và máy bay chiến thuật.
Sơ đồ gây nhiễu thụ động của máy bay B-52 và máy bay chiến thuật.

Phương pháp gây nhiễu chiến thuật của không quân Mỹ

Gây nhiễu thụ động trong các trường hợp không kích ồ ạt bằng máy bay chiến lược được thực hiện bởi chính các máy bay ném bom B-52 hoặc các cụm máy bay chiến thuật của Không quân hoặc không quân hải quân. Rải nhiễu thụ động lưỡng cực được tiến hành bởi các tốp máy bay trinh sát hỏa lực chiến thuật trong khoảng từ 10 – 15 phút trước khi máy bay ném bom chiến lược B-52 tiếp cận mục tiêu.

Khu vực triển khai gây nhiễu thụ động được lựa chọn theo hướng tiếp cận mục tiêu của máy bay ném bom, thời gian dự kiến các máy bay ném bom sẽ bay vào vùng hỏa lực của tên lửa hoặc pháo phòng không và độ cao gây nhiễu phụ thuộc vào độ cao quỹ đạo bay của máy bay B-52.

Thông thường, các tốp máy bay F-4D và F-4E sẽ gây nhiễu ở khoảng cách từ 40 – 50 km đến mục tiêu không kích dọc theo đường bay của máy bay ném bom và gây nhiễu dày đặc ở khu vực mục tiêu. Một phi đội từ 4 – 8 máy bay sẽ tạo một hành lang nhiễu dày đặc khoảng 30 km và có chiều rộng từ 4 – 6 km.

Các máy bay gây nhiễu bay theo tốp 4 chiếc, 2 tốp bay 8 chiếc dàn hàng ngang với khoảng cách từ 600 – 800 m ở độ cao 6 – 7 km. Thời gian phóng các thùng nhiễu giãn cách từ 3 – 5 giây. Khi rơi khỏi máy bay, phút chốc các thùng nhiễu sẽ bị kích nổ tự động, các bó nhiễu được tung dày đặc trong không gian.

Trong khoảng từ 4 – 5 giây, các bó nhiễu thụ động dưới tác dụng của các dòng không khí, tạo ra trên màn hình các loại radar tín hiệu tương tự như tín hiệu bắt được từ mục tiêu. Khi máy bay ném bom B-52 bay đến khu vực gây nhiễu, trên màn hình radar hình thành các sọc tín hiệu nhiễu dày đặc, gây khó khăn cho việc tìm kiếm, phát hiện mục tiêu và xác định tình huống không tập.

Tên lửa chống radar Shrike

Để tăng cường khả năng chế áp điện tử, không quân Mỹ đã thành lập các đơn vị không chiến với radar, mỗi phi đội không kích radar được biên chế từ 4 – 6 máy bay chiến thuật hoặc không quân hải quân (F-105G và F-105D, có thể là F-4C, А-4, А-6А, А-7Е và F-8).

Tập kích các đài radar được thực hiện bằng các tên lửa điều khiển tự dẫn bằng sóng radar tên lửa như AGM-45 ” “Shrike” và  AGM-78 ” Standard ARM”. Các loại tên lửa chống radar được sử dụng để chống radar điều khiển hỏa lực của tên lửa S-75M Dvina, radar điều khiển hỏa lực SON – 9 và các đài radar trinh sát P-35, PRB – 11.

   Sơ đồ tấn công radars bằng tên lửa chống radars Shrike
Sơ đồ tấn công radar bằng tên lửa chống radar Shrike

Phương thức tác chiến tấn công các đài radar tên lửa như sau. Các máy bay mang tên lửa chống radar bay ở khoảng cách từ 15 đến 20 km cách khu vực tấn công của B-52 trên độ cao trung bình, các phi công có nhiệm vụ công kích radar đều là những phi công lão luyện trong điều khiển tên lửa chống radar và có kỹ năng cơ động tránh tên lửa tốt.

Khi khí tài trinh sát phát hiện có chiếu xạ radar, thông tin đường truyền tải vào đầu dẫn tên lửa, tên lửa được phóng chậm nhất là sau 10 – 15 giây khi bắt được tín hiệu khóa sóng radar của đài phát. Các máy bay chống radar chỉ có thể phóng tên lửa ở chế độ bay ổn định trên mặt phẳng ngang, độ cao bay là 2 – 4 km. Các trạng thái phóng tên lửa khác không được áp dụng.

Tên lửa Shrike được phóng từ khoảng cách tính đến đài radar là từ 15 – 35 km với mục đích sao cho các trắc thủ tên lửa phòng không khó phát hiện được tên lửa Shrike tấn công.

Tên lửa Shrike giai đoạn này không có hiệu quả tác chiến cao khi nhiều đài phát xung radar cùng hoạt động trong bán cầu đầu thu phía trước của tên lửa, đồng thời hoàn toàn mất phương hướng khi tin hiệu radars bị ngắt, chính vì vậy, hiệu quả tác chiến của Shrike không cao, trong suốt chiến dịch Linebacker II chỉ có 1 đài radar điều khiển tên lửa và hai radar đo độ cao PRV – 11 bị đánh trúng.

Trong chiến dịch Linebacker II, tin tưởng vào khả năng chế áp điện tử của các phương tiện tham gia tác chiến, quân đội Mỹ đã điều động một số lượng khổng lồ các phương tiên bay tham gia cuộc không kích có tính chất quyết định cuộc chiến tranh này.

Trên vùng trời Hà Nội và Hải Phòng, Mỹ điều động 1800 lần xuất kích máy bay chiến đấu, trong đó có 390  máy bay В-52, gần 1200 máy bay chiến thuật và máy bay thuộc Không quân hải quân, 70 máy bay cường kích tầm thấp F-111A và 150 máy bay trinh sát điện tử quang ảnh  SR-71, 147J, RF-4C и RA-5C.

Chống tác chiến điện tử

Trước khi bắt đầu chiến dịch Linebacker II, trong các trận chiến đấu chống B-52, lực lượng phòng không Việt Nam đã phát hiện ra dải tần số và cường độ của loại nhiễu này.

Từ các phát hiện trên, đã hình thành tập tài liệu “Cách đánh B-52” các chuyên gia Liên Xô (cũ) và các kỹ sư quân sự Việt Nam đã khắc phục bằng phương pháp “át nhiễu”, nâng công suất sóng hồi xung của đạn và sóng điều kiển đạn lên gấp ba lần, đủ sức vượt qua cường độ nhiễu không chỉ của loại ALQ-71 mà còn cả các loại máy gây nhiễu cùng tính năng có công suất lớn hơn như ALQ-101, ALQ-107.

Từ năm 1968 đến năm 1973, các loại máy gây nhiễu rãnh đạn kiểu ALQ-x của không lực Hoa Kỳ trở nên vô hiệu đối với S-75 Dvina.

Những thay đổi được ghi nhận trên tổ hợp SAM-2 là việc các nhà khoa học Việt Nam phối hợp với chuyên gia Xô viết thay đổi tần số điều khiển rãnh đạn giúp đạn tên lửa khó bị gây nhiễu bởi các thiết bị đối kháng điện tử chủ động và thụ động (trong giai đoạn 1965-1972, chuyên gia ta phối hợp với kỹ sư Liên Xô đã 5 lần thay đổi tần số rãnh đạn).

Phương pháp bắn ba điểm – sáng tạo sử dụng vượt tính năng khí tài của người Việt Nam

Thông qua thực tế chiến đấu, Bộ đội Tên lửa Việt Nam đã đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm để đối phó với màn nhiễu của không quân quân Mỹ và phương pháp vạch nhiễu tìm thù, lấy điểm yếu của địch làm lợi thế của ta.

Giai đoạn đầu của chiến dịch không kích, các đơn vị trắc thủ tên lửa hầu như không nhận biết được mục tiêu do các loại nhiễu dày đặc đã hoàn toàn ảnh hưởng đến khả năng quan sát chế độ thụ động của radar tên lửa (Radar cảnh giới kiêm dẫn đường P-35 Saturn, P-12 “Spoon Rest”, đài radar cảnh báo sớm dải sóng VHF, tầm hoạt động 200 kilômét,  P-15 “Flat Face C” radar cảnh giới và bắt mục tiêu, chống mục tiêu bay thấp băng C, công suất 380 kW, tầm hoạt động 250 km/155 dặm).

PRV-11 “Side Net” radar đo độ cao mục tiêu). Đồng thời, các trắc thủ tên lửa do nguy cơ tấn công của tên lửa chống tên lửa phòng không, đã không thể sử dụng sóng radar phát chủ động để tìm kiếm mục tiêu.

Qua tổng kết kinh nghiệm đánh trận đầu tiên, lực lượng phòng không Việt Nam đã phát hiện một vấn đề: bản thân máy bay B-52 cũng tự gây nhiễu chủ động, từ đặc điểm này có thể xác định được các tốp máy bay B-52 bay vào, từ đó quyết định phương pháp tấn công mục tiêu:

Nhiễu chủ động của В-52, chế áp trên dải tần số đài điều khiển SNRA -75M “Fan Song” có thể được phát hiện ở khoảng cách 180 – 200 km. Trên khoảng cách 60 – 70 km sĩ quan điều khiển có thể nhìn thấy 1 dải nhiễu rất lớn và các dải nhiễu nhỏ hơn, điều chỉnh độ nét, các trắc thủ giảm dải nhiễu xuống còn 3 – 3,5 độ.

Trên khoảng cách 40 – 50 km, dải nhiễu mở rộng ra đến 6 – 7độ. Trên mặt phẳng góc phương vị dải nhiễu được chia ra thành 3 sọc sáng 3 – 3,5 độ, trên góc tà không chia, hoặc chia thành 2 sọc.

Những đặc điểm của nhiễu B-52:

1.Khi các máy bay B-52 vào không kích, cùng lúc địch gây nhiễu mạnh trên toàn bộ các dải tần số hoạt động của các trang thiết bị điện tử radio và cả sóng cực ngắn.

2. Dải nhiễu của các tốp máy bay B-52 ổn định về độ rộng, độ sáng và cường độ công suất hơn so với các máy bay chiến thuật. Do máy bay B-52 bày theo đường bay thẳng, có độ cao ổn định (9-12km) và tốc độ ổn định (220 – 230 m/s).

3. Quỹ đạo đường bay của máy bay B052 rất ổn định, tốc độ bẻ góc của B-52 theo góc phương vị  khoảng 0,2 độ/s trong khoảng cách từ 30 – 100 km, do đó tốc độ thay đổi tần số dải nhiễu cũng rất ổn định.

4. Đuôi của dải nhiễu В-52 nếu so sánh với máy bay chiến thuật, để lại dấu vết lâu hơn.

5. Công suất của các đài phát xung gây nhiễu của В-52 rất mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến tín hiệu điều khiển tên lửa (nhiễu rãnh đạn). Theo các thông số của lực lượng phòng không, máy phát gây nhiễu ALT-28 tạo dải nhiễu trên mặt phẳng thẳng đứng là 20 – 25 độ, chiều rộng của dải nhiễu trên mặt phẳng ngang là 15 độ. Hiệu suất cao nhất của dải nhiễu nằm ở khoảng cách từ 24 – 25 km với độ cao máy bay là 10 – 12 km.

