Chiến tranh điện tử phức tạp nhất trên chiến trường Việt Nam

Sự xuất hiện trong lực lượng vũ trang và hạm đội các trang thiết bị điện tử (trang thiết bị thông tin liên lác, các đài radar, các thiết bị dẫn đường, định vị, trang thiết bị điều khiển hỏa lực và các phương tiện tác chiến khác…), các hoạt động và khả năng của trinh sát, tình báo điện tử trong mọi lĩnh vực cũng như các hoạt động đánh lừa, gây nhiễu loạn hoặc chế áp ngày càng được tăng cường cả về chiều rộng và chiều sâu.

Các hành động công kích hay phòng ngự trong lĩnh vực điện tử có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả tác chiến trên chiến trường. Ngày này, trong lĩnh vực tác chiến không gian ảo ngày càng hoàn thiện hơn các phương pháp và trang thiết bị, khí tài nhằm tăng cường hay bảo vệ các hoạt đông tác chiến của các lực lượng trinh sát điện tử và chế áp điện tử đối phương.

Trong lĩnh vực radar – điện tử, thông tin và truyền thông hàng ngày (thời bình và thời chiến) đang diễn cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt, cuộc đấu tranh trong không gian điện tử được gọi là “chiến tranh điện tử” các hoạt động nhằm dành quyền thống trị trong không gian electron được gọi là “tác chiến điện tử”.

Các cường quốc quân sự thế giới phát triển mạnh các phương pháp và các phương tiện, khí tài trang bị trinh sát điện tử và chế áp điện tử nhằm mục đích tấn công chiếm đoạt thông tin và gây tổn thất nặng nề cho các phương tiện, vũ khí, khí tài của đối phương, bao gồm các phương tiện điện tử. Các lực lượng đối kháng cũng sử dụng các phương tiện, vũ khí và trang thiết bị khác nhau nhằm chống lại các hoạt động công kích điện tử của đối phương.

Cuộc đấu tranh này được mang thuật ngữ “Chiến tranh điện tử”. Như vậy, chiến tranh điện tử là “ tập hợp các hoạt động tác chiến nhằm giảm thiểu tối đa hiệu quả sử dụng không gian điện từ để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của đối phương đồng thời đảm bảo hoạt động hiệu quả các trang thiết bị, khí tài điện tử của phía bên mình” trích điều lệ tác chiến của quân đội Mỹ.

Theo quan điểm của Bộ tổng tham mưu  liên quân Mỹ, các hoạt động tác chiến được thực hiện trong “chiến tranh điện tử” là:

– Trinh sát điện tử, nắm bắt thông tin, phát hiện mục tiêu và chỉ thị dẫn đường các lực lượng hoặc hỏa lực tiêu diệt mục tiêu.

–  Làm đứt đoạn và làm rối loạn các hoạt động điều hành lực lượng chiến đấu và vũ khí trang bị đối phương;

– Giảm hiệu quả trinh sát của địch và hiệu quả sử dụng vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh;

– Duy trì và đảm bảo khả năng hoạt động ổn định của các trang thiết bị, khí tài điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực.

Như vậy: “Tác chiến điện tử” được hiểu là tập hợp tất cả những hành động theo mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ, vị trí và thời gian cùng với các lực lượng tham gia chiến đấu phát hiện được hệ thống và các phương tiện, khí tài điều hành các đơn vị chiến đấu và các phương tiện tác chiến của đối phương, thực hiện các đòn tiến công tiêu diệt các tranh thiết bị, khí tài điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực, chiếm đoạt thông tin và chế áp thông tin đối phương, gây nhiễu loạn và mất khả năng hoạt động của hệ thống điều hành binh lực và điều khiển hỏa lực.

Cùng lúc bảo vệ các trang thiết bị, khí tài của hệ thống điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực quân ta, ngăn chặn mọi khả năng trinh sát điện tử, dẫn đường hỏa lực và chỉ thị mục tiêu của đối phương.

Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Tác chiến điện tử (TCĐT):

1- Tình báo, trinh sát, cảnh báo sớm phát hiện mục tiêu đối phương, thu thập thông tin, chỉ thị dẫn đường lực lượng hoặc vũ khí, phương tiện chiến đấu tiêu diệt mục tiêu.

2- Chế áp điện tử – đánh lừa, gây nhiễu , phá hủy hoặc làm nhiễu loạn, đứt đoạn hệ thống điều hành tác chiến và điều khiển hỏa lực đối phương.

Các cuộc chiến tranh hiện đại từ sau Đại chiến thế giới lần thứ II, cùng với những diễn biến căng thẳng của chiến tranh Lạnh mà trong cuộc đối đầu giữa hai hệ tư tưởng, cả hai phía đã tiến hành một cuộc chiến tranh điện tử – thông tin với cường độ rất cao, huy động hầu hết những thành tựu khoa học công nghệ đương thời vào cuộc chiến hiện đại nay.

Những tổn thất cho cả hai bên hầu như không được tuyên bố, nhưng kết quả cuối cùng hầu như toàn thế giới đều đã rõ ràng. Cũng trong thời gian này, đã có nhiều cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh khu vực xảy ra trên toàn thế giới, mà trong đó, chiến tranh điện tử đóng vai trò trọng yếu trong mọi hoạt động của chiến trường.

Cuộc chiến tranh điện tử phức tạp nhất, đa dạng nhất và cũng là cuộc đối đầu không cân sức nhất giữa lực lượng tham chiến hiện đại nhất thế giới và lực lượng vũ trang nhân dân non trẻ nhất. Chiến tranh Việt Nam.

Tác chiến điện tử của Mỹ trên đường Trường Sơn và chiến trường miền Nam

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc đối đầu tàn khốc giữa ý chí của một dân tộc chống ngoại xâm – thống nhất đất nước và một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất trên thế giới.

Để phá hoại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, tiêu diệt lực lượng vũ trang nhân dân non trẻ, đồng thời ngăn chặn con đường vận chuyển vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu, binh lực và cơ sở vật chất từ miền Bắc vào Miền Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng những phương tiện trinh sát điện tử hiện đại chưa từng có với những quy mô sử dụng cũng chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, trang thiết bị khí tài điện tử được triển khai trên mọi phương tiện tác chiến, bao gồm từ không quân, không quân hải quân, bộ binh đến những người lính cuối cùng, trên tất cả các không gian tác chiến, từ trên không, trên mặt đất và trên mặt nước.

Trinh sát điện tử trong chiến tranh ở Việt Nam đã phát triển lên đến đỉnh cao nhất của khoa học công nghệ cả về tốc độ nghiên cứu cũng như tốc độ ứng dụng.

Những hoạt động trinh sát điện tử diễn ra rộng rãi cả trên hai miền Nam Bắc Việt Nam, một trong những chiến trường dữ dội nhất và cũng tàn bạo nhất là trên tuyến đường Trường Sơn “đường mòn Hồ Chí Minh” anh hùng.

Tác chiến điện tử trên đường mòn “Hồ Chí Minh” chiến dịch Igloo Whate

Giai đoạn những năm 1960-x đến 1970-x, những cuộc tấn công liên tiếp của Quân giải phóng đã đập tan huyền thoại sức mạnh quân sự Mỹ, lực lượng vũ trang miền Nam càng ngày càng lớn mạnh. Để ngăn chặn những đoàn quân và những chuyến hàng vận tải vào Nam dọc tuyến Trường Sơn, người Mỹ đã triển khai một chiến dịch tác chiến điện tử rộng khắp trên toàn bộ tuyến đường Trường Sơn.

Bước đầu tiên, để phát hiện được những đoàn xe và các đơn vị hành quân vào Nam, không quân hải quân Mỹ sử dụng các sensors thu âm, được dùng trong các phao thủy âm chống ngầm. Những chiếc sensor thu âm “Akvabuy” có chiều dài 91 cm đường kính 12 cm và nặng  12 kg. Các cảm biến âm thanh này được ném xuống từ máy bay bằng dù ngụy trang xuống các cánh rừng nhiệt đới.

Dù sẽ treo lơ lửng các khí tài thu âm này trên cây, thu âm thanh tiếng động và truyền về trung tâm xử lý thông tin của Hải quân Mỹ, bình điện ắc quy cho phép nuôi khí tài trong 30 – 45 ngày. Nhưng do dù bay thường không định hướng nên các thiết bị này rơi tản mát, hiệu quả trinh sát rất thấp.

Chương trình trinh sát điện tử được phát triển tiếp theo với phương án sử dụng rộng rãi các sensor được đặt mật danh là  Igloo White nhưng nổi tiếng với tên gọi thông thường là Hàng rào điện tử McNamara, sensor được nâng cấp và cải tiến là thiết bị tổ hợp đo địa chấn, từ trường và tiếng động “ADSID” (Air Delivered Seismic Intrusion Detector) – Cây nhiệt đới, có khối lượng 11 kg được ném xuống bằng dù định hướng.