Từ những nhận định theo kinh nghiệm đã nếu, kíp trắc thủ xe điều khiển đã lựa chon phương thức bắn kết hợp 3 điểm TT và phương pháp bắn vượt nửa góc PC. Trong phương án bắn phối hợp này, sĩ quan điều khiển sau khi đã xác định dải nhiễu B-52 chuyển thông tin mục tiêu cho kíp trắc thủ radar. Phương pháp phóng tên lửa diệt mục tiêu B-52 được thực hiện như sau:

Kíp trắc thủ sau khi xác định mục tiêu tốp B-52 đang hướng về khu vực ném bom cần tiêu diệt. Trên khoảng cách 40 – 45 km tiến hành 1 lần phóng giả (nghi binh) nhằm xác định chính xác mục tiêu cần tiêu diệt và loại trừ nguy cơ Shrike. Sau đó tắt phát sóng chủ động của SNR và bám mục tiêu thụ động (hướng vào tâm điểm của vùng nhiễu được nhận định là B-52.

Bật phát sóng chủ động khi mục tiêu đã vào vùng phóng tên lửa 28 – 34 km trong khoảng 5 – 7 giây nhằm xác định tình huống và điều kiện nhiễu, đặc biệt đánh giá sự hiển diện của nhiễu thụ động trong khu vực tên lửa gặp mục tiêu.

Tên lửa được phóng lên và điều khiển theo phương pháp 3 điểm (TT) trong điều kiện SNR tắt phát chủ động nhằm đảm bảo không bị công kích bởi tên lửa Shrike. Bật phát chủ động trong khoảng thời gian từ 15 – 18 giây trước khi tên lửa gặp mục tiêu cho phép trong điều kiện phát hiện được tín hiệu mục tiêu trên nền nhiễu, có thể chuyển sang chế độ dẫn PS (vượt nửa góc) đồng thời bắt mục tiêu ở chế độ tự động, chế độ điều khiển tay quay và hỗn hợp (phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng xác định tín hiệu mục tiêu trong nhiễu xạ mạnh.

Về căn bản, phương pháp bắn 3 điểm là hình thức cải tiến của phương thức bắn Vượt nửa góc với việc bỏ chế độ dẫn tự động sang dẫn đạn tên lửa bằng tay bám theo nguồn nhiễu do trắc thủ trực tiếp thực hiện. Khi tới cự ly tiêu chuẩn, đạn tên lửa sẽ đươc kích hoạt đầu tự dẫn để tìm kiếm, khóa và tiêu diệt mục tiêu.

Điểm khó của phương thức này là việc vạch nhiễu, xác định đúng đâu là nguồn nhiễu của máy bay B-52 và đâu là nhiễu do máy bay chiến thuật tạo ra. Sau khi tên lửa đã chạm mục tiêu và phát nổ. Trắc thủ radar tắt nguồn phát và quay radar sang hướng khác, loại trừ tên lửa Shrike.

Một cải tiến mới cũng được đưa vào cho tên lửa nhằm chống nhiễu, đo là khởi động hệ thống tự dẫn và khởi động hệ thống kích nổ phi tiếp xúc trên khoảng cách ngắn hơn so vơi trước đây. Chế độ tự dẫn được khởi động hiệu quả nhất ở khoảng cách đến mục tiêu Rs là 8 – 15 km.

Do dải nhiễu của B-52 kéo dài đến 25 km và dày đặc ở khu vực mục tiêu, do đó, nếu chế độ tự dẫn được bật muộn hơn 8 km, hiệu suất theo bám mục tiêu bị giảm đáng kể, nếu khoảng cách bật chế độ tự dẫn tên lửa lớn hơn 15 km, tên lửa sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiễu thụ động, kết quả tiêu diệt mục tiêu bằng 0. Với chế độ tự dẫn lớn hơn hoặc bằng 8 km.

Xác suất tiêu diệt là 0,25. Đồng thời cũng có sự thay đổi trong chế độ khởi động bộ phận kích nổ. Bộ phận kích nổ được khởi động trong khoảng cách từ 5 – 7 km đến mục tiêu. Do nhiễu xạ thụ động thường dày đặc ở tầm cao 6 – 8 km. Nếu bộ phận kích nổ khởi động theo nguyên lý chế tạo là 11,5km, tên lửa sẽ bị kích nổ khi xuyên qua tầng nhiễu thụ động. Việc kích nổ muộn hơn cũng giảm tỷ lệ ảnh hưởng của nhiễu thụ động.

Trong chiến tranh đất đối không tại Việt Nam (1965-1972), do ưu thế gần như áp đảo của không quân Mỹ nên các đơn vị phòng không Việt Nam phải thực hiện chiến thuật cơ động và nghi binh cho tên lửa phòng không. Theo điều lệnh tác chiến của lực lượng phòng không Liên Xô (cũ), mỗi tiểu đoàn S-75 Dvina (kể cả loại S-75B Volkhov) đều cần từ 1 đến 2 trận địa dự bị trong phạm vi bán kính cơ động 5 đến 10 km.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, mỗi tiểu đoàn tên lửa phòng khống phải có  từ 4 đến 6 trận địa dự bị ở phạm vi cơ động có thể lên đến hàng trăm km trên nhiều loại địa hình khác nhau. Sau mỗi trận đánh, toàn bộ khí tài được tháo dỡ, thu gom trong vòng chưa đến 1 giờ và được di chuyển ngay đến trận địa mới.

Tại trận địa cũ, dân quân tự vệ  dựng lại  bộ khí tài giả làm bằng tre và cót, được sơn phết giống như thật. Do Shrike có hiệu quả thấp, máy bay cường kích chi viện hỏa lực đã tập kích dữ dội  vào các trận địa không người. Do đó, mặc dù có số lượng không lớn nhưng hầu hết các đơn vị của tên lửa phòng không Việt Nam vẫn tránh được những đòn đánh hủy diệt của không quân Hải quân Mỹ, bảo toàn được lực lượng.

Trận không chiến 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, Lực lượng tên lửa phòng không đã phối hợp sử dụng đài radar K8-60 của pháo phòng không 57mm quét tập trung để xác định chính xác các tốp B-52 (không quân Mỹ không để ý tới tần số phát của đài radar dạng này với chủ quan rằng chúng không có khả năng gây hại tới B-52) cung cấp thông tin cho đài radar dẫn bắn Fan Song E (radar điều khiển hỏa lực của tổ hợp SAM-2) để dẫn bắn trúng vào các tốp B-52 của địch khi tần số radar của tổ hợp tên lửa SA -75 bị gây nhiễu nặng.

Ngoài ra, đài radar Fan Song được trang bị hệ thống kính tiềm vọng TZK- tổ hợp PA-00  cung cấp thông tin đồng bộ với hệ thống quan sát bằng ra-đa (phương thức so kim) cho phép SA-75 khai hỏa vào mục tiêu trong điều kiện nhiễu nặng, không thể xác định được mục tiêu.

Theo lời nhiều trắc thủ đã trực tiếp chiến đấu đánh B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm, tổ hợp PA-00 với tầm quan sát chỉ 12km, nhưng do không thể bị gây nhiễu (quan sát trực tiếp bằng mắt) đã đóng góp rất lớn vào việc tiêu diệt các máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ.

Hai ngày đầu tiên, lực lượng tên lửa phòng không Việt Nam chống lại 5 đợt tấn công ồ ạt của máy bay ném bom chiến lược. Trong hai đêm đó, hiệu quả tác chiến tương đối thấp, chỉ đạt 0,09, trong 4 máy bay B – 52 bị bắn rơi, trung bình tiêu hao là 19 tên lửa. Nhưng cũng nhờ những kinh nghiệm của 2 đêm tác chiến đầu tiên, lực lượng phòng không Việt Nam đã nâng cao hiệu suất phóng tên lửa lên đến 0,27, tỷ lệ tên lửa trên một máy bay B-52 rơi là 6,6.

Một đơn vị bị trúng tên lửa Shrike do trắc thủ đã phạm sai lầm khi sử dụng chế độ phát chủ động của radar SNR. Do quá bám mục tiêu, đã chiếu xạ B-52 đến 80 giây với cường độ phát xung rất cao. Thực hiện yêu cầu chiến thuật chống Shrike, chỉ bật phát chủ động trong 18 – 20 giây nên các đơn vị tên lửa còn lại, hầu hết Shrike đều rơi cách trận địa từ 2-3 km.

Thống kê cho thấy, hiệu quả tác chiến cao trong môi trường nhiễu tổng hợp của đối phương rất mạnh cùng với những đợt tấn công khốc liệt các trận địa tên lửa của máy bay chiến thuật Mỹ đã khẳng định, tính năng kỹ chiến thuật của tổ hợp SA-75M Dvina rất tốt, các kíp trắc thủ tên lửa đã được huấn luyện thuần thục khai thác sử dụng triệt để mọi khả năng của radars, tên lửa đồng thời có kỹ năng tác chiến hoàn hảo, bình tĩnh dũng cảm và sáng tạo trong từng lần phóng tên lửa.

Một đóng góp to lớn trong chiến dịch chống không kích đường không trong điều kiện tác chiến điện tử rất mạnh là khả năng cơ động và đảm bảo cơ sở vật chất, đạn tên lửa kịp thời trong trận đánh của các đơn vị hậu cần – kỹ thuật binh chủng.

Các lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội đã chặn đứng 25 đợt tấn công ồ ạt của máy bay ném bom chiến lược và máy bay chiến thuật của đối phương. Tiến hành phóng đạn 181. Kết quả đã tiêu diệt 54 máy bay, trong đó có 31 В-52, 13 F-4, 10 А-6 và А-7.

Với máy bay ném bom В-52 đã phóng 135 lần (74% tổng số tên lửa), tiêu hao 244 tên lửa. Hiệu suất chiến đấu đạt 0,23. Tiêu hao để diệt 1 máy bay B-52 là 7,9 tên lửa.

Có 46 lần phóng tên lửa tấn công tiêu diệt máy bay chiến đấu cấp chiến thuật và không quân hải quân (26% tổng số các lần phóng), tiêu hao 77 tên lửa , bắn rơi 23 máy bay. Hiệu quả tác chiến đạt  0,5 với tỷ lệ tiêu hao 3,3 tên lửa trên 1 máy bay.

Chiến dịch Linebacker II là một chiến dịch lớn chưa từng có trong các chiến dịch TCĐT mà quân đội Mỹ và các nước trên thế giới tiến hành. Mật độ trang thiết bị tác chiến điện tử cũng lớn nhất từ trước đến tận ngày nay. Hầu hết các lần phòng đạn đều phải tiến hành trong điều kiện nhiễu tổng hợp và dày đặc (chiếm 76%).

Tổng kết chung hiệu quả tác chiến trong điều kiện gây nhiễu chế áp mật độ dày đặc là 0,47. Đây là hiệu quả tác chiến cao nhất trong sử dụng tên lửa phòng không đánh trả các cuộc tập kích đường không. Một cuộc tập kích số lượng lớn đã phải hủy bỏ nửa chừng do ngay từ khi bắt đầu trận đánh, số lượng máy bay đã bị tiêu diệt quá lớn.

Hiệu suất tác chiến cao đối với máy bay cấp chiến thuật do điều kiện tác chiến tốt hơn, máy bay địch bay ở tầm thấp hơn tầm nhiễu thụ động, các đài gây nhiễu trên máy bay không nhiều, máy bay cơ động nhanh, phức tạp nên nhiễu chủ động không che chắn được mục tiêu. Trong 46 lần phóng tên lửa có tới 18 lần phóng tiêu diệt máy bay ở độ cao thấp (39%) dưới 1 km.

Chiến dịch “12 ngày đêm” trên bầu trời Hà Nội, nhìn từ góc độ kỹ chiến thuật có thể thấy: vị thế của tác chiến điện tử nói chung, chế áp điện tử và chống chế áp điện tử nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chiến tranh hiện đại.

Ngay từ thời điểm bắt đầu, các phi công B-52 Mỹ được thông báo cuộc không kích “như một cuộc dạo chơi trên bầu trời đêm Hà Nội” do sự quá tin của lực lượng Không quân Mỹ về năng lực TCĐT cũng như sự hiểu biết về hệ thống phòng không đối phương.

Chủ quan đã dẫn đến một kết cục thảm bại bất ngờ. Nhưng cũng có thể khẳng định rằng, nếu TCĐT của không quân Mỹ mà yếu hơn thì thảm họa không thể đoán trước được. Từ những bài học về chế áp điện tử cho thấy, TCĐT không đơn thuần là cuộc đối đầu giữa công nghệ và công nghệ, đây là sự đối đầu giữa công nghệ hiện đại và ý chí, sự thông minh sáng tạo của con người.

Bằng sự sáng tạo của mình, lực lượng Phòng không nói chung và phòng không tên lửa nói riêng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chiến tranh hiện đại là cuộc chiến tranh điện tử công nghệ cao, ai không làm chủ được trong lĩnh vực công nghệ này, người đó chắc chắn thất bại. Năng lực TCĐT và phương tiện, khí tài chiến đấu phải được nâng cấp, hiện đại hóa, phát triển toàn diện trong các quân binh chủng.

Số lượng và tính năng kỹ chiến thuật phải có đủ khả năng chống trả các cuộc tấn công điện tử ồ ạt quy mô lớn trong không gian điện từ. Điều đó đòi hỏi tăng cường rèn luyện lực lượng, nắm chắc và sử dụng thuần thục khí tài TCĐT hiện có trong tình huống điện từ trường phức tạp nhất, phải có được những hệ thống sản phẩm “nội địa” (tự thiết kế – sản xuất) nhằm đảm tính bảo mật cao nhất, đồng thời có thể phát huy thế mạnh ở cách đánh sở trường và kinh nghiệm chiến đấu để bảo vệ vững chắc Thành đồng Tổ Quốc.

Trịnh Thái Bằng (Nguồn: Tổng kết các hoạt động tác chiến Lực lượng Phòng Không – Không quân Việt Nam năm 1972. Nhà xuất bản Quân đội Xô Viết. Tác giả: Thiếu tướng pháo binh Hyupenena A.I (chủ nhiệm), Thiếu tướng không quân Bednenko D.K, Đại tá Varyukhina S.A, thạc sĩ khoa học kỹ thuật quân sự, Đại tá-Kỹ sư Manukhina V.G, thạc sĩ khoa học quân sự, Đại tá Fomin D . I, Đại tá Remini A.K).

Nguồn: Báo Đất Việt

Việt Nam thắng chiến tranh điện tử và tác chiến điện tử

Sự xuất hiện trong lực lượng vũ trang và hạm đội các trang thiết bị điện tử (trang thiết bị thông tin liên lác, các đài radar, các thiết bị dẫn đường, định vị, trang thiết bị điều khiển hỏa lực và các phương tiện tác chiến khác…), các hoạt động và khả năng của trinh sát, tình báo điện tử trong mọi lĩnh vực cũng như các hoạt động đánh lừa, gây nhiễu loạn hoặc chế áp ngày càng được tăng cường cả về chiều rộng và chiều sâu. Các hành động công kích hay phòng ngự trong lĩnh vực điện tử có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả tác chiến trên chiến trường.

Chiến thắng công nghệ bằng sức mạnh trí tuệ Việt Nam

Thời điểm ban đầu, hệ thống sensors, các máy bay trinh sát tác chiến điện tử và các máy bay tác chiến điện tử đã gây rất nhiều khó khăn và tổn thất nặng cho các đơn vị vận tải.

Lực lượng công binh của Binh đoàn Trường Sơn đã đáp trả bằng mọi biện pháp từ thô sơ đến hiện đại, các giải pháp thông thường là thay đổi các cung đường, các binh trạm vận tải, thành lập các tuyến đường ngắn và nhiều nhánh đường tránh cho xe cơ động khi gặp địch đánh phá, thành lập các tuyến đường kín chạy ban ngày tránh sự dò tìm của các máy bay trinh sát hồng ngoại ban đêm của địch.

Đường kín trong các tuyến đường Trường Sơn
Đường kín trong các tuyến đường Trường Sơn

Các biện pháp chống chiến tranh điện tử thường được sử dụng là dùng các băng casset thu âm tiếng động cơ xe máy để phát gọi máy bay địch đến đánh phá những tuyến đường nghi binh, sử dụng các xe cháy hỏng có thể nổ máy được để nghi binh hoặc dùng một số xe nghi binh chạy đi chạy lại nhiều lần trên các tuyến đường tự do đánh phá.

Giải pháp được cho là tối ưu nhất nhằm chống lại lực lượng không quân địch, đặc biệt là máy bay AC – 130 là lực lượng phòng không và truy quét thám báo địch. Năm 1968, lực lượng này chỉ gồm các vũ khí 37-mm và 57-mm có radar điều khiển. Năm sau đã xuất hiện pháo phòng không  85-mm và 100-mm, đến năm 1972, đường Trường Sơn đã được bảo vệ bởi hơn 1.500 khẩu súng phòng không.

Ngày 29/3/1972, máy bay AC-130 đã bị bắn rơi trong một phi vụ ban đêm bởi tên lửa đất đối không vác vai SAM-7 ở gần Tchepone. tháng 8 năm 1972, chiếc AC-130 thứ hai đã bị bắn rơi bằng tên lửa SA-2. Sau vụ này, AC-130 phải lui về hoạt động ở phía Nam đường 9. Nỗ lực của Mỹ dùng máy bay AC-130 và Không quân Hải quân để đánh phá và chặn xe đã bị vô hiệu hóa.

Tác chiến điện tử trên chiến trường Miền Nam Việt Nam

Trên chiến trường Miền Nam Việt Nam, quân đội Mỹ cũng triệt để sử dụng các trang thiết bị điện tử để chống lại các cuộc tấn công của các lực lượng Quân Giải phóng. Các thiết bị ảnh nhiệt quan sát ban đêm được lắp trên các máy bay tuần tiễu OV-1 ” Mohawk “, các máy bay này tiến hành tuần tiễu dọc các dòng sông vùng đồng bằng sông Cửu Long, sông Mê công thông thường là một cặp đôi với máy bay trực thăng chiến đấu AH-1G “Huey Cobra ” hoặc máy bay trực thăng UH -1A “Iroquois”được trang bị rockets và súng máy.

 Máy bay trực thăng hỏa lực AH-1G
Máy bay trực thăng hỏa lực AH-1G “Huey Cobra ” trên đồng bằng sông Cửu Long

Máy bay trinh sát phát hiện những chiếc ghe tam bản, những chiếc thuyền vận tải trên sông và gọi máy bay chiến đấu đến tấn công, những cặp đôi trinh sát – hỏa lực này đã gây rất nhiều khó khăn cho những hoạt động vượt sông hoặc vận tải ban đêm của những chiến sĩ du kích. Ngoài ra, các máy bay UH-1A còn được lắp đặt các ổ treo thiết bị quang hồng ngoại thụ động AN/ AAQ-5.

Trên các máy bay “Huey Cobra” bắt đầu thử nghiệm lắp đặt các bộ khí tài kính ngắm hồng ngoại và ảnh nhiệt, một vài chiếc “Huey Cobra” đã thực hiện nhiệm vụ bằng các thiết bị này.

Việc sử dụng các thiết bị quang học điện tử trên máy bay trực thăng không được sử dụng rộng rãi như máy bay cánh quạt và phản lực một phần do khả năng dễ bị tiêu diệt bởi súng bộ binh, nhưng việc lắp đặt thử nghiệm các hệ thống trang thiết bị AN/AAQ-5, CONFICS và ATAFCS đã trở thành cơ sở căn bản cho hệ thống thiết bị TADS/ PNVS trên máy bay АН-64А “Apache” sau này, các máy bay trực thăng ở miền Nam Việt Nam còn được lắp đặt các thiết bị thu âm và thiết bị phát hiện người trong các khu vườn hoang, cánh đồng hoặc vùng lau sậy ХМ-3 “People Sniyffer”.

 Máy bay UH-1 mang thiết bị nhìn đêm AN/ AAQ-5
Máy bay UH-1 mang thiết bị nhìn đêm AN/ AAQ-5

Quân đội Mỹ cũng chế tạo các thiết bị sensors dành cho bộ binh trong các khu vực đồn trú. Do tính chất khốc liệt và thường xuyên bị tấn công, phục kích cả ngày lẫn đêm, ngoài những hệ thống hàng rào vật cản, các khu căn cứ Mỹ còn được trang bị các thiết bị mini SID, micro SID DSID, (GSID hay Ground Seismic Intrusion Detector, PSID hay Patrol Seismic Intrusion Detector và HANDSID).

Một hệ thống PSID có 4 cảm biến địa chấn và nối liền với thiết bị truyền thông tin hữu tuyến, những thiết bị này hoạt động theo nguyên tắc cổ xưa (vướng và kích hoạt) tuyền tải thông tin về thiết bị điều khiển, tín hiệu có thể truyền xa đến 500 m. Nhờ những hệ thống này đi kèm với các thiết bị kính nhìn đêm, radar mặt đất mà quân đội Mỹ đã giảm nhiều các tổn thất ban đêm.

Một sĩ quan Mỹ đã nhận xét:“PSID đơn giản, có độ tin cậy cao và ít bị hỏng hóc, đồng thời lại có kích thước và khối lượng nhỏ gọn, tôi muốn có 20 bộ khí tài như vậy trong một trung đội thay vì 20 bộ trong một tiểu đoàn”.

 PSID cho các đơn vị tuần thám và phục kích những năm 1960- x
PSID cho các đơn vị tuần thám và phục kích những năm 1960- x

 

 Thiết bị phát hiện người ẩn nấp Е-63 “people sniffer”
Thiết bị phát hiện người ẩn nấp Е-63 “people sniffer”

 

   Thiết bị tăng độ phân giải ánh sáng mờ AN/TVS-2 gắn trên súng máy 12,7mm
Thiết bị tăng độ phân giải ánh sáng mờ AN/TVS-2 gắn trên súng máy 12,7mm

 

 Thiết bị tăng độ phân giải ánh sáng mờ  AN/PVS-2 gắn trên súng trường tự động.
Thiết bị tăng độ phân giải ánh sáng mờ AN/PVS-2 gắn trên súng trường tự động.