Các Cây nhiệt đới (ADSID) này cắm sâu xuống đất, xòe các ăn ten thu tín hiệu được sơn mầu ngụy trang. Thế hệ thứ 3 của “ADSID” là các cây nhiệt đới thu cả âm thanh, địa chấn và từ trường có khối lượng đến 17 kg. Micro được tự động bật lên khi có từ trường hoặc địa chấn tương đương xe ô tô chạy, từ đó đã tăng được thời gian bình điện ắc quy lên đến 90 ngày liên tục truyền tín hiệu.

Chương trình ” Igloo White “hoặc “Hàng rào điện tử McNamara”  ban đầu được nghiên cứu triển khai dọc khu phi quân sự đến tận biên giới Việt Nam – Lào một hệ thống hàng rào điện tử dày đặc bao gồm tất cả các loại radars, cảm biết điện từ, âm thanh và nhiệt độ kết hợp với hàng rào dây thép gai, các trận địa mìn và các cụm hỏa điểm dày đặc. Hàng rào điện tử dưới sự chi viện mạnh mẽ của các căn cứ và lực lượng quân đội Mỹ và Sài Gòn được cơ giới hóa và trực thặng vận cấp độ cao.

Dự án hàng tỷ dollar này được hy vọng có thể chặn đứng sự chi viện của miền Bắc XHCN cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Miền Nam Việt Nam.

 Hệ thống các sensors trinh sát, bãi mìn và hàng rào dây thép gại trong “Hàng rào điện tử McNamara”.
Hệ thống các sensors trinh sát, bãi mìn và hàng rào dây thép gại trong “Hàng rào điện tử McNamara”.

Chương trình này bắt đầu từ năm 1966 khi tình hình cách mạng Miền Nam phát triển mạnh, với chi phí lên tới 2 tỷ dollars đã nhanh chóng bị hủy bỏ do sự vô dụng trong việc ngăn chặn các lực lượng chi viện Miền Bắc vào miền Nam. Người Mỹ đã phát hiện ra những tuyến đường vận chuyển của binh đoàn 559 thông qua Lào và Căm Phu chia.

Điều này gây sốc nặng nề cho Bộ tham mưu liên quân Mỹ khi họ nhận được những bức ảnh chụp và nghe được âm thanh cơ giới từ những đoạn đường dưới tán cây rừng.  Buộc người Mỹ phải có kế hoạch khẩn cấp đối phó.

   Sơ đồ hệ thống chống vận tải cơ giới và hành quân chi viện Miền Nam
Sơ đồ hệ thống chống vận tải cơ giới và hành quân chi viện Miền Nam

Sự phát triển và mở rộng con đường Trường Sơn với mật độ xe cơ giới và binh lực lớn đe dọa một sự thảm bại đến gần. Quân đội Mỹ phải tiến hành tiếp theo chiến dịch tác chiến điện tử quy mô dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, chiến dịch đánh phá tuyến đường giao thông anh hùng có tên là Operation Commando Hunt do lực lượng Hải quân hạm đội 7 của Mỹ kết hợp với tập đoàn không quân Hải quân số 77 tiến hành từ 11/11/1968 đến 29/03/1972 và một gian đoạn tiếp theo cho đến khi Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt Nam, trong chiến dịch này đã sử dụng rộng rãi các thiết bị trinh sát điện tử như ADSID với nhiều chủng loại khác nhau như:

 Air Delivered Seismic Intrusion Detector (ADSID) Thiết bị thám sát địa chấn thả từ trên không
Air Delivered Seismic Intrusion Detector (ADSID) Thiết bị thám sát địa chấn thả từ trên không
 ACOUBOUY; Acoustic Seismic Intrusion Detector (ACOUSID)Thiết bị thám sát âm thanh
ACOUBOUY; Acoustic Seismic Intrusion Detector (ACOUSID)Thiết bị thám sát âm thanh
Fighter Air-Delivered Seismic Intrusion Detector (FADSID)Thiết bị thám sát âm thanh thả bằng máy bay phản lực
Fighter Air-Delivered Seismic Intrusion Detector (FADSID)Thiết bị thám sát âm thanh thả bằng máy bay phản lực
 Helicopter-emplaced Seismic Intrusion Detector (HELOSID). Thiết bị dò tìm âm thanh của trực thăng
Helicopter-emplaced Seismic Intrusion Detector (HELOSID). Thiết bị dò tìm âm thanh của trực thăng
 Hand-emplaced Seismic Intrusion Detector (HANDSID) Thiết bị dò tìm âm thanh, địa chấn của thám báo
Hand-emplaced Seismic Intrusion Detector (HANDSID) Thiết bị dò tìm âm thanh, địa chấn của thám báo
 Hai loại Cây nhiệt đới ADSID II and ACOUSID III
Hai loại Cây nhiệt đới ADSID II and ACOUSID III
 Vùng tác chiến điện tử và không kích đường Trường Sơn bằng không quân.
Vùng tác chiến điện tử và không kích đường Trường Sơn bằng không quân.

Thời gian đầu tiên, những cảm biến kiểu Cây Nhiệt đới này được thả xuống các khu vực đường vận tải bằng máy bay hải quân OP -2 Neptune, do cấu trúc nặng nề và tốc độ bay chậm, hay bị lực lượng phòng không mặt đất của bộ đội Trường Sơn bắn rơi, các cảm biến này được rải bằng nhiều loại phương tiện khác nhau như máy bay phản lực, máy bay trực thăng, một số các loại cảm biến khác còn do lực lượng thám báo Mỹ  (SOG).

Số lượng các cảm biến điện từ trường và âm thanh tính chỉ riêng năm 1969 là 5000 chiếc, đến năm 1972, số lượng lên đến 40000 chiếc được rải xuống.

 Sơ đồ tác chiến điện tử khu vực Khe Sanh – A shau, A Lưới. Các điểm chấm là tuyến rải các sensors
Sơ đồ tác chiến điện tử khu vực Khe Sanh – A shau, A Lưới. Các điểm chấm là tuyến rải các sensors
   Máy bay tác chiến điện tử EC -121R
Máy bay tác chiến điện tử EC -121R
 Hệ thống radar thu tín hiệu chuyển tải về trung tâm tác chiến điện tử ICS ở Thái Lan
Hệ thống radar thu tín hiệu chuyển tải về trung tâm tác chiến điện tử ICS ở Thái Lan
 Trung tâm tác chiến điện tử chống thâm nhập ICS ở Thái Lan
Trung tâm tác chiến điện tử chống thâm nhập ICS ở Thái Lan

Các sensors được rải xuống các tuyến đường vận tải Trường Sơn cũng chỉ là một phần công việc. Sau khi các sensors được rải và kích hoạt, thông tin từ các sensors được truyền tải qua các máy bay tác chiến điện tử của hãng Lockheed EC-121R và hãng Beach “Deboneyrs” cho máy bay EU-121 “Paiva Eagle” về các trung tâm chỉ huy, trong đó có trung tâm tác chiến điện tử Mỹ đặt tại Trung tâm Giám sát Thâm nhập (Infiltration Surveillance Center – ICS) ở Thái Lan, sử dụng máy tính IBM 360 – 65.

Từ những thông tin thu thập được, người Mỹ xác định những tuyến đường vận tải, kho tàng và khu vực tập trung xe máy kỹ thuật, từ đó ra quyết định công kích đường không.

Do độ sai lệch trong xác định vị trí các cảm biến rất lớn (khoảng vài trăm mét), không quân Mỹ thường tiến hành các đợt không kích ồ ạt với số lượng bom đạn không hạn chế, trong mỗi mùa khô vận tải, mỗi ngày địch sử dụng từ gần 200 đên 400 lần không khích bằng máy bay phản lực, 10 – 12 các chuyến bay tuần thám và tấn công các đoàn xe vận tải AC-130, khoảng từ 20 đến 30 lần không kích bằng máy bay ném bom chiến lược B-52. Tác chiến thường xuyên trên đường mòn Hồ Chí Minh là hơn 500 máy bay chiến đấu các loại.

 AC 130 Gunship trên chiến trường Việt Nam
AC 130 Gunship trên chiến trường Việt Nam

Để tăng cường khả năng ngăn chặn các đoàn vận tải trên các tuyến đường Trường Sơn, quân đội Mỹ sử dụng các máy bay vận tải như  АС-119, АС-47,  АС-130  trang bị một hệ thống tác chiến điện tử rất hiện đại, hoạt động hiệu quả trong môi trường thiếu ánh sáng và nhiễu loạn bởi các vụ nổ.

Đó là các hệ thống TV quang học điện tử nhạy sáng hoạt động trong điều kiện ánh sáng mờ, hệ thống radar và video quan sát hồng ngoại FLIR vùng bán cầu phía trước của máy bay, hệ thống “Black Crow” (quạ đen) phát hiện sự đột biến của từ trường (khi động cơ khởi động và nổ máy, có hiện tượng đánh lửa ở bugi), trong 3 hệ thống này, thông thường hệ thống radar hồng ngoại làm việc hiệu quả nhất, nhưng để xác định chính xác tọa độ cũng như số lượng đoàn xe cơ động, hoặc đoàn quân đang hành quân đêm, cần phải có sự phối hợp của các 3 hệ thống.

Trên các máy bay đều được trang bị các loại vũ khí hạng nặng, từ súng máy Vulcan 20 mm đến pháo 40 mm, 105 mm và rockets.

 Những cung đường vận tải và xe ô tô vận tải do máy bay trinh sát Mỹ chụp ảnh
Những cung đường vận tải và xe ô tô vận tải do máy bay trinh sát Mỹ chụp ảnh
Các tuyến tác chiến điện tử của chiến dịch Command Hunt.
Các tuyến tác chiến điện tử của chiến dịch Command Hunt.

 

Trịnh Thái Bằng (Trích nguồn: Báo cáo dự án Checo thuộc chương trình Igloo White (Project Checo Reports – 01.11.1971) Thiếu tướng Ernet C.Hardin – USAF. Đại tá Mike Deleon. USAF.)

Nguồn: Báo Đất Việt

Advertisements

Những cuộc chiến dưới tay 5 đời tổng thống Mỹ gần đây nhất

Vào thời điểm “cuộc tấn công của Mỹ vào Syria chỉ còn tính bằng giờ”, hãng Associate Press đã khái quát về những cuộc xâm lược của Mỹ từ vài thập kỷ qua.

Trong vòng 30 năm, trải qua 5 đời tổng thống, nước Mỹ đã phát động hàng loạt cuộc tấn công quân sự vào các nước khác. Dưới đây là những nét khái quát về các cuộc tấn công này và mức độ ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

– Beirut (Năm 1982-83): Binh sỹ Mỹ triển khai ở Lebanon trong thành phần lực lượng gìn giữ hòa bình 3 quốc gia. Cùng với Pháp, Tổng thống Reagan hạ lệnh mở các cuộc không kích có giới hạn để trả đũa cho vụ đánh bom vào các trại lính làm 299 lính Mỹ và Pháp thiệt mạng.

– Grenada (1983): Cuộc xâm lược của khoảng 7.000 quân Mỹ cùng 300 lính trong Tổ chức các nước Châu Mỹ (OAS) sau khi nổ ra cuộc đảo chính tại quốc đảo vùng Caribe. Cuộc tấn công này bị Anh và Liên hợp quốc lên án nhưng nhận được sự ủng hộ của 6 quốc đảo vùng Caribe, nhóm cho rằng hành động này là chính đáng theo hiến chương OAS.

– Libya (1986): Các trận không kích nhằm trừng phạt chế độ của nhà lãnh đạo Moammar sau vụ nổ tại một sàn disco ở Berlin (Đức) làm 79 người Mỹ bị thương và 2 người thiệt mạng. Nước Anh ủng hộ các vụ tấn công này nhưng Đại Hội đồng Liên hợp quốc lại lên án.

George H.W.Bush

– Panama (1989): Cuộc xâm lược của hơn 26.000 lính Mỹ xảy ra sau khi nhà độc tài Manuel Noriega tuyên chiến với các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với chính phủ Panama bị cáo buộc buôn lậu ma túy. Một lính thủy đánh bộ Mỹ thiệt mạng sau khi ông Noriega tuyên chiến, nhưng từ trước khi cuộc xâm lược bắt đầu.

– Iraq (1991): Cuộc xâm lược Iraq với sự tham gia của 33 nước khác đã hối thúc Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ra nghị quyết buộc Tổng thống Iraq khi đó là Saddam Hussein phải rút quân khỏi Kuwait.

– Somalia (1992): Người Mỹ triển khai quân sang quốc gia châu Phi này với chiêu bài gìn giữ hòa bình và viện trợ nhân đạo theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Bill Clinton

– Iraq (1993): Những cơn mưa tên lửa hành trình đã trút xuống thủ đô Baghdad, đánh trúng các trụ sở tình báo Iraq, để trả đũa một âm mưu ám sát Tổng thống George H.W. Bush

– Somalia (1993): Các đơn vị lĩnh Mỹ được triển khai đồng loạt cùng 35 nước khác để thực hiện sứ mệnh an ninh và ổn định theo một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

– Haiti (1994): Mỹ triển khai nhiều quân tham gia sứ mệnh gìn giữ hào bình và ổn định quốc đảo này theo một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

– Bosnia (1994-96): Trong vòng 18 tháng, Mỹ và các đồng minh NATO đồng loạt mở nhiều đợt oanh kích mà cao điểm là các trận ném bom, pháo kích và bắn tên lửa hành trình nhằm vào lực lượng người Serbia tại Bosnia. Hành động này được thực hiện theo đề nghị của Tổng thư ký Liên hợp quốc Boutrous Boutrous-Ghali và áp đặt các vùng cấm bay theo ít nhất là 3 nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Binh sĩ nhiều nước được triển khai suốt một năm tại đây trong sứ mệnh gìn giữ hòa bình của NATO.

– Iraq (1996): Nhiều đợt tấn công bằng tên lửa hành trình nhằm vào các mục tiêu ở miền Nam Iraq để trả đũa cho các vụ tấn công máy bay chiến đấu Mỹ đang thực hiện vùng cấm bay để bảo vệ các sắc tộc thiểu số ở Iraq. Vùng cấm bay được áp đặt theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

– Sudan, Afghanistan (1998): Các trại huấn luyện khủng bố tại Sudan và Afghanistan bị tấn công bằng tên lửa hành trình để trả đũa vụ đánh bom Đại sứ quán Mỹ ở Kenya và Tanzania làm hơn 220 người thiệt mạng, trong đó có 12 công dân Mỹ.

– Iraq (1998): Một loạt các mục tiêu ở Baghdad đã bị nã tên lửa hành trình để trừng phạt chế độ Saddam Hussein không tuân thủ các cuộc thanh sát vũ khí hóa học của Liên hợp quốc theo các yêu cầu trong nghị quyết của Hội đồng Bảo an.

– Kosovo: (1999): Các mục tiêu quân sự của Nam Tư cũ bị không kích và trúng tên lửa hành trình trong suốt 3 tháng tấn công. Ngoài ra, nhiều trạm điện, cầu cống và cơ sở hạ tầng khác của Nam Tư cũng bị phá hủy trong chiến dịch này của NATO.

George W. Bush

– Afghanistan (2001): Cuộc xâm lược diễn ra trong khuôn khổ chiến dịch quân sự của NATO sau khi xảy ra vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001. Đã có khoảng 100.000 quân từ 48 nước tiến vào Afghanistan trong thành phần lực lượng Hỗ trợ an ninh quốc tế (ISAF) do Mỹ cầm đầu. Trong số này, có 60.000 lính Mỹ. Vào cuối năm 2013, các binh sĩ NATO trong thành phần ISAF sẽ giảm còn một nửa và toàn bộ các lính chiến đấu nước ngoài sẽ rời khỏi mảnh đất Afghanistan vào cuối năm sau.

– Iraq (2003): Cuộc xâm lược diễn ra với chiêu bài “nguyện vọng của liên minh” 48 nước nhằm lật đổ chế độ Saddam Hussein. Khoảng 160.000 binh sỹ Mỹ đã có mặt tại Iraq vào lúc cao điểm của cuộc chiến và toàn bộ các lực lượng này đã rút đi vào tháng 12/2011 theo một thỏa thuận an ninh giữa chính phủ Iraq và Mỹ.

Barack Obama

– Libya (2011): Mỹ đã bắn hàng loạt tên lửa hành trình và chỉ huy một chiến dịch quân sự quốc tế ban đầu để thực hiện một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, theo đó kêu gọi một lệnh ngừng bắn trong cuộc nội chiến tại Libya và thiết lập một vùng cấm bay.

– Osama bin Laden (2011): Dù không hẳn là một cuộc tấn công xâm lược từ nước ngoài thì vụ đột kích tiêu diệt thủ lĩnh Al-Qaeda lại được coi là một trong những thành công của giới quân đội và tình báo chóp bu Mỹ. Tất cả đều được thực hiện mà không có sự cho phép của Pakistan, quốc gia mà Bin Laden đã ẩn nấp.

Ngoài ra, cũng nên lưu ý về hàng trăm vụ tấn công đẫm máu bằng máy bay không người lái được Mỹ thực hiện nhằm vào các mục tiêu là những thủ lĩnh Al-Qaeda trong các nhiệm kỳ của Tổng thống Obama và Tổng thống George W. Bush. Đa số các vụ tấn công này diễn ra tại Pakistan, Afghanistan và Yemen. Nó luôn gây tranh cãi về việc liệu chính phủ của những quốc gia này có cho phép Mỹ thực hiện các vụ tấn công.