Đập tan huyền thoại công nghệ cao quân đội Mỹ

Để chống phá các hệ thống phòng ngự điện tử, các chiến sĩ giải phóng quân đã thực nghiệm và đúc kết các kinh nghiệm tác chiến nhằm vô hiệu hóa khí tài hiện đại.

Phương pháp đơn giản nhất là nghi binh, những đòn tấn công nghi binh thường xuyên liên tục đã làm cho lực lượng địch thiếu đi sự tin tưởng vảo trang thiết bị và tổn thất về vũ khí, đạn và cơ sở vật chất đi cùng, từ đó sử dụng lực lượng đặc công, biệt động luồn sâu, đánh địch ngay trong căn cứ.

Phương pháp thứ hai rất hiệu quả là phục kích đánh địch khi đối phương tiến hành các chiến dịch hành quân hoặc truy quét tìm và diệt. Khi đó, quân Mỹ không có khả năng sử dụng các phương tiện mặt đất, mà chỉ có thể sử dụng các phương tiện trinh sát đường không, dễ bị bắn hạ bởi vũ khí bộ binh.

   Săn máy bay trực thằng của Trung đoàn Bình Giã
Săn máy bay trực thằng của Trung đoàn Bình Giã

Phương pháp thứ ba: gây căng thẳng tột cùng cho địch là công kích hỏa lực tầm xa, bằng các loại vũ khí từ tự chế đến hiện đại như ĐKB (tên lửa BM -21 mang vác). Phương pháp thứ tư: đó là phong trào săn máy bay địch bằng vũ khí có trong tay, từ bom mìn tự chế đến đến hỏa khí bộ binh.

Pháo phản lực ĐKB (BM-21) bắn ứng dụng
Pháo phản lực ĐKB (BM-21) bắn ứng dụng

Chiến tranh điện tử phong tỏa trên Biển Đông

Cuộc chiến tranh điện tử còn được triển khai rộng rãi trên mặt biển và các vùng nước quan trọng như hải cảng, căn cứ quân sự ven sông.

Sơ đồ phong tỏa đường biển của Mỹ ở Việt Nam
Sơ đồ phong tỏa đường biển của Mỹ ở Việt Nam

Để ngăn chăn các chuyến hàng vận tải biển của Đoàn tàu Không số 128. Quân đội Mỹ đã triển khai một hệ thống trang thiết bị điện tử rộng rãi trên mặt nước Vịnh Bắc Bộ, dọc theo ven biển miền Nam Việt Nam, liên tục hoạt động là 20 đài radar quan sát mặt biển và theo dõi mọi tàu thuyền, các máy bay tuần biển như OP-2 Hecquyn, P-3 Orion tiến hành các hoạt động tuần tiễu ven biển 24/24 giờ trong ngày, gặp các tàu thuyền có dấu hiệu nghi ngờ,

các trạm radar và các máy bay trinh sát tuần biển sẽ lập tức xác định tọa độ, chụp ành và tiến hành theo dõi ngay từ vùng nước quốc tế, khi các tàu đi vào vùng phong tỏa, các giang đoàn của hải quân Sài Gòn và các chiến hạm của Hạm đội 7 lập tức bao vây, tiếp cận lục soát hoặc trong các trường hợp có biểu hiện lạ, sử dụng hỏa lực tấn công tiêu diệt.

Trong các hải cảng quân sự, quân đội Mỹ sử dụng triệt để các thiết bị theo dõi chống đặc công nước, đó là các đài sonar chủ động, hệ thống lưới chắn cạm bẫy cùng với các thiết bị báo động xâm nhập, các phao thủy âm.

Toàn bộ hệ thống được kết nối lại bằng hệ thống truyền tải thông tin hữu tuyến vào một trung tâm duy nhất nhằm chống xâm nhập sau sự kiện một tàu chở dầu 15000 bị lực lượng đặc công biệt động đánh chìm ở cảng Sài Gòn. Hải quân Mỹ cũng huấn luyện một đơn vị cá heo làm nhiệm vụ đeo sonar tuần thám dưới nước và phát hiện xâm nhập.

Một sĩ quan hải quân Mỹ đã nhận xét:”Cá heo rất thông minh, nó có khứa giác nhạy cảm và là một đài sonar tự nhiên tốt nhất, nó có thể bơi nhanh hoặc chậm tùy theo người điều khiển, với sonar gắn trên đầu, cá heo giúp cho lực lượng phòng vệ nhanh chóng phát hiện người nhái đột nhập….” đã có hàng trăm cá heo được huấn luyện cho mục đích này.

 Bản đồ hoàn động của lực lượng Hải quân và Không quân Hải quân Hạm đội 7 ở Việt Nam.
Bản đồ hoàn động của lực lượng Hải quân và Không quân Hải quân Hạm đội 7 ở Việt Nam.

Trong cuộc chiến tranh kéo dài từ năm 1964 – 1973 của quân đội Mỹ, TCĐT đã được áp dụng triệt để, trên mọi môi trường tác chiến, từ tác chiến trên không, trên đất liền và trên biển. Các phương tiện tác chiến được lắp đặt trong mọi phương tiện chiến đấu, từ máy bay cường kích phản lực, máy bay yểm trợ hỏa lực, trực thăng cho đến các phương tiện trên mặt đất.

Tuy chưa cấu thành một hệ thống tác chiến điện tử đồng bộ, nhưng những bài học kinh nghiệm trong ứng dụng các trang thiết bị TCĐT đã trở thành cơ sở căn bản để cấu thành hệ thống các phương tiện trinh sát điện tử hiện đại ngày nay.

Cuộc chiến đấu chống Mỹ giai đoạn 1964 – 1972 ở Miền Nam Việt Nam là cuộc đối đầu với một hệ thống công nghệ quân sự hiện đại và sức sáng tạo không ngừng của các chiến sĩ lực lượng vũ trang Miền Nam Việt Nam. Kết quả của chiến tranh đã rõ ràng, nhưng những bài học của nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn trong chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc.

Cũng cần phải khẳng định, dành được thắng lợi trong “Chiến tranh điện tử, đó là sự kết hợp giữa trí tuệ con người và khoa học công nghệ”. Trang thiết bị khí tài tác chiến càng hiện đại, càng đòi hỏi sức sáng táo và năng động trong ứng dụng công nghệ vào thực tế chiến trường.

Chiến tranh điện tử không chỉ có trong thời chiến, nó được thực hiện ngay trong thời bình và phát triển vô cùng mạnh mẽ. Để có thể đánh thắng kẻ thù trong Chiến tranh điện tử, cần có sự hiểu biết sâu sắc về TCĐT, phương tiện khí tài chiến đấu, sử dụng thành thạo trong thực tiễn, đồng thời phát triển công nghiệp điện tử quốc phòng, để có thể có được hệ thống khí tài tác chiến đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ Quốc.

Trịnh Thái Bằng (Trích nguồn: Báo cáo dự án Checo thuộc chương trình Igloo White (Project Checo Reports – 01.11.1971) Thiếu tướng Ernet C.Hardin – USAF. Đại tá Mike Deleon. USAF)

Nguồn: Báo Đất Việt

Chiến tranh điện tử phức tạp nhất trên chiến trường Việt Nam

Sự xuất hiện trong lực lượng vũ trang và hạm đội các trang thiết bị điện tử (trang thiết bị thông tin liên lác, các đài radar, các thiết bị dẫn đường, định vị, trang thiết bị điều khiển hỏa lực và các phương tiện tác chiến khác…), các hoạt động và khả năng của trinh sát, tình báo điện tử trong mọi lĩnh vực cũng như các hoạt động đánh lừa, gây nhiễu loạn hoặc chế áp ngày càng được tăng cường cả về chiều rộng và chiều sâu.

Các hành động công kích hay phòng ngự trong lĩnh vực điện tử có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả tác chiến trên chiến trường. Ngày này, trong lĩnh vực tác chiến không gian ảo ngày càng hoàn thiện hơn các phương pháp và trang thiết bị, khí tài nhằm tăng cường hay bảo vệ các hoạt đông tác chiến của các lực lượng trinh sát điện tử và chế áp điện tử đối phương.

Trong lĩnh vực radar – điện tử, thông tin và truyền thông hàng ngày (thời bình và thời chiến) đang diễn cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt, cuộc đấu tranh trong không gian điện tử được gọi là “chiến tranh điện tử” các hoạt động nhằm dành quyền thống trị trong không gian electron được gọi là “tác chiến điện tử”.

Các cường quốc quân sự thế giới phát triển mạnh các phương pháp và các phương tiện, khí tài trang bị trinh sát điện tử và chế áp điện tử nhằm mục đích tấn công chiếm đoạt thông tin và gây tổn thất nặng nề cho các phương tiện, vũ khí, khí tài của đối phương, bao gồm các phương tiện điện tử. Các lực lượng đối kháng cũng sử dụng các phương tiện, vũ khí và trang thiết bị khác nhau nhằm chống lại các hoạt động công kích điện tử của đối phương.

Cuộc đấu tranh này được mang thuật ngữ “Chiến tranh điện tử”. Như vậy, chiến tranh điện tử là “ tập hợp các hoạt động tác chiến nhằm giảm thiểu tối đa hiệu quả sử dụng không gian điện từ để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của đối phương đồng thời đảm bảo hoạt động hiệu quả các trang thiết bị, khí tài điện tử của phía bên mình” trích điều lệ tác chiến của quân đội Mỹ.

Theo quan điểm của Bộ tổng tham mưu  liên quân Mỹ, các hoạt động tác chiến được thực hiện trong “chiến tranh điện tử” là:

– Trinh sát điện tử, nắm bắt thông tin, phát hiện mục tiêu và chỉ thị dẫn đường các lực lượng hoặc hỏa lực tiêu diệt mục tiêu.

–  Làm đứt đoạn và làm rối loạn các hoạt động điều hành lực lượng chiến đấu và vũ khí trang bị đối phương;

– Giảm hiệu quả trinh sát của địch và hiệu quả sử dụng vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh;

– Duy trì và đảm bảo khả năng hoạt động ổn định của các trang thiết bị, khí tài điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực.

Như vậy: “Tác chiến điện tử” được hiểu là tập hợp tất cả những hành động theo mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ, vị trí và thời gian cùng với các lực lượng tham gia chiến đấu phát hiện được hệ thống và các phương tiện, khí tài điều hành các đơn vị chiến đấu và các phương tiện tác chiến của đối phương, thực hiện các đòn tiến công tiêu diệt các tranh thiết bị, khí tài điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực, chiếm đoạt thông tin và chế áp thông tin đối phương, gây nhiễu loạn và mất khả năng hoạt động của hệ thống điều hành binh lực và điều khiển hỏa lực.

Cùng lúc bảo vệ các trang thiết bị, khí tài của hệ thống điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực quân ta, ngăn chặn mọi khả năng trinh sát điện tử, dẫn đường hỏa lực và chỉ thị mục tiêu của đối phương.

Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Tác chiến điện tử (TCĐT):

1- Tình báo, trinh sát, cảnh báo sớm phát hiện mục tiêu đối phương, thu thập thông tin, chỉ thị dẫn đường lực lượng hoặc vũ khí, phương tiện chiến đấu tiêu diệt mục tiêu.

2- Chế áp điện tử – đánh lừa, gây nhiễu , phá hủy hoặc làm nhiễu loạn, đứt đoạn hệ thống điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực đối phương.