Theo Vietnam+

Các đô thị miền nam Việt Nam dưới thời Mỹ

Sau Hiệp định Genève năm 1954, cùng với nguồn viện trợ Mỹ, tư bản nước ngoài cũng đầu tư vào Sài Gòn và vùng phụ cận, lên đến 1,2 tỉ USD trong hai năm 1958 – 1959. Nhiều cơ sở công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ được xây dựng khá hiện đại, như Xí nghiệp Dược phẩm Roussel, Vina-Spécia, Hoechst, các xí nghiệp pin-accu, bóng đèn…

Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển nhanh. Nhờ vậy, từ 1954 đến 1960, kinh tế miền Nam khá ổn định, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 5%, giá cả ít biến động. Sản lượng gạo xuất khẩu qua cảng Sài Gòn hàng năm đạt trên 300.000 tấn. Chất lượng hàng tiêu dùng khá đa dạng và phong phú.

Tuy nhiên, sau năm 1960, kinh tế miền Nam, chủ yếu là Sài Gòn bị sa sút. Xuất khẩu gạo giảm dần và từ năm 1964 trở đi phải nhập khẩu gạo hằng năm trên 500.000 tấn. Đặc biệt từ khi Mỹ và đồng minh của Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam Việt Nam, tình hình kinh tế, xã hội Sài Gòn càng thêm xáo trộn. Đồng tiền Sài Gòn năm 1965 bị sụt giá, từ 60 đồng/USD xuống còn 118 đồng/USD. Từ đó cho đến năm 1970 Sài Gòn và cả miền Nam sống chủ yếu bằng viện trợ Mỹ. Theo số liệu cũ, trong vòng 10 năm, từ 1960 đến 1970, số viện trợ kinh tế cho cả miền Nam lên đến trên 4 tỷ USD, chủ yếu là lương thực, hàng tiêu dùng, xăng dầu, vật tư, nguyên liệu cho sản xuất… Số viện trợ quân sự lên đến 8 tỷ USD. Đó là chưa kể số chi phí đổ vào để nuôi đội quân thường trực lên đến 500.000 người của Mỹ và đồng minh của Mỹ. Lạm phát ngày càng gia tăng, buộc chính quyền Sài Gòn năm 1966 phải phá giá đồng bạc.

Nông nghiệp bị đình đốn, chỉ có các ngành dịch vụ phục vụ chiến tranh và quân đội Mỹ là phát triển mạnh. Tuy nhiên, trong thời kỳ này nổi lên một bộ phận tư sản mại bản làm giàu bất chính nhờ hiệp kinh doanh hàng viện trợ, thầu dịch vụ cho chiến tranh, buôn lậu… Nhiều sĩ quan cao cấp, các chính khách trong chính quyền Sài Gòn… làm giàu nhanh chóng và trở thành tư sản mại bản chỉ trong vòng vài năm.

Thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, từ 1971, song song với chiến dịch bình định, lấn chiếm nông thôn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vạch ra các kế hoạch kinh tế lâu dài, với quy mô lớn, trong đó có kế hoạch phát triển kinh tế thời hậu chiến mới được hình thành tại vùng phụ cận Biên Hòa. Đây là nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp của cả miền Nam Việt Nam, được đầu tư trang bị nhiều máy móc, thiết bị hiện đại của phe tư bản chủ nghĩa vào thời bấy giờ. Chỉ trong hai năm 1971 – 1972, số vốn đầu tư cho khu công nghiệp Biên Hòa và Sài Gòn đã gấp hơn mười lần tổng số vốn đầu tư 10 năm trước đó. Đa số các xí nghiệp tại khu công nghiệp Biên Hòa đều có trụ sở chính đặt tại thành phố Sài Gòn.

Trước khi được giải phóng vào năm 1975, Sài Gòn – Gia Định có khoảng trên 30.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có hàng trăm xí nghiệp cỡ lớn tập trung trong ngành chế biến lương thực, thực phẩm và công nghiệp nhẹ, với số lượng công nhân hàng ngàn người như Vimytex, có 3.200 công nhân, Vinatexco có trên 3.200 công nhân, Sicovina trên 2.000 công nhân… Nhiều xí nghiệp có dây chuyền thiết bị hiện đại, công xuất lớn như xí nghiệp lớn chưa kịp khánh thành thì Sài Gòn đã được giải phóng như sữa Nestlé, Dầu Nhà Bè… Nhiều ngành có năng lực sản xuất lớn như dệt: 240 triệu mét vải/năm, bia, nước ngọt: 250 triệu lít/năm, thuốc lá: 500 bao/năm, sữa: 170 triệu hộp/năm, xà bông và bột giặt: 88.000 tấn/năm, hóa chất cơ bản, xút các loại: trên 50.000 tấn năm.

Cảng Sài Gòn được mở rộng, có khả năng bốc dỡ 7 triệu tấn/năm, với các khâu được cơ giới hóa khá cao. Sân bay Tân Sơn Nhất có khả năng tiếp nhận những loại máy bay hạng nặng, năm cao nhất trước giải phóng có khả năng tiếp nhận hàng năm trên 130 ngàn chuyến bay lên xuống, trên một triệu hành khách. Hệ thống cầu đường được mở rộng, xây dựng theo phương pháp hiện đại, tiêu biểu là xa lộ Sài Gòn, chạy dài từ thành phố Sài Gòn đến Biên Hòa.

Trong giai đoạn này, ngành xây dựng phát triển khá nhanh, một phần nhờ vào nguồn viện trợ Mỹ, phần khác, nhờ nguồn hậu cần to lớn mà quân đội Mỹ chuyển sang. Nhiều công trình kiến trúc và nhà cao tầng đua nhau mọc lên. Hầu hết các công trình xây dựng quan trọng, cầu đường lớn đều do hãng thầu RMK Mỹ đảm trách. Đây là hãng thầu lúc đó thuộc vào loại lớn nhất thế giới. Song song với đà phát triển đó, một đội ngũ công nhân có kỹ thuật, tay nghề giỏi, trí thức khoa học kỹ thuật… cũng tăng nhanh. Năm 1975, Sài Gòn có trên 200.000 lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có hơn 13.000 trí thức khoa học, kỹ thuật, hơn 20.000 cán bộ kỹ thuật sơ, trung cấp.

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Sài Gòn lúc bấy giờ bị lệ thuộc nặng về vật tư, nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng, linh kiện… của nước ngoài. Các ngành dệt, nhuộm, hóa chất, thuốc lá, giấy sữa hộp… hàng năm điều phải bỏ ra hàng chục triệu USD để nhập hóa chất, sợi bông, thuốc lá sợi, lúa mạch, bột sữa… để sản xuất. Các ngành công nghiệp cũng phát triển không đồng đều. Hầu hết là công nghiệp nhẹ. Ngành cơ khí chế tạo còn non yếu so với sự phát triển chung của toàn ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp nặng chỉ chiếm khoảng dưới 10% giá trị tổng sản lượng công nghiệp.

CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM

Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam kéo dài tháng 7/1954 đến tháng 5/1975 qua năm đời tổng thống Mỹ (Aixenhao, Kennơđi, Giônxơn, Nichxơn, Pho) điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và chiến tranh xâm lược của Mỹ. (“Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, Chiến tranh “Việt Nam hóa”). Chúng đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam tới 676 tỉ đôla (so với 341 tỉ trong Chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỉ trong chiến tranh Triều Tiên), và nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới 920 tỉ. Chúng huy động lúc cao nhất là 55 vạn quân viễn chinh, lôi kéo 5 nước ở châu Á – Thái Bình Dương tham chiến với số quân lúc cao nhất là hơn 7 vạn người vào cuộc chiến, trực tiếp chiến đấu và làm nòng cốt cho hơn một triệu quân tay sai ở miền Nam. Chúng đã giội xuống hai miền đất nước ta hơn 7,8 triệu tấn bom đạn, một khối lượng bom đạn lớn hơn lượng bom đạn mà chung đã sử dụng trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó.

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ

Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” của nhân dân ta ở miền Nam đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào thời kỳ khủng hoảng triền miên. Chiến lược “Chiến tranh đơn phương” của Aixenhao được thực thi ở miền Nam đã bị phá sản.

Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đang cuồn cuộn dâng lên, làm sụp đổ từng mảng lớn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.

Trước tình hình trên, G. Kennơđi lên làm Tổng thống Mỹ đã phải điều chỉnh lại chủ nghĩa Aixenhao. Kennơđi đề ra chiến lược “phản ứng linh hoạt” thay cho chiến lược “trả đũa ồ ạt” với ba loại chiến tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh tổng lực. Hai kiểu chiến tranh trên được coi là “chiến tranh hạn chế”. Mục đích của “Chiến tranh đặc biệt” (còn gọi là “chiến tranh thứ ba”, “chiến tranh chống du kích”, “chiến tranh lật đổ”) là chống lại phong trào giải phóng dân tộc.

Công cụ để tiến hành chiến tranh là lực lượng quân sự người bản xứ do Mỹ trang bị và chỉ huy; tiền bạc, vũ khi trang trị của Mỹ là công cụ chủ yếu của chiến tranh đặc biệt. Chúng coi đó là hình thức linh hoạt, kịp thời để đối phó có hiệu quả đối với phong trào giải phóng dân tộc. Cùng ngày nhận chức Tổng thống Mỹ, 20-1-1961 Kennơđi chính thức công bố học thuyết mới và chọn Việt Nam làm nơi thí điểm “chiến tranh đặc biệt”. Kennơđi đã chấp nhận viện trợ cứu nguy chế độ Diệm và đưa 19.000 quân chiến đấu, dưới tên gọi cố vấn quân sự, sang Việt Nam. Kennơđi coi Việt Nam là tuyến cuối cùng chống cộng sản ở Đông Nam Á và nếu Mỹ rút khỏi Việt Nam thì sự sụp đổ sẽ diễn ra ở cả khu vực Đông Nam Á! Ngày 8-5-1961, chính sách đối với Việt Nam đã được chính thức phê chuẩn và mang tên NSAM-52 với nội dung chủ yếu: Tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy yểm hộ của phái đoàn cố vấn quân sự MAAG; đưa lực lượng đặc biệt của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt, chốt chặt biên giới, chống miền Bắc thâm nhập; tăng cường mở rộng, cải tiến trang bị và huấn luyện quân đội, coi đó là công cụ chủ yếu để chống chiến tranh du kích; khẩn trương bình định, lập “ấp chiến lược” hòng dồn hơn 10 triệu người dân miền Nam vào các trại tập trung trá hình để thực hiện “Tác nước bắt cá”, cô lập để tiêu diệt cách mạng miền Nam; ra sức củng cố chính quyền các cấp và đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh phá hoại chống lại miền Bắc.

Ngày 11-5-1961, Mỹ đưa 400 tên lính đầu tiên thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam, nâng tổng số quân Mỹ ở miền Nam từ 1077 cố vấn quân sự (1960) lên 10640 (1962) – gồm 2360 cố vấn và 8280 tên thuộc các đơn vị kỹ thuật. Tháng 4-1961, Mỹ tiến hành cải tổ hệ thống tổ chức chiến trường: bỏ các quân khu, lập ba vùng chiến thuật, do các quân đoàn chủ lực đảm nhiệm với đủ các thành phần quân địa phương, binh chủng yểm trợ, chỉ huy; dưới là các tiểu khu (tỉnh) và các chi khu quân sự (huyện hoặc quận).

Cố vấn Mỹ có mặt ở các cấp đến tận các tiểu khu, các trung tâm huấn luyện, các cơ quan tác chiến, các cấp tiểu đoàn, các biệt khu – chi khu chủ yếu. Chúng tăng cường trang bị cho quân đội Sài Gòn nhiều máy bay, xe bọc thép, vũ khí hiện đại và đưa dần lực lượng không quân, hậu cần yểm trợ Mỹ vào miền Nam. Diệm đã cử người học hỏi kinh nghiệm chống du kích, dần dân lập “ấp chiến lược” ở Malaixia, Philippin về để đàn áp cách mạng. Mỹ cho mời Tômxơn (Thomson) – chuyên gia quân sự chống du kích của Anh tại Malaixia, sang làm cố vấn “bình định”.

Năm 1961, quân của Diệm tăng lên 17 vạn người, 5 vạn bảo an dân vệ và 85 đại đội đặc biệt. Đồng thời, Mỹ – ngụy tăng cường bắt lính, tăng thời hạn quân dịch từ 12 đến 18 tháng. Được Mỹ hỗ trợ, quân đội Sài Gòn đã mở 2 vạn cuộc càn quét quy mô (từ tiểu đoàn đến trung đoàn), đánh phá ác liệt phục vụ cho việc gom dân lập ấp chiến lược. Chúng còn dự định tăng quân của Diệm lên 27 vạn người. Tháng 6-1961, Kennơđi cử E.Xtalây sang miền Nam Việt Nam. Xtalây đưa ra một kế hoạch chiến lược gồm ba điểm: 1- Dự kiến trong vòng 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962) sẽ lập được 16.000 ấp chiến lược, đánh phá cơ sở cách mạng, cơ bản bình định được miền Nam; 2- Dự kiến trong năm 1963 sẽ khôi phục nền kinh tế, phát triển lực lượng, tiến hành các hoạt động gây rối, phá hoại làm mất ổn định miền Bắc; 3- Chuyển sang phát triển kinh tế và dự kiến đến cuối năm 1965 miền Nam sẽ trở thành một quốc gia mạnh của “thế giới tự do”.

Tháng 5-1961, Mỹ quyết định tăng gấp hai lần viện trợ quân sự cho Diệm. Ngày 14-11-1961, Kennơđi chuẩn y kế hoạch Xtalây và những kiến nghị của Taylo (Taylor) (trừ 2 điểm là đưa lực lượng đặc nhiệm Mỹ vào miền Nam và ném bom miền Bắc). Sau một năm thăm dò thử nghiệm, kế hoạch này được hoàn chỉnh dần. Ngày 8-2-1962, Mỹ thiết lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (gọi tắt là MACV, thay cho phái đoàn MAAG).

Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt Mỹ cũng được thành lập. Lực lượng không quân, hậu cần cũng dần dần được đưa vào miền Nam. Đầu năm 1962, kế hoạch Xtalây – Taylo được tiến hành toàn diện. Cuối năm 1962, lực lượng yểm trợ chiến đấu Mỹ đã lên tới 11300 tên, lực lượng quân của Diệm cũng tăng lên 354000 người. Tháng 7-1961, đợt thí điểm lập ấp chiến lược được triển khai ở Vĩnh Long (Nam Bộ) và Quảng Ngãi (Trung Bộ). Đến tháng 8-1961, chúng triển khai kế hoạch này trên toàn miền Nam. Kế hoạch này được chúng coi là “quốc sách”, dự định dồn 10 triệu người dân vào 16000 ấp chiến lược, trong tổng số 17000 ấp trên toàn miền Nam. Ở những vùng chúng nắm được quyền kiểm soát, chúng dùng sức mạnh của bộ máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét dồn dân lập “ấp chiến lược”.

Ở những vùng chúng không kiểm soát được, chúng dùng quân đội đánh phá bao vây, cô lập, càn quét, buộc dân phải chạy vào vùng chúng kiểm soát. Chúng còn tiến hành các cuộc hành quân càn quét dài ngày đánh vào vùng Bến Cát, Tây Ninh, vùng giải phóng Bình Định, Phú Yên, các căn cứ U Minh, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, chiến khu Đ. Chúng dùng xe rải bom đạn chà xát nhiều lần, đánh vào từng khu vực, chia thành từng lô để khống chế, biến những “ấp chiến lược” thành điểm tựa phòng thủ chống cộng. Đối với Campuchia, Mỹ xúi giục và vũ trang cho bọn phản động tiến hành các hoạt động phá rối (kể cả ám sát nhà vua), bạo loạn nhằm thực hiện âm mưu cướp chính quần, lật đổ chính phủ hòa bình trung lập, gạt bỏ ảnh hưởng của Pháp. Ở Lào, Mỹ đưa lực lượng lính thủy đánh bộ vào Thái Lan, sẵn sàng tham chiến ở Lào và thúc ép chính quyền Sài Gòn đưa quân vào Đông Nam Lào để ngăn chặn đường tiếp tế của ta từ Bắc vào Nam. Từ giữa năm 1961, quân đội phái hữu Lào từ 3 vạn tăng lên 5 vạn với 11600 cố vấn Mỹ, chúng thúc đẩy bọn phản động lấn chiếm vùng giải phóng Lào. Trên thực tế từ năm 1961, cùng với việc thực hiện “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, Mỹ còn tiến hành “chiến tranh đặc biệt” cả ở Lào.

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ

Đầu 1965, cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ tiến hành chống lại nhân dân ta ở miền Nam đã phát triển đến đỉnh cao và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Để cứu vãn tình thế, Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.

“Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng lực) được đề ra phù hợp với chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt”. “Chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ giữa năm 1965, được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân của một số nước thân Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và quân của chính quyền Sài Gòn, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị.

Lính Mỹ có mặt ở miền Nam vào cuối năm 1964 là 26.000 người, đến cuối năm 1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính của các nước thân Mỹ. Đó là chưa kể 70.000 lính hải quân và không quân trên các căn cứ của Mỹ ở Guam, Philippin, Thái Lan và Hạm đội 7 luôn sẵn sàng tham chiến ở miền Nam.

Sau khi đã đưa một đại đội máy bay F.105 vào Biên Hòa và một tiểu đoàn tên lửa phòng không “Hốc” vào Đà Nẵng, ngày 8-3-1965, Mỹ cho hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 9 lính thủy đánh bộ từ Ôkinaoa vào Đà Nẵng, mở đầu việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam.

Ngày 26-6-1965, Oétmolen được Chính phủ Mỹ cho phép đưa quân Mỹ ra trận “khi nào thấy cần thiết”.

Ngày 17-7-1965, khi Giônxơn thông báo quyết định đưa 44 tiểu đoàn Mỹ vào miền Nam Việt Nam và chấp nhận chiến lược “tìm diệt” của Oétmolen, một quyết định đã “vượt quan ngưỡng cửa bước vào cuộc chiến tranh trên bộ ở châu Á”, thì cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới – giai đoạn “chiến tranh cục bộ”.

Tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, Mỹ nhằm thực hiện âm mưu:

– Nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo được chủ lực ta bằng chiến lược quân sự mới “tìm diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán đánh nhỏ, hoặc rút về biên giới, làm cho chiến tranh cách mạng tàn lụi dần.

– Mở rộng và củng cố hậu phương của chúng, lập đội quân “bình định” kết hợp hoạt động càn quét với các hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp; tung tiền, đổ của nhiều hơn nữa, cố thực hiện cho kỳ được “mặt trận thứ hai” nhằm “tranh thủ trái tim của nhân dân”, thực chất là giành lại dân (trước hết là nông dân ở vùng được giải phóng), bắt họ trở lại ách kìm kẹp tàn bạo của Mỹ – ngụy.

– Ỷ vào ưu thế quân sự với đội quân đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn chinh mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” tiến công đơn vị quân giải phóng ở Vạn Tường – Quảng Ngãi (8-1965). Tiếp đó, Mỹ mở liền hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân vào “đất thánh Việt cộng”.

Chiến lược “Việt Nam hóa” của Mỹ

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân, là đòn bất ngờ góp phần quyết định chiều hướng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm chấn động dư luận nước Mỹ và thế giới.

Sau đòn bất ngờ Tết Mậu Thân, phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi rút hết quân đội về nước của nhân dân dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ cũng ra quyết định đòi rút tất cả quân đội Mỹ ở Việt Nam về nước trong thời hạn ngắn nhất.

Lợi dụng tâm lí chống chiến tranh, mong muốn sớm chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và đổi mới tình hình chính trị – xã hội nước Mỹ, Níchxơn tung ra lời hứa chấm dứt chiến tranh trong vòng 6 tháng và sẽ có những thay đổi trong chính sách đối nội, đối ngoại của nước Mỹ, để mong trúng cử tổng thống trong kỳ bầu cử cuối năm 1968.

Sau khi trúng cử tổng thống, chính thức bước vào Nhà Trắng (đầu năm 1969), Níchxơn đã cho ra đời học thuyết mang tên mình – “Học thuyết Níchxơn” và tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Đông Dương.

“Học thuyết Níchxơn” với chiến lược quân sự tương ứng “Ngăn đe thực tế” được thay thế cho chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Kennơđi đã bị phá sản. Đề ra học thuyết mới, chiến lược toàn cầu mới, tập đoàn Níchxơn mưu toan khôi phục lại sức mạnh của Mỹ, cố giữ vai trò “sen đầm quốc tế”, vai trò lãnh đạo “thế giới tự do”, cố bám lấy những lợi ích đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.

“Học thuyết Níchxơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và Đông Dương, là nơi Mỹ đã từng dùng làm điểm khởi đầu thực hiện chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” (1961 – 1968) và cũng đã trở thành điểm kết thúc chiến lược đó. Học thuyết này được vận dụng cụ thể trong những chiến lược chiến tranh ở từng nước. Ở Việt Nam, đó là chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh; ở Lào – “Lào hóa” chiến tranh; ở Campuchia – “Khơme hóa” chiến tranh và trên toàn Đông Dương là “Đông Dương hóa” chiến tranh.

Chiến lược này được đề ra trên cơ sở điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Giônxơn. Chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh của Níchxơn giống chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Giônxơn ở chỗ: rút dần quân Mỹ ra khỏi Đông Dương, tránh những tổn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ, trong lúc vẫn bám giữ miền Nam Việt Nam.

“Việt Nam hóa” chiến tranh hay “phi Mỹ hóa” chiến tranh, như tên gọi của nó, về cơ bản, đó là cuộc chiến tranh giữa những người Việt Nam với nhau. Âm mưu cơ bản của Mỹ vẫn là “dùng người Việt đánh người Việt”, “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” với bom đạn, đôla Mỹ, do Mỹ chỉ huy và vì lợi ích của Mỹ.

Mỹ rút quân không chỉ ở lời tuyên bố như của Giônxơn (3-1968) mà cả trên thực tế, bắt đầu từ sau trận đòn Tết Mậu Thân (1968). Nhưng không phải vì thế mà cho rằng cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương đã “tàn lụi” dần. Trái lại, cuộc chiến tranh của Mỹ dưới thời Níchxơn càng được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương. Có điều khác với Giônxơn, là Níchxơn đã tận dụng triệt để xương máu của người bản xứ vào những mục tiêu chiến lược ở Việt Nam và Đông Dương. Với “Việt Nam hóa” chiến tranh, xương máu của người Mỹ có giảm, nhưng vai trò “cố vấn” của Mỹ ngày càng quan trọng, những điều kiện vật chất của Mỹ để thực hiện chương trình “Việt Nam hóa” chiến tranh ngày càng lớn.

Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của “Việt Nam hóa” chiến tranh, quân Mỹ vẫn còn giữ vai trò quan trọng, cùng với quân đội Sài Gòn là hai lực lượng chiến lược: quân Mỹ là chỗ dựa của quân đội Sài Gòn và của “Việt Nam hóa” chiến tranh còn quân đội Sài Gòn là công cụ chủ yếu để thực hiện “Việt Nam hóa” chiến tranh.

Để đạt được mục tiêu chiến lược của “Việt Nam hóa” chiến tranh, Níchxơn đưa ra thực hiện cùng lúc ba loại chiến tranh là “chiến tranh giành dân”, “chiến tranh hủy diệt”, “chiến tranh bóp nghẹt”, trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mỹ, kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt.

Khi triển khai chương trình “Việt Nam hóa” chiến tranh, một yêu cầu trọng tâm được các nhà chiến lược Mỹ nêu lên là bằng mọi cách “bình định”, cho được vùng nông thôn rộng lớn miền Nam, thực hiện cái gọi là “chiến tranh giành dân” (“tranh thủ nông dân chống lại Việt Cộng”).

Chính sách “bình định” trong tất cả các thời kì của cuộc chiến tranh được nâng lên thành “quốc sách”. Tuy nhiên, dưới thời Kennơđi và nhất là thời Giônxơn, vẫn lấy việc tiêu diệt các lực lượng cách mạng làm mục tiêu đầu tiên. Đến thời Níchxơn, “quốc sách bình định” được nâng lên thành lí luận và dùng làm cơ sở cho chiến lược “Việt Nam hóa”.

Để thực hiện cái gọi là “quốc sách bình định”, chính quyền Níchxơn đã giúp chính quyền Sài Gòn thiết lập một hệ thống chính trị và vũ trang ở cơ sở cho hoàn chỉnh, được huấn luyện theo kiểu thống trị của chủ nghĩa thực dân mới, tạo cho chính quyền Sài Gòn một cơ sở xã hội kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thực thi chương trình “cải cách tiền địa”, ban hành “Luật người cày có ruộng” (26-3-1970) nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột phong kiến, chuyển địa chủ sang kinh doanh tư bản chủ nghĩa, “giúp nông dân có ruộng đất để cày cấy”(!); phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, tạo lập chủ nghĩa tư bản ở nông thôn, xóa bỏ ảnh hưởng sâu rộng của cách mạng đối với nông dân, tăng cường bóc lột nông dân, xây dựng cơ sở kinh tế, chính trị và xã hội mới của chế độ thực dân mới của Mỹ.

Đi đôi với việc thực hiện chính sách “bình định”, Mỹ còn giúp chính quyền Sài Gòn xây dựng lực lượng quân chủ lực với hơn 1 triệu người, được huấn luyện đầy đủ, trang bị hiện đại để có thể “tự đứng vững”, “tự gánh vác chiến tranh” khi quân Mỹ rút hết về nước.

Quân đội Sài Gòn được tăng cường và hiện đại hóa để rồi biến thành “công cụ” của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa”. Đội quân này được sử dụng vào các cuộc hành quân càn quét chống phá cách mạng, xóa bỏ các căn cứ của quân giải phóng, hòng đẩy chủ lực quân giải phóng ra xa, cắt đứt con đường tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc. Quân đội Sài Gòn cùng với quân Mỹ, còn bị đẩy vào các cuộc hành quân xâm lược Lào và Campuchia.

Cũng như ở Việt Nam, Mỹ đẩy mạnh “chiến tranh đặc biệt” ở Lào. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Lào dưới hình thức “chiến tranh đặc biệt” bắt đầu từ thời Kennơđi, qua thời Giônxơn, đến thời Níchxơn thì được tăng cường phù hợp với “học thuyết Níchxơn”, gọi là “chiến tranh đặc biệt tăng cường” hay “Lào hóa” chiến tranh. Lực lượng tiến hành “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào là quân phỉ Vàng Pao và quân Viêng Chăn, ngoài ra có sự tham gia của quân Thái Lan và quân Sài Gòn. Còn Mỹ đóng vai trò cố vấn, trực tiếp chỉ huy và yểm trợ bằng hỏa lực và không quân.