Các cuộc chiến tranh hiện đại từ sau Đại chiến thế giới lần thứ II, cùng với những diễn biến căng thẳng của chiến tranh Lạnh mà trong cuộc đối đầu giữa hai hệ tư tưởng, cả hai phía đã tiến hành một cuộc chiến tranh điện tử – thông tin với cường độ rất cao, huy động hầu hết những thành tựu khoa học công nghệ đương thời vào cuộc chiến hiện đại nay.

Những tổn thất cho cả hai bên hầu như không được tuyên bố, nhưng kết quả cuối cùng hầu như toàn thế giới đều đã rõ ràng. Cũng trong thời gian này, đã có nhiều cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh khu vực xảy ra trên toàn thế giới, mà trong đó, chiến tranh điện tử đóng vai trò trọng yếu trong mọi hoạt động của chiến trường.

Cuộc chiến tranh điện tử phức tạp nhất, đa dạng nhất và cũng là cuộc đối đầu không cân sức nhất giữa lực lượng tham chiến hiện đại nhất thế giới và lực lượng vũ trang nhân dân non trẻ nhất. Chiến tranh Việt Nam.

Tác chiến điện tử của Mỹ trên đường Trường Sơn và chiến trường miền Nam

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc đối đầu tàn khốc giữa ý chí của một dân tộc chống ngoại xâm – thống nhất đất nước và một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất trên thế giới.

Để phá hoại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, tiêu diệt lực lượng vũ trang nhân dân non trẻ, đồng thời ngăn chặn con đường vận chuyển vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu, binh lực và cơ sở vật chất từ miền Bắc vào Miền Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng những phương tiện trinh sát điện tử hiện đại chưa từng có với những quy mô sử dụng cũng chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, trang thiết bị khí tài điện tử được triển khai trên mọi phương tiện tác chiến, bao gồm từ không quân, không quân hải quân, bộ binh đến những người lính cuối cùng, trên tất cả các không gian tác chiến, từ trên không, trên mặt đất và trên mặt nước.

Trinh sát điện tử trong chiến tranh ở Việt Nam đã phát triển lên đến đỉnh cao nhất của khoa học công nghệ cả về tốc độ nghiên cứu cũng như tốc độ ứng dụng.

Những hoạt động trinh sát điện tử diễn ra rộng rãi cả trên hai miền Nam Bắc Việt Nam, một trong những chiến trường dữ dội nhất và cũng tàn bạo nhất là trên tuyến đường Trường Sơn “đường mòn Hồ Chí Minh” anh hùng.

Tác chiến điện tử trên đường mòn “Hồ Chí Minh” chiến dịch Igloo Whate

Giai đoạn những năm 1960-x đến 1970-x, những cuộc tấn công liên tiếp của Quân giải phóng đã đập tan huyền thoại sức mạnh quân sự Mỹ, lực lượng vũ trang miền Nam càng ngày càng lớn mạnh. Để ngăn chặn những đoàn quân và những chuyến hàng vận tải vào Nam dọc tuyến Trường Sơn, người Mỹ đã triển khai một chiến dịch tác chiến điện tử rộng khắp trên toàn bộ tuyến đường Trường Sơn.

Bước đầu tiên, để phát hiện được những đoàn xe và các đơn vị hành quân vào Nam, không quân hải quân Mỹ sử dụng các sensors thu âm, được dùng trong các phao thủy âm chống ngầm. Những chiếc sensor thu âm “Akvabuy” có chiều dài 91 cm đường kính 12 cm và nặng  12 kg. Các cảm biến âm thanh này được ném xuống từ máy bay bằng dù ngụy trang xuống các cánh rừng nhiệt đới.

Dù sẽ treo lơ lửng các khí tài thu âm này trên cây, thu âm thanh tiếng động và truyền về trung tâm xử lý thông tin của Hải quân Mỹ, bình điện ắc quy cho phép nuôi khí tài trong 30 – 45 ngày. Nhưng do dù bay thường không định hướng nên các thiết bị này rơi tản mát, hiệu quả trinh sát rất thấp.

Chương trình trinh sát điện tử được phát triển tiếp theo với phương án sử dụng rộng rãi các sensor được đặt mật danh là  Igloo White nhưng nổi tiếng với tên gọi thông thường là Hàng rào điện tử McNamara, sensor được nâng cấp và cải tiến là thiết bị tổ hợp đo địa chấn, từ trường và tiếng động “ADSID” (Air Delivered Seismic Intrusion Detector) – Cây nhiệt đới, có khối lượng 11 kg được ném xuống bằng dù định hướng.

Các Cây nhiệt đới (ADSID) này cắm sâu xuống đất, xòe các ăn ten thu tín hiệu được sơn mầu ngụy trang. Thế hệ thứ 3 của “ADSID” là các cây nhiệt đới thu cả âm thanh, địa chấn và từ trường có khối lượng đến 17 kg. Micro được tự động bật lên khi có từ trường hoặc địa chấn tương đương xe ô tô chạy, từ đó đã tăng được thời gian bình điện ắc quy lên đến 90 ngày liên tục truyền tín hiệu.

Chương trình ” Igloo White “hoặc “Hàng rào điện tử McNamara”  ban đầu được nghiên cứu triển khai dọc khu phi quân sự đến tận biên giới Việt Nam – Lào một hệ thống hàng rào điện tử dày đặc bao gồm tất cả các loại radars, cảm biết điện từ, âm thanh và nhiệt độ kết hợp với hàng rào dây thép gai, các trận địa mìn và các cụm hỏa điểm dày đặc. Hàng rào điện tử dưới sự chi viện mạnh mẽ của các căn cứ và lực lượng quân đội Mỹ và Sài Gòn được cơ giới hóa và trực thặng vận cấp độ cao.

Dự án hàng tỷ dollar này được hy vọng có thể chặn đứng sự chi viện của miền Bắc XHCN cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Miền Nam Việt Nam.

 Hệ thống các sensors trinh sát, bãi mìn và hàng rào dây thép gại trong “Hàng rào điện tử McNamara”.
Hệ thống các sensors trinh sát, bãi mìn và hàng rào dây thép gại trong “Hàng rào điện tử McNamara”.

Chương trình này bắt đầu từ năm 1966 khi tình hình cách mạng Miền Nam phát triển mạnh, với chi phí lên tới 2 tỷ dollars đã nhanh chóng bị hủy bỏ do sự vô dụng trong việc ngăn chặn các lực lượng chi viện Miền Bắc vào miền Nam. Người Mỹ đã phát hiện ra những tuyến đường vận chuyển của binh đoàn 559 thông qua Lào và Căm Phu chia.

Điều này gây sốc nặng nề cho Bộ tham mưu liên quân Mỹ khi họ nhận được những bức ảnh chụp và nghe được âm thanh cơ giới từ những đoạn đường dưới tán cây rừng.  Buộc người Mỹ phải có kế hoạch khẩn cấp đối phó.

   Sơ đồ hệ thống chống vận tải cơ giới và hành quân chi viện Miền Nam
Sơ đồ hệ thống chống vận tải cơ giới và hành quân chi viện Miền Nam

Sự phát triển và mở rộng con đường Trường Sơn với mật độ xe cơ giới và binh lực lớn đe dọa một sự thảm bại đến gần. Quân đội Mỹ phải tiến hành tiếp theo chiến dịch tác chiến điện tử quy mô dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, chiến dịch đánh phá tuyến đường giao thông anh hùng có tên là Operation Commando Hunt do lực lượng Hải quân hạm đội 7 của Mỹ kết hợp với tập đoàn không quân Hải quân số 77 tiến hành từ 11/11/1968 đến 29/03/1972 và một gian đoạn tiếp theo cho đến khi Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt Nam, trong chiến dịch này đã sử dụng rộng rãi các thiết bị trinh sát điện tử như ADSID với nhiều chủng loại khác nhau như:

 Air Delivered Seismic Intrusion Detector (ADSID) Thiết bị thám sát địa chấn thả từ trên không
Air Delivered Seismic Intrusion Detector (ADSID) Thiết bị thám sát địa chấn thả từ trên không
 ACOUBOUY; Acoustic Seismic Intrusion Detector (ACOUSID)Thiết bị thám sát âm thanh
ACOUBOUY; Acoustic Seismic Intrusion Detector (ACOUSID)Thiết bị thám sát âm thanh
Fighter Air-Delivered Seismic Intrusion Detector (FADSID)Thiết bị thám sát âm thanh thả bằng máy bay phản lực
Fighter Air-Delivered Seismic Intrusion Detector (FADSID)Thiết bị thám sát âm thanh thả bằng máy bay phản lực
 Helicopter-emplaced Seismic Intrusion Detector (HELOSID). Thiết bị dò tìm âm thanh của trực thăng
Helicopter-emplaced Seismic Intrusion Detector (HELOSID). Thiết bị dò tìm âm thanh của trực thăng
 Hand-emplaced Seismic Intrusion Detector (HANDSID) Thiết bị dò tìm âm thanh, địa chấn của thám báo
Hand-emplaced Seismic Intrusion Detector (HANDSID) Thiết bị dò tìm âm thanh, địa chấn của thám báo
 Hai loại Cây nhiệt đới ADSID II and ACOUSID III
Hai loại Cây nhiệt đới ADSID II and ACOUSID III
 Vùng tác chiến điện tử và không kích đường Trường Sơn bằng không quân.
Vùng tác chiến điện tử và không kích đường Trường Sơn bằng không quân.

Thời gian đầu tiên, những cảm biến kiểu Cây Nhiệt đới này được thả xuống các khu vực đường vận tải bằng máy bay hải quân OP -2 Neptune, do cấu trúc nặng nề và tốc độ bay chậm, hay bị lực lượng phòng không mặt đất của bộ đội Trường Sơn bắn rơi, các cảm biến này được rải bằng nhiều loại phương tiện khác nhau như máy bay phản lực, máy bay trực thăng, một số các loại cảm biến khác còn do lực lượng thám báo Mỹ  (SOG).

Số lượng các cảm biến điện từ trường và âm thanh tính chỉ riêng năm 1969 là 5000 chiếc, đến năm 1972, số lượng lên đến 40000 chiếc được rải xuống.

 Sơ đồ tác chiến điện tử khu vực Khe Sanh – A shau, A Lưới. Các điểm chấm là tuyến rải các sensors
Sơ đồ tác chiến điện tử khu vực Khe Sanh – A shau, A Lưới. Các điểm chấm là tuyến rải các sensors
   Máy bay tác chiến điện tử EC -121R
Máy bay tác chiến điện tử EC -121R
 Hệ thống radar thu tín hiệu chuyển tải về trung tâm tác chiến điện tử ICS ở Thái Lan
Hệ thống radar thu tín hiệu chuyển tải về trung tâm tác chiến điện tử ICS ở Thái Lan
 Trung tâm tác chiến điện tử chống thâm nhập ICS ở Thái Lan
Trung tâm tác chiến điện tử chống thâm nhập ICS ở Thái Lan

Các sensors được rải xuống các tuyến đường vận tải Trường Sơn cũng chỉ là một phần công việc. Sau khi các sensors được rải và kích hoạt, thông tin từ các sensors được truyền tải qua các máy bay tác chiến điện tử của hãng Lockheed EC-121R và hãng Beach “Deboneyrs” cho máy bay EU-121 “Paiva Eagle” về các trung tâm chỉ huy, trong đó có trung tâm tác chiến điện tử Mỹ đặt tại Trung tâm Giám sát Thâm nhập (Infiltration Surveillance Center – ICS) ở Thái Lan, sử dụng máy tính IBM 360 – 65.

Từ những thông tin thu thập được, người Mỹ xác định những tuyến đường vận tải, kho tàng và khu vực tập trung xe máy kỹ thuật, từ đó ra quyết định công kích đường không.

Do độ sai lệch trong xác định vị trí các cảm biến rất lớn (khoảng vài trăm mét), không quân Mỹ thường tiến hành các đợt không kích ồ ạt với số lượng bom đạn không hạn chế, trong mỗi mùa khô vận tải, mỗi ngày địch sử dụng từ gần 200 đên 400 lần không khích bằng máy bay phản lực, 10 – 12 các chuyến bay tuần thám và tấn công các đoàn xe vận tải AC-130, khoảng từ 20 đến 30 lần không kích bằng máy bay ném bom chiến lược B-52. Tác chiến thường xuyên trên đường mòn Hồ Chí Minh là hơn 500 máy bay chiến đấu các loại.

 AC 130 Gunship trên chiến trường Việt Nam
AC 130 Gunship trên chiến trường Việt Nam

Để tăng cường khả năng ngăn chặn các đoàn vận tải trên các tuyến đường Trường Sơn, quân đội Mỹ sử dụng các máy bay vận tải như  АС-119, АС-47,  АС-130  trang bị một hệ thống tác chiến điện tử rất hiện đại, hoạt động hiệu quả trong môi trường thiếu ánh sáng và nhiễu loạn bởi các vụ nổ.

Đó là các hệ thống TV quang học điện tử nhạy sáng hoạt động trong điều kiện ánh sáng mờ, hệ thống radar và video quan sát hồng ngoại FLIR vùng bán cầu phía trước của máy bay, hệ thống “Black Crow” (quạ đen) phát hiện sự đột biến của từ trường (khi động cơ khởi động và nổ máy, có hiện tượng đánh lửa ở bugi), trong 3 hệ thống này, thông thường hệ thống radar hồng ngoại làm việc hiệu quả nhất, nhưng để xác định chính xác tọa độ cũng như số lượng đoàn xe cơ động, hoặc đoàn quân đang hành quân đêm, cần phải có sự phối hợp của các 3 hệ thống.

Trên các máy bay đều được trang bị các loại vũ khí hạng nặng, từ súng máy Vulcan 20 mm đến pháo 40 mm, 105 mm và rockets.

 Những cung đường vận tải và xe ô tô vận tải do máy bay trinh sát Mỹ chụp ảnh
Những cung đường vận tải và xe ô tô vận tải do máy bay trinh sát Mỹ chụp ảnh
Các tuyến tác chiến điện tử của chiến dịch Command Hunt.
Các tuyến tác chiến điện tử của chiến dịch Command Hunt.

 

Trịnh Thái Bằng (Trích nguồn: Báo cáo dự án Checo thuộc chương trình Igloo White (Project Checo Reports – 01.11.1971) Thiếu tướng Ernet C.Hardin – USAF. Đại tá Mike Deleon. USAF.)

Nguồn: Báo Đất Việt

Bí mật dự án Popeye trong Chiến tranh Việt Nam

Dự án Popeye được tiến hành lúc bắt đầu mùa mưa, nhằm che giấu dư luận, làm như đó là một hiện tượng tự nhiên đặc trưng của thời tiết khu vực Đông Dương.

Trong Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh bom đạn là những vũ khí sát thương trực tiếp, Mỹ còn sử dụng một vũ khí khác không kém phần nguy hiểm là “vũ khí thời tiết”.

Minh họa cơ chế hoạt động của việc gây mưa bằng hóa chất của Dự án Popeye trong chiến tranh Việt Nam.
Minh họa cơ chế hoạt động của việc gây mưa bằng hóa chất của Dự án Popeye trong chiến tranh Việt Nam.

Vũ khí thời tiết là phương thức tác động vào sự biến đổi của thời tiết để tạo ra những kiểu thời tiết gây bất lợi cho các hoạt động của đối phương thậm chí là phá hủy cơ sở hạ tầng, tiêu diệt hệ sinh thái trong khu vực mà nó được sử dụng.

Mượn bàn tay của thiên nhiên để tiêu diệt đối phương nên thời tiết được liệt kê vào một dạng vũ khí khi nó được sử dụng cho mục đích chiến tranh. Kỹ thuật tác động vào môi trường để phục vụ cho các mục đích quân sự được phát minh bởi một nhà toán học người Mỹ John von Neumann vào cuối những năm 1940.

Lúc đó ông Neumann nhận thấy rằng việc sử dụng kỹ thuật “gieo hạt vào đám mây” bằng tinh thể iốt bạc trộn lẫn với carbon dioxide có thể làm tăng sự ngưng tụ của hơi nước của các đám mây và gây mưa. Đỉnh điểm của công nghệ này được phát triển mạnh trong những năm chiến tranh lạnh và Việt Nam chính là nạn nhân đầu tiên của thứ vũ khí đáng sợ này.

Vào cuối năm 1965 khi những nỗ lực nhằm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược trên đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ không đem lại kết quả mong muốn họ đã áp dụng một chiến lược vô cùng thâm hiểm là sử dụng thời tiết như một thứ vũ khí nhằm làm tê liệt tuyến đường chiến lược này.

Họ đã ứng dụng kỹ thuật của Neumann với mục đích kéo dài và làm trầm trọng thêm mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh đặc biệt là ở khu vực đi qua Lào. Chương trình được đặt mật danh là Dự án Popeye.

Máy bay WC-130 được sử dụng cho nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào các đám mây nhằm biến chúng thành một thứ vũ khí.
Máy bay WC-130 được sử dụng cho nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào các đám mây nhằm biến chúng thành một thứ vũ khí.

Dự án Popeye được đề xuất bởi tham mưu trưởng liên quân Mỹ vào ngày 10/08/1966 và được Bộ tư lệnh hỗ trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam COMUSMACV và Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương CINCPAC đồng tình ủng hộ.

Lúc đó các nguồn tin tình báo của CIA cho biết miền Bắc đang gia tăng các hoạt động vận chuyển hàng hóa qua khu vực sông Sê Kong ở Nam Lào nhưng hoạt động tại đây đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chất lượng đường sá rất kém. Thông tin này càng làm cho những “cái đầu ảo tưởng” của quân đội Mỹ tin rằng việc thay đổi thời tiết tại khu vực này sẽ làm phá sản hoàn toàn kế hoạch của Bắc Việt.

Để phục vụ cho Dự án này Mỹ đã sửa đổi một số chiếc WC-130 làm nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào trong các đám mây. Vào đầu tháng 09/1966 thời điểm chuẩn bị bắt đầu mùa mưa ở miền Trung Việt Nam, Không quân Mỹ đã tiến hành khoảng 50 phi vụ thí điểm rải hóa chất gây mưa dọc theo các khu vực sông Sê Kong.

Dự án được tiến hành ngay trong thời điểm bắt đầu mùa mưa nhằm che giấu các nước trong khu vực, làm như đó là một hiện tượng tự nhiên đặc trưng của thời tiết khu vực Đông Dương và hoàn toàn không có sự can thiệp của Mỹ.

Mỹ đã thực hiện tới 2.600 phi vụ rải hóa chất gây mưa nhằm cản trở hoạt động thậm chí là làm tê liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

Mỹ đã thực hiện tới 2.600 phi vụ rải hóa chất gây mưa với ảo tưởng có thể cản trở hoạt động thậm chí là làm tê liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

Các thử nghiệm ban đầu cho thấy có đến 85% những đám mây được rải hóa chất đã gây mưa, lượng mưa trung bình tăng thêm 30%, mùa mưa có thể kéo dài thêm từ 30-45 ngày so với trước. Sự thành công ban đầu này đã khiến COMUSMACV lên kế hoạch thực hiện nó trên toàn Việt Nam.

Dự án Popeye đã mở rộng từ khu vực sông Sê Kong ra phía Tây Bắc Việt Nam, khu vực thung lũng A Sầu và sang cả khu vực đông bắc Campuchia. Dự án Popeye kéo dài cho đến tận tháng 07/1972. Thông tin về Dự án Popeye bắt đầu bị rò rỉ vào đầu năm 1972 khi Jack Anderson (người được mạnh danh là cha đẻ của báo chí điều tra hiện đại) công bố việc Mỹ sử dụng các phương thức thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí trong chiến tranh Việt Nam trên tờ Bưu điện Washington.

Tuy nhiên, tại thời điểm đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là Melvin Laird đã báo cáo trước Quốc hội Mỹ rằng thông tin mà Jack Anderson nêu ra “là một câu chuyện hoang đường và hoàn toàn sai sự thật”. Tuy vậy, trong một tài liệu mật bị rò rỉ vào năm 1974, Bộ trưởng Melvin Laird thừa nhận lúc đó ông ta buộc phải nói dối để che đậy một dự án quốc phòng bí mật nếu tiết lộ có thể dẫn đến sự phản đối của cộng đồng quốc tế.

Các con số được công bố sau này cho thấy, trong suốt quá trình thực hiện Dự án Popeye, Không quân Mỹ đã thực hiện hơn 2.600 chuyến bay rải vào các đám mây 47.000 đơn vị iốt bạc hoặc I ốt chì với tổng chi phí 21,6 triệu USD.

Bất chấp những nỗ lực kéo dài mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ, hàng hóa từ phía Bắc vẫn ào ào tiến về phía Nam góp phần quan trọng trong công cuộc  giải phóng đất nước. Ảnh tư liệu.
Bất chấp những nỗ lực kéo dài mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ, hàng hóa từ phía Bắc vẫn ào ào tiến về phía Nam góp phần quan trọng trong công cuộc giải phóng đất nước. Ảnh tư liệu.

Mặc dù không có thống kê chính xác nào về hiệu quả mà Dự án Popeye mang lại cho lực lượng Mỹ tại Việt Nam cũng như những thiệt hại mà nó gây ra cho quân đội Việt Nam, nhưng Dự án Popeye bị coi là một hành động vô nhân đạo. Việc kéo dài mùa mưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất, đe dọa mùa màng cũng như gây lũ lụt có thể nguy hiểm đến tính mạng dân thường.

Nếu mở rộng việc thực hiện việc thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí thậm chí có thể gây hậu quả nghiêm trọng hơn đe dọa sự ổn định sinh thái trong khu vực. Sự kiện Mỹ sử dụng vũ khí thời tiết trong chiến tranh Việt Nam đã vấp phải sự phản đối gay gắt của công đồng quốc tế.

Trước tình hình đó Thượng nghị sĩ Mỹ Claiborne Pell và dân biểu Donald Fraser đã phát động một chiến dịch vận động chính trị về việc cấm sử dụng việc thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí nhằm chống lại một quốc gia nào đó.