Mở đầu cho hành động tăng cường “chiến tranh đặc biệt” ở Lào là cuộc hành quân lớn mang tên “Cù kiệt” (có nghĩa là gỡ danh dự) của lực lượng lớn quân phỉ Vàng Pao, quân Thái Lan và quân Sài Gòn do Mỹ trực tiếp chỉ huy, đánh chiếm vùng giải phóng Lào ở Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng.

Đồng thời với những hành động đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam và Lào, Mỹ còn mở rộng chiến tranh xâm lược Campuchia.

Ngày 18-3-1970, Mỹ làm cuộc đảo chính quân sự ở Campuchia, lật đổ Chính phủ trung lập Xihanúc, thành lập Chính phủ bù nhìn Lon Non, với hi vọng bằng cách đó sẽ cô lập được cách mạng Việt Nam. Tiếp đó, ngày 30-4-1970, Mỹ đưa hơn 10 vạn – vừa quân Mỹ vừa quân Sài Gòn, mở cuộc hành quân đánh chiếm Campuchia, nhằm cứu bọn Lon Non đang có nguy cơ sụp đổ, triệt phá cái mà chúng gọi là “đất thánh Việt cộng” trên đất Campuchia, biến nước này thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ, thực hiện ở đây một chiến lược chiến tranh mới phù hợp với “học thuyết Níchxơn” – chiến lược “Khơme hóa chiến tranh”.

Đi đôi với việc sử dụng sức mạnh tối đa của nước Mỹ vào những cuộc phiêu lưu quân sự mới ở Đông Dương, Níchxơn còn dùng nhiều thủ đoạn chính trị và ngoại giao nhằm đạt những mục tiêu của cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và mục tiêu của chiến lược toàn cầu phản cách mạng.

Lên nắm quyền, Níchxơn liền cho triển khai chiến dịch “ngoại giao toàn cầu”, đóng vai trò “sứ giải hòa bình” đi thương lượng với nhiều nước (trước hết là với các nước lớn) với mưu đồ lôi kéo họ, nhất là các nước đồng minh, vào hùa với Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, thực hiện cái gọi là “cùng chia sẻ trách nhiệm”; chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc; chia rẽ ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung; cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương với các nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn gần xa trên thế giới.

Theo Nhân Dân

Chiến tranh Việt Nam từ một góc nhìn

Mặc dù đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam 37 năm trước đây vẫn còn hết sức nặng nề. Những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh đó cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Nỗi đau khôn nguôi!

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã trút xuống hai miền Nam, Bắc Việt Nam một khối lượng bom lớn hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào do Mỹ thực hiện trước đó. Cuộc khủng bố đẫm máu ở Mỹ Lai, B52 rải thảm ở Khâm Thiên và chiến dịch rải chất độc da cam trên một diện tích rộng trong chiến tranh chỉ là số ít trong hàng nghìn tội ác mà quân đội Mỹ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.

Trong vụ thảm sát ở Mỹ Lai, lính Mỹ đã giết hại hơn 500 người, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Vụ việc đã từng bị cố tình che đậy gần hai năm trời, và chỉ sau khi báo chí điều tra ra, sự thật mới bị phơi bày. Nhiều tờ báo ở Mỹ lúc đó bình luận: “Nước Mỹ và người Mỹ không thể không gánh nặng cảm giác tội lỗi và sự day dứt của lương tâm trước những gì diễn ra ở Mỹ Lai”.

Và cũng tương tự như vậy, cho đến hôm nay, nỗi kinh hoàng trong vụ thảm sát phố Khâm Thiên – khu phố đông dân nhất của Hà Nội, tháng 12-1972 bằng bom B52 của không lực Hoa Kỳ vẫn chưa phai mờ trong tâm trí mỗi người dân Hà Nội. Chỉ trong đêm 26-12-1972, toàn bộ 6 khối phố của Khâm Thiên bị phá huỷ, gần 2.000 ngôi nhà bị sập, trong đó có 534 căn nhà sập hoàn toàn. Bom B52 đã cướp đi 283 sinh mạng, trong đó có 40 cụ già, 91 phụ nữ, 55 trẻ em, làm bị thương 266 người. Nhiều gia đình không còn ai sống sót. Tại Bệnh viện Bạch Mai, nhiều phòng bệnh đã bị bom Mỹ đánh sập cùng với các bệnh nhân và nhân viên y tế. Hồi tưởng lại những gì đã xảy ra ngày đó, một nạn nhân sống sót đã bày tỏ, chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, nhưng mỗi lần đến ngày lễ Giáng sinh, ông lại thấy đau âm ỉ trong lòng vì cảnh tang thương ngày ấy. Giờ đây, sau gần 40 năm, những dấu tích chiến tranh dường như không còn nữa, nhưng bức tượng người phụ nữ bồng xác đứa con thơ đứng đau đớn, lặng lẽ trên phố Khâm Thiên sẽ là một bằng chứng chiến tranh còn lại mãi với thời gian. Năm đó, Đức Chúa trời hẳn đã chứng kiến một mùa Giáng sinh đau thương ở Hà Nội và buồn ở Oa-sinh-tơn.

Chưa hết, có lẽ dã man nhất là việc quân đội Mỹ sử dụng chất độc màu da cam/dioxin dội xuống các chiến trường miền Nam Việt Nam. Những hậu quả của chất dioxin đối với người Việt Nam đến nay vẫn còn hết sức nặng nề với khoảng 4,8 triệu nạn nhân bị ảnh hưởng và 150.000 trẻ em bị dị dạng ngay từ khi mới sinh ra. Hậu quả bi thảm này không biết sẽ kéo dài đến bao giờ và qua bao nhiêu thế hệ. Trong tuyên bố phản đối Tòa án Tối cao Hoa Kỳ bác đơn thỉnh cầu của các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam ngày 2-3-2009, Hội đồng Hòa bình Mỹ khẳng định: đây là sự vi phạm thô bạo của quân đội Mỹ về quyền con người, một tội ác nghiêm trọng chống lại loài người, đồng thời lên tiếng phê phán chính quyền và các công ty hóa chất Mỹ đã lẩn trốn trách nhiệm và che dấu sự thật trước dư luận.

Nhắc lại những ký ức đau thương trong chiến tranh, người viết bài này không nhằm khơi lại mối thù đã qua, mà chỉ nhằm khẳng định một điều: bạo lực và chiến tranh không phải là phương thức giải quyết các vấn đề của thế giới đương đại.

Chiến tranh đã thực sự kết thúc?

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, có khoảng 58.000 lính Mỹ bị thiệt mạng, hơn 300.000 người lính khác bị tàn phế, mang trong mình thương tật và di chứng da cam/dioxin. Nước Mỹ đã tiêu tốn trên 900 tỉ USD cho cuộc chiến tranh (cả trực tiếp và gián tiếp), một cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ mà không thu được một kết quả nào ngoài sự thất bại ê chề.

Điều đáng nói ở đây là, mặc dù chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, nhưng những mặc cảm tội lỗi, những lý giải về sự thất bại của quân đội Mỹ vẫn canh cánh trong lòng nước Mỹ.

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 50.000, tức là 15% trong số lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam trở về vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Một số do mặc cảm về những tội ác gây ra cho người dân Việt Nam, khi họ cầm súng bắn giết những con người vô tội, trong tay không một tấc sắt để tự vệ. Số khác, cho đến nay vẫn không hiểu lý do vì sao mình lại phải cầm súng “chiến đấu” tại Việt Nam, chiến đấu với ai và chiến đấu vì cái gì?

Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là hai trong số hàng chục nghìn người bị dăn vặt trong cảm giác tội lỗi. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn”, và, “Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”.

Cũng giống như Jim Doyle, cựu nhân viên tình báo Mỹ David Curry cũng không thể thoát khỏi những sợ hãi, căng thẳng về tâm lý khi hồi tưởng về quá khứ chiến tranh. Đến nay, ông vẫn không tin mình đã từng tham chiến tại Việt Nam. Nó như một giấc chiêm bao, chợt đến, chợt đi. Ông nói: “Tất cả những hồi tưởng của quá khứ vẫn còn nguyên vẹn trong tôi cho đến ngày nay và nó khiến tôi thực sự xúc động. Không một người nào ở thế hệ chúng tôi từng sống những ngày tháng đó lại không xúc động, dù có nhiều khi tôi không tin rằng chúng tôi từng có thời gian ở đó”.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ngày càng có nhiều hồi ký chiến tranh Việt Nam với những lời thú tội và sám hối thật lòng xuất hiện ở Mỹ. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại chiến trường xưa để tìm cách làm vơi đi những mặc cảm tội lỗi. Trường hợp của hai anh em nhà Frederic Whitehurst (còn gọi là Fret) với hành trình 35 năm lưu giữ cuốn nhật ký của liệt sỹ bác sỹ Đặng Thùy Trâm và cuộc hành trình 39 năm lưu giữ kỷ vật của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm của cựu binh Hom-mơ Xtet-đi chỉ là những ví dụ điển hình về sự sám hối tội lỗi. Nhiều tờ báo ở Mỹ đánh giá, đối với những người Mỹ, việc phổ biến quyển nhật ký Đặng Thùy Trâm do cựu sỹ quan Hoa Kỳ Frederic Whitehurst từng tham chiến tại Việt Nam lưu giữ trong mấy chục năm qua và những cuộc hội ngộ đầy cảm động giữa ông và gia đình bác sỹ Đặng Thùy Trâm tại Hà Nội ”đã giúp khép lại một phần nào đó nỗi đau của một thế hệ người Mỹ mang trên mình vết thương chiến tranh”. Còn Hom-mơ, sau khi bắn chết và chôn cấtchiến sỹ giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm trong một vụ đụng độ giáp lá cà (ngày 18-3-1969 tại chiến trường Gia Lai) đã đem kỷ vật của người chiến sỹ này về nước Mỹ và gìn giữ suốt 39 năm. Sau những năm sống trong nỗi ám ảnh, người cựu binh này đã quay lại Việt Nam, tìm về gia đình chiến sĩ Đảm để tạ tội và xin được đi tìm hài cốt chiến sĩ Hoàng Ngọc Đảm. Và, ông ta đã khóc bên nấm mồ của người chiến sỹ giải phóng quân. Những giọt nước mắt thành thật và đầy hối hận giữa rừng núi âm u thật thê thảm, nhưng nó đã giúp người cựu binh già này phần nào vơi đi những ám ảnh tội lỗi hành hạ ông bấy lâu nay.