Đến tháng 05/1977, đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước ENMOD quy định việc cấm sử dụng các biện pháp thay đổi thời tiết nhằm mục đích gây thiệt hại hoặc phá hủy hệ sinh thái chống lại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Hiện tại có 76 nước tham gia đầy đủ vào Công ước ENMOD trong đó có Việt Nam, 48 nước khác chỉ ký mà chưa tham gia đầy đủ.

Minh Đức – theo Trí Thức Trẻ

Mỹ dùng ‘vũ khí thời tiết’ trong Chiến tranh Việt Nam

Quân đội Mỹ từng sử dụng những kỹ thuật thay đổi thời tiết trong Chiến tranh Việt Nam, chẳng hạn như rải tinh thể bạc iodide để tăng thời gian của mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh khiến hoạt động vận chuyển hàng hóa từ miền bắc vào miền nam trở nên khó khăn hơn.

Khả năng tạo ra những trận siêu bão của con người giờ không chỉ là những điều tồn tại trong phim khoa học viễn tưởng.

Natural News vừa tiết lộ một bí mật về việc Mỹ đang âm thầm phát triển một chương trình vũ khí mang tên HAARP (High Frequency Active Auroral Research Program, tạm dịch là “Chương trình nghiên cứu hoạt động cực quang cao tần”). Về lý thuyết, đây là chương trình tạo ra một liên kết radio trên một khoảng cách rất xa nhờ vào tầng điện ly của bầu khí quyển để kết nối các hoạt động của Hải quân Mỹ trên toàn thế giới.

Trạm an-ten phát tần số cao tần của chương trình HAARP của Mỹ nhằm tác động vào sự thay đổi của tầng điện ly từ đó kiểm soát việc thay đổi thời tiết.

Diễn biến thời tiết ở trên mặt đất phụ thuộc rất lớn vào những thay đổi ở tầng điện ly. Nếu con người hiểu sự biến đổi của tầng điện ly thì chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát việc thay đổi thời tiết ở trên mặt đất. Chương trình HAARP sử dụng các máy phát tần số cao truyền tín hiệu vào tầng điện ly để nghiên cứu những thay đổi do nó tạo ra.

Một báo cáo của Duma quốc gia Nga cho biết: “Mỹ đang có kế hoạch thực hiện các thí nghiệm với quy mô lớn hơn với chương trình HAARP nhằm tạo ra một thứ vũ khí thời tiết có khả năng phá vỡ các hoạt động liên lạc bằng sóng vô tuyến đối với các thiết bị trên tàu vũ  trụ, vệ tinh, tên lửa, gây ảnh hưởng đến mạng lưới điện trên mặt đất cũng như các đường ống dẫn dầu và khí đốt”.

Các nhà khoa học còn cho rằng, chương trình HAARP có khả năng tạo ra những kiểu thời tiết bất thường như các trận siêu bão, hạn hán, lũ lụt, tuyết rơi làm phá hủy hệ thống sinh thái và nông nghiệp của đối phương, gây bất ổn và làm kiệt quệ nền kinh tế của đối phương, khiến họ phải phụ thuộc vào viện trợ hay nhập khẩu lương thực từ Mỹ và các nước phương Tây khác.

TheWeatherSpace  cho rằng, Không quân Mỹ đã từng tạo ra một trận lốc xoáy ở bang Oklahoma trong khuôn khổ chương trình HAARP của họ. Ảnh minh họa.

Tới nay Mỹ đã triển khai chương trình HAARP trên thực tế. Theo Global Research, Mỹ đã bí mật lắp đặt 132 máy phát tần số cao tần ở bang Alaska để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tầng điện ly. The Weather Space từng tiết lộ, Không quân Mỹ đã tiến hành thử nghiệm kỹ thuật tạo lốc xoáy ở bang Oklahoma. Tuy nhiên, Không quân Mỹ đã phủ nhận tin này.

Mặc dù chương trình HAARP vẫn còn là một ẩn số nhưng quân đội Mỹ từng sử dụng những dạng vũ khí thời tiết trong chiến tranh tại Việt Nam.

Từ ngày 20/3/1967-5/7/1972, Không quân Mỹ đã tiến hành chiến dịch Popeye nhằm làm trầm trọng hơn mùa mưa tại Lào, đặc biệt là các khu vực đường mòn Hồ Chí Minh, gây khó khăn cho các hoạt động tiếp tế hàng hóa.

Trong chương trình này, Không quân Mỹ đã sử dụng các máy bay rải tinh thể bạc iodide nhằm tăng cường sự tích tụ của các đám mây nhằm gây mưa trên mặt đất. Chiến dịch Popeye đã khiến mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh kéo dài thêm từ 30 đến 45 ngày. Lượng mưa tăng thêm khoảng 30% so với thông thường.

Việc mùa mưa kéo dài khiến các tuyến đường trở nên lầy lội, các khe suối luôn đầy lũ dữ khiến hoạt động vận chuyển hàng hóa từ miền bắc vào miền nam trở nên khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn và tốn kém hơn. Chiến dịch Popeye làm thay đổi thời tiết trên đường mòn Hồ Chí Minh đã đạt được những thành công nhất định.

Trong chiến dịch bao vây Khe Sanh năm 1968 , Không quân Mỹ cũng sử dụng một dạng vũ khí thời tiết khác là sử dụng muối để làm tan sương mù trên mặt đất từ đó tạo thuận lợi hơn cho các hoạt động chi viện hỏa lực đường không của họ.

Việc nghiên cứu và can thiệp, góp phần thay đổi thời tiết sẽ có tác dụng nhất định trong việc chống lại biến đổi khí hậu do sự ấm lên toàn cầu. Tuy nhiên, nó cũng kéo theo nguy cơ vô cùng lớn khi trở thành một thứ vũ khí.

Một khi đã kiểm soát được việc thay đổi thời tiết, con người có thể sử dụng nó cho những mục đích bất chính. Khi đó, vũ khí thời tiết sẽ là thảm họa đối với nhân loại nếu không được ràng buộc bởi luật pháp quốc tế.

Quốc Việt

Theo TTT

Nếu thay tướng trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ có thể thắng được không?

Trân trọng giới thiệu với quý độc giả bài viết của blogger Thiếu Long Texas.

Cách đây mấy ngày mình đã viết entry Những chữ ‘nếu’ trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Entry này xin được bàn luận và nói thêm về vụ Robert E. Lee, Douglas MacArthur, là hai tướng tài giỏi trong lịch sử nước Mỹ, và nói thêm một cái “nếu” nữa ít nghe nói hơn: Nếu Mỹ thay Westmoreland, Abrams bằng các tướng khác thì có làm thay đổi kết quả Chiến tranh Việt Nam hay không?

Hồi đó lúc mình còn học ở Texas trong Câu lạc bộ cờ vua của trường có mấy thằng Mỹ cũng học môn American History (Lịch sử Hoa Kỳ), khi tán dóc thì họ cũng hay bàn về các đề tài chiến tranh, nhất là Thế chiến II và Chiến tranh Việt Nam.

Có mấy thằng bạn cho rằng Mỹ thua là vì các tướng dỏm. Westmoreland là đại tướng 4 sao tệ nhất, overate nhất (tức là không tài giỏi như thương hiệu, chức tước, uy tín ảo), còn Creighton Abrams chỉ là tầm thường không có gì đặc sắc. Nếu Robert E. Lee (danh tướng của phe Liên minh Miền Nam Hoa Kỳ trong Nội chiến Hoa Kỳ [American Civil War], hay còn gọi là Chiến tranh Giữa các Tiểu bang [War Between the States]) và Douglas MacArthur (danh tướng của Mỹ trong Thế chiến 2 và Chiến tranh Triều Tiên) mà cầm quân, làm tổng chỉ huy thay vì Westmoreland và Abrams thì Hoa Kỳ đã chiến thắng, quét sạch được Việt Cộng, đánh dẹp chiếm được các vùng tạm chiếm và miền Nam VN sẽ trở thành một Alaska, Hawaii mới của Mỹ.

Lúc đó mình chưa đủ trình tiếng Anh để tranh luận với tụi Mỹ về chuyện này. Vả lại thật ra vấn đề tướng Mỹ này mình cũng chưa bao giờ suy nghĩ tới, không có chuẩn bị lý lẽ hay kiến thức gì để thảo luận với bọn họ về chuyện này. Nên mình chỉ nói chung chung là lịch sử thì không thể nói “if”, “if” tào lao chi sự. Mình nói chừng nào có cỗ máy thời gian (time machine) hay thuốc trường sinh bất lão cho tướng Lee và tướng MacArthur thì hãy nói đến chuyện “nếu” thế này, “nếu” thế kia. Lee đã qua đời từ lâu, còn MacArthur đã từ lâu không còn được trọng dụng, không cầm quân chỉ huy nổi, về hưu, rồi già yếu bệnh tật và qua đời.

Nhưng về sau đọc này đọc kia đâu đó, tìm hiểu thêm đó đây, thì càng thấy lập luận của họ đã sai lại càng sai. Westmoreland và Abrams xuất thân từ gia đình quân ngũ thâm niên và là những tướng lĩnh rất có khả năng, rất chuyên nghiệp. Họ lập nhiều công lao trong Thế chiến 2. Nhờ các quân công, chiến tích và năng lực đó mà họ có chức vị cao nhất trong quân đội Hoa Kỳ. Trong quân đội Hoa Kỳ không phải dễ dàng mà lên làm được tướng 4 sao.

Trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã quyết thắng cho bằng được với những cố gắng chiến tranh cao nhất, với những chiến lược, chiến thuật, công cụ, phương tiện chiến tranh tối tân hiện đại và tàn ác nhất. Do đó thật là vô lý nếu cho rằng Mỹ chọn những nhân tuyển không xứng đáng để làm tư lệnh tổng chỉ huy, điều hành chiến tranh Việt Nam.

Dù có chơi trò chơi “nếu” với tụi Mỹ đó thì VN vẫn có thể chấp cả Robert E. Lee Douglas MacArthur. Nếu hai danh tướng đó có cùng nhau chỉ huy, điều hành cuộc chiến thì kết quả cuộc chiến cũng sẽ không có gì thay đổi, cùng lắm sẽ đánh lâu hơn một chút, thế thì lính Mỹ cũng sẽ chết nhiều hơn một chút.

Bởi vì sao, các sở trường của Lee và MacArthur đều không có chỗ dùng, không có chỗ phát huy ở Việt Nam. Sở trường của Lee là phòng thủ, và còn giỏi chiêu “dương đông kích tây”, “tấn công” vây đánh điểm A để cứu điểm B, mà binh pháp Trung Hoa gọi là “vây Ngụy cứu Triệu”.

Sở trường của MacArthur là sử dụng kỳ binh, tức là dùng một lực lượng đặc biệt để tấn công bất ngờ trong một thời gian ngắn vào một “yếu huyệt” trọng yếu của đối phương, nhất là những mục tiêu mà ít người ngờ tới. Hành quân táo bạo, mạo hiểm, take risk, để giành thắng lợi chiến lược hoặc thắng lợi quyết định.

Ưu điểm của những tướng như MacArthur là nếu thắng thì sẽ thắng rất lớn. Nhưng do tính cách chơi liều của họ mà họ cũng thường sẽ phạm phải những sai lầm chiến lược. Khác với những “văn tướng”, “trí tướng” đặt sự từ tốn thận trọng bảo tồn thực lực lên trên hết như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những vị tướng hiếm hoi không mắc phải 1 lỗi chiến lược nào trong lịch sử quân sự thế giới.

Ở Điện Biên Phủ là lỗi chiến thuật nhưng Đại tướng đã kịp thời khắc phục nhanh khi thấy thực tế chiến trường không giống như các thảo luận ở Bộ Chính Trị. Còn Mậu Thân, thắng lợi lần 1 rất to lớn, còn việc hao binh tốn tướng trong lần 2 và 3 là không thuộc trách nhiệm của Đại tướng, vì ông không tán thành việc đánh tiếp lần 2 và 3, làm yếu đi nông thôn và vùng giải phóng.

Sau này nghiên cứu lại thì các chuyên gia quân sự Việt Nam và nước ngoài cũng công nhận là nếu chỉ đánh lần 1 rồi rút êm thì là 1 đại thắng, nhưng do ham đánh thêm cả lần 2 và 3 nên bị hao binh tổn tướng rất nặng nề, yếu tố bất ngờ không còn.

Sai lầm chiến thuật đó của ông Lê Duẩn và các lực lượng miền Nam (phái ủng hộ đánh tiếp lần 2 và 3, không theo ý kiến chỉ đạo ban đầu của Đại tướng và Bộ Chính Trị) càng cho thấy thiên tư quân sự, nhãn quan, tầm nhìn quân sự độc đáo của Đại tướng, ở miền Bắc xa xôi mà vẫn có cái nhìn thấu đáo, tường tận, minh mẫn, chính xác hơn các lực lượng tại chỗ. Đó là một trong những người hiếm hoi có thể “ngồi trong màn trướng quyết việc thắng bại ngoài ngàn dặm”.

Sở dĩ Đại tướng Võ Nguyên Giáp không bị sai lầm chiến lược nào trong suốt cuộc đời nam chinh bắc chiến và sự nghiệp quân sự oanh liệt của ông, một phần là vì trước khi đi vào quân sự chuyên nghiệp thì ông là một giáo viên dạy sử, là một nhà nghiên cứu lịch sử chuyên nghiệp.

Khi đã ở trong lĩnh vực sử học chuyên nghiệp thì không thể chỉ có nắm vững đại cương chung chung mà còn phải thấu hiểu, nắm vững các kiến thức chi tiết cụ thể, trong đó có phần lịch sử quân sự (quân sử), lịch sử chiến tranh (chiến sử).

Với trách nhiệm là một nhà nghiên cứu và thầy dạy sử chuyên nghiệp, cộng với sở thích và tính hiếu kỳ chung của thanh niên về đề tài quân sự, cộng với ý chí sôi sục nhiệt huyết cứu quốc khi đất nước đang bị thực dân cai trị, muốn khởi nghĩa đánh giặc cứu nước thì tất phải biết ít nhiều việc binh, nghiệp võ, cho nên người thanh niên Võ Nguyên Giáp đã tìm hiểu chuyên sâu về lịch sử, đặc biệt là quân sử, binh pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là 2 tên tuổi nổi tiếng nhất trong lịch sử cận đại/hiện đại Việt Nam. “Thời thế tạo anh hùng”, tình thế loạn lạc dưới ách ngoại xâm trong thời Pháp thuộc đã tạo ra 2 người anh hùng dân tộc. Và “anh hùng tạo thời thế”, 2 người anh hùng này đã lãnh đạo quân dân cả nước làm nên những chiến công khó tin, làm xoay chuyển thời cuộc không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới.

Khi nhắc đến tài năng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì người ta nghĩ ngay đến tài chính trị, thuật dùng người. Khi nhắc đến tài năng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì người ta nghĩ ngay đến tài thao lược, thuật dụng binh. Có lẽ do nhìn thấy thiên tư, năng khiếu bẩm sinh và kiến thức quân sự dồi dào đó mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã phong người tuổi trẻ anh hùng Võ Nguyên Giáp lên làm Đại tướng và tổng tư lệnh quân đội quốc gia.

Cho nên báo chí Mỹ nói Đại tướng không được đào tạo thì cũng không đúng. Tuy Đại tướng không được đào tạo bài bản chính quy trường lớp, nhưng chính lịch sử đánh giặc ngàn năm của cha ông đã đào tạo nên người danh tướng Võ Nguyên Giáp, một thiên tài quân sự. Nhiều tướng lĩnh xuất thân Học viện Quân sự West Point danh giá đã bị thua đau trước người danh tướng tự học này.

Trở lại với MacArthur, tài dùng kỳ binh của ông này có thể thấy được với chiến công lừng danh đánh úp Nhân Xuyên và chuyển bại thành thắng, lật ngược thế cờ Chiến tranh Triều Tiên, chặn đứng đà chiến thắng trông thấy của quân đội Kim Nhật Thành và còn thắng ngược.

Tuy nhiên sau đó, khi MacArthur phải đụng độ với danh tướng Trung Quốc Bành Đức Hoài, một tướng mưu lược nhưng vẫn thua xa Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thì MacArthur đã không thắng nổi và bị cầm chân. Bởi vì Bành Đức Hoài cũng thạo kỳ binh do từng thần tượng và nghiên cứu thiên tài quân sự Hàn Tín từ nhỏ, và còn học được đức tính trầm ổn, dùng binh cực kỳ thận trọng, biết sắp đặt tính kế các đường lùi, các nước cờ dự bị.

“Biết người biết ta, trăm trận không thua”, Bành Đức Hoài quá hiểu tính cách liều lĩnh của “đại mạo hiểm gia” MacArthur và rút kinh nghiệm “vết xe đổ” Kim Nhật Thành bị thua trước đó, nên đã đánh theo chiến lược mềm dẻo dằng dai và rất thận trọng, từ tốn, “dĩ nhu chế cương”, lấy nhiều vây ít. Và kết quả là MacArthur đã không làm gì được, ông này lại có khuyết điểm nữa là nôn nóng, nóng tính, kém kiên nhẫn, chỉ giỏi dùng kỳ binh và tốc chiến tốc thắng (thể hiện qua chiến công thần tốc đánh 1 lèo tới biên giới Trung Quốc, đuổi quân Bắc Triều Tiên sang biên giới TQ). Khi đụng phải “Thái Cực Quyền” của Bành Đức Hoài thì thuật kỳ binh và chiến lược tốc chiến của MacArthur lập tức trở nên như những quả đấm thôi sơn vào không khí và không còn chỗ sử dụng. Cho nên, ông ta ngày càng nóng tính, tuyên bố dọa sẽ dùng bom nguyên tử biến Trung Quốc đại lục và bán đảo Triều Tiên thành tro than, làm cho Nhà Trắng và Lầu Năm Góc mất mặt.

Ông này còn cãi nhau tay đôi với tổng thống trên phone. Đã không biết kiềm chế, làm xấu quốc thể Hoa Kỳ, ngu chính trị, kết quả chiến cuộc lại không khả quan, nên MacArthur bị triệu về và thay thế. Sau khi “thay tướng giữa trận” thì Mỹ – Liên Hiệp Quốc đã nhanh chóng chiếm lại được Bình Nhưỡng từ tay Trung Quốc, diễn biến chiến cuộc thuận lợi hơn cho Mỹ và đồng minh.

Như vậy cho thấy Lee và MacArthur tuy có tài giỏi nhưng cũng chẳng phải là thần thánh ba đầu sáu tay gì mà nói rằng nếu cầm quân ở VN thì sẽ thắng được VN. Sở trường phòng ngự dẻo dai chắc chắn kín kẽ như tường đồng vách sắt và kỹ thuật “tấn công để phòng ngự” của Lee và sở trường kỳ binh và tốc chiến tốc thắng của MacArthur không có chỗ dùng, không có chỗ phát huy trên chiến trường Việt Nam.

Các sở trường của 2 danh tướng này chỉ có thể dùng để chống trường binh, trường trận, các cuộc hành quân đường dài quy mô lớn của đại binh. Còn VN thì dùng đoản binh, đánh nhanh rút gọn, đánh rồi chạy, đánh rồi chạy, liên tục quấy rối giặc không ngừng. Khiến giặc phải điên đầu, khủng hoảng tinh thần, ăn không ngon ngủ không yên. Ban ngày đang ăn cũng sợ bị đánh, ban đêm nằm trằn trọc không ngủ được vì sợ bị đánh bất ngờ. Họ không biết sẽ bị đánh lúc nào.

Điều này làm cho họ bị rối loạn thần kinh, trầm cảm nghiêm trọng, chưa cần đánh nhiều mà họ đã tự diệt và suy sụp đến chết, chết dần chết mòn. Lính Mỹ chưa kịp bị quân Giải phóng bắn chết thì đã bắn nhau chết trước, sĩ quan bắn chết những người lính muốn bỏ trốn, lính bắn chết sĩ quan rồi đào ngũ. Họ coi VC như là một đội âm binh thần chết không biết lúc nào sẽ đi đến đòi mạng họ. Với tình hình như vậy thì làm sao chiến đấu gì nổi, tinh thần nào mà chiến đấu, cầm súng đã thấy nặng trĩu cầm không muốn nổi. Từ tướng đến quân chỉ thèm khát được giải thoát khỏi cái vũng lầy chiến tranh kinh khủng này và về nước càng sớm càng tốt. Và tình hình này càng như thế thì phong trào phản chiến chống Chiến tranh Việt Nam lại càng bùng cháy lan rộng dữ dội khắp nơi.

Tuy bị tổn thương nặng nề trước sự đánh phá của quân đội Mỹ, Việt Nam vẫn giáng trả vào quân xâm lược những thiệt hại, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn.”“Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”. Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự sát.

Điều trớ trêu là Mỹ “đầu tư” rất nhiều cho chiến tranh tâm lý ở Việt Nam, nhưng tâm lý của lính Mỹ mới là bị hại nhiều nhất. VN thì không tốn kém nhiều cho khoản này, chỉ cần có những hành động quấy rối quân sự không ngừng nghỉ và bà “Hannah Hà Nội” Trịnh Thị Ngọ nói cả ngày trên radio là cũng đủ cho tinh thần chiến đấu của binh lính Mỹ tiêu tùng. Nếu các cuộc quấy rối quân sự làm cho lính Mỹ lo sợ bất an, thì những cuộc nói chuyện trầm ấm của bà Ngọ đã cảm hóa, vận động được không ít lính Mỹ và khiến họ phải nhớ nhà.

Trong quân sử châu Á cũng có tiền lệ như vậy. Trong Chiến tranh Hán – Sở (Trung Quốc), “tiếng sáo Trương Lương” đã làm cho tàn binh của Hạng Vũ phải tan rã. Trong Chiến tranh Việt Nam, ý chí của binh lính Mỹ phải tan rã trước giọng nói ma lực của “Hannah Hanoi”.

Chiến tranh nhân dân Việt Nam và cách đánh du kích ở VN là những loại hình chiến tranh rất đặc biệt và thiên biến vạn hóa khó lường. Không có một cá nhân danh tướng xâm lược nào thắng được một dân tộc đoàn kết quyết chiến đánh giặc, cho dù đại nhân vật đó tài giỏi đến đâu.

Nguồn: blog Thiếu Long