Các nhà xã hội Mỹ xác nhận, kể từ sau năm 1973 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam tự sát do mặc cảm tội lỗi bằng những cách thức ghê rợn.

Vết thương chiến tranh Việt Nam vẫn len lỏi tới từng gia đình Mỹ, che phủ hành lang quyền lực tại Oa-sinh-tơn và chia rẽ xã hội Mỹ. Cựu phóng viên chiến trường G.Gan-lô-guây (J.Galloway) nói: hãy hỏi chuyện các gia đình vừa đón hài cốt cha anh họ trở về, hãy gặp những người ngày đêm đến đứng trước bức tường tưởng niệm lính Mỹ tại Oa-sinh-tơn, hãy đến thăm những cựu binh bị thương tật, bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam để xem chiến tranh đã thực sự chấm dứt hay chưa?

Hình ảnh chiếc trực thăng đưa những người Mỹ cuối cùng rời khỏi nóc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn buổi trưa ngày 30-4-1975 vẫn ám ảnh nước Mỹ cho đến hôm nay. Đối với họ, cuộc chiến tranh này vẫn còn chưa thực sự kết thúc vì những hậu quả nó để lại thật sâu sắc và dai dẳng.

Bài học nào rút ra từ sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến?

Một bài học quan trọng được rút từ cuộc chiến tranh Việt Nam là “văn hóa súng đạn” phương Tây không thể khuất phục được văn hóa truyền thống phương Đông.

Trong cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tháng 3-2007 tại tiểu bang Tếch-dát, các học giả Mỹ đã phân tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh này, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết luận: sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến trường. Không ai phủ nhận sức mạnh số một về kinh tế, quân sự, kỹ thuật của Mỹ. Nhưng, đó không phải là sức mạnh vô địch.

Lịch sử chiến tranh đã chứng minh, sức mạnh của đồng đô-la và bom đạn Mỹ không khuất phục được tinh thần yêu nước và truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Học giả Giêm Bru-tơn phát biểu, những nỗ lực của Hoa Kỳ ở Việt Nam phản ánh sự thiếu chuẩn bị về văn hóa cho chiến trường. Đây chính là một phần của văn hóa Mỹ, vốn không chú trọng tới yếu tố văn hóa trong các cuộc xung đột quốc tế. Còn học giả Vê-rôn nhận xét, từ cuộc chiến Việt Nam, có thể rút ra một trong những bài học quí giá là cần phải hiểu rõ kẻ thù của mình… Điều đó người Mỹ đã không làm được ở Việt Nam nên phải gánh chịu nhiều thương tổn.

Thế giới đã bước sang giai đoạn mới của lịch sử, trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại; tư duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở nên lỗi thời. Lịch sử chiến tranh khẳng định với nhân loại một điều: chiến tranh và bạo lực cường quyền không giải quyết được vấn đề gì ngoài việc khoét sâu hận thù giữa các dân tộc và chia rẽ thế giới. Tuy nhiên, các thế lực hiếu chiến không nghĩ như vậy, họ vẫn đang xoay xở mọi cách để gây ra các cuộc chiến tranh nhằm trục lợi từ những cuộc chiến đó. Vì thế, những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình vẫn luôn là mục tiêu và khát vọng cháy bỏng của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới./.

Trần Minh Tơn (theo TCCS)

Đế quốc Mỹ rúc xuống hầm – Chủ tịch Hồ Chí Minh (bút hiệu Chiến sĩ)

Đế quốc Mỹ rúc xuống hầm (26-7-1964)

Để kỷ niệm ngày Hiệp định Giơnevơ, từ đầu tháng 7, đồng bào miền Nam đánh liên tiếp nhiều trận thắng to:

– 1-7, ở Bình Định, Quân giải phóng phục kích phá gọn 41 xe quân sự địch. Lý thú là ngay sau đó lại buộc sáu xe tiếp viện của địch đâm đầu xuống hố sâu.

– 4-7, ở Plây Crông, quân du kích đã đánh tan một trại lính đặc biệt do 12 tên Mỹ chỉ huy và tiêu diệt 470 tên địch.

– 6-7, ở Nam Đông (Thừa Thiên), du kích lại đánh tan một trại lính đặc biệt cũng do 12 tên Mỹ cùng một tên Úc chỉ huy và đã tiêu diệt 350 tên địch.

– 8-7, du kích lại phá tan một trại lính đặc biệt ở Plây Giêrông, gần Plây Crông, địch chết và bị thương rất nhiều.

– 10 và 11-7, ở Cần Thơ, Quân giải phóng đánh đồn Vịnh Chèo, quân địch đến cứu đồn thì bị Quân giải phóng phục kích và tiêu diệt hơn 600 tên (360 tên chết).

– 12-7, để càn quét Tân An, Chợ Lớn, địch dùng 2.000 binh sĩ, 40 máy bay, 13 tàu chiến, 250 xe quân sự… Lực lượng vũ trang nhân dân đã tiêu diệt 300 tên.

– 19-7, ở Trà Vinh, du kích đánh phá đồn Phong Thạnh. Lý thú là sau đó, bọn chỉ huy Mỹ và bù nhìn ngơ ngác hỏi nhau: “Không biết 97 lính bảo an giữ đồn đã biến đi đâu mất?”. Họ đã đi theo quân du kích, chứ đi đâu!

– 20-7, ngày Hiệp định Giơnevơ, Quân giải phóng đánh đồn Gò Quao ở Rạch Giá, tiêu diệt 300 tên địch.

*
* *

Nǎm nọ, mồ ma tổng Ken nói: Trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu ở Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đang “ở trong đường hầm không thấy lối ra”. Đó là một cách nói ví dụ, để nêu rõ tình trạng đen tối của đế quốc Mỹ. Nhưng hiện nay thì chúng thật sự rúc xuống hầm. Xin bà con xem tin tức sau đây thì rõ:

Hãng Mỹ UPI (17-7-1964) viết: “Một chiến dịch ác liệt đang hình thành ở Trung Bộ giữa lực lượng “đặc biệt thiện chiến” của Mỹ và Việt cộng trên con đường mòn Hồ Chí Minh… Các sĩ quan Mỹ đã thú nhận rằng họ buộc phải chuyển vào giai đoạn phòng ngự… 600 lính rừng đặc biệt của Mỹ đang tǎng viện sẽ cho phép Mỹ giành lại thế chủ động từ tay Việt cộng. Số lính rừng đó điều khiển hơn 40 đồn trại chống du kích rải rác trên đường mòn Hồ Chí Minh. Tuy vậy, cộng sản đã đánh những cú mạnh mẽ vào mấy đồn trại quan trọng (UPI kể lại những trận quân du kích tiêu diệt các trại lính đặc biệt ở Plây Crông, Nam Đông và Plây Giêrông). Tư lệnh Mỹ đã bảo những viên chỉ huy các trại rằng ban đêm tất cả những quân nhân Mỹ phải ngủ dưới hầm, có đắp đất, chèn gỗ hoặc sắt để tránh đạn moócchê…”.

Thế là hãng Mỹ UPI cũng phải thú nhận rằng:

– Quân du kích giữ quyền chủ động.

– Quân Mỹ và tay sai là bị động.

– Cái gọi là “Lực lượng đặc biệt thiện chiến” của Mỹ liên tiếp bị thua to.

– Các ngài quân nhân Mỹ “to” gan như cáy, chưa tối đã rúc xuống hầm.

Lại thêm chứng cớ rõ ràng,

Đồng bào miền Nam càng đánh càng mạnh và càng thắng to.

Chiến sĩ

—————–

Báo Nhân dân, số 3770, ngày 26-7-1964.

Chiến tranh Việt Nam: ‘Tổng thống’ Nguyễn Văn Thiệu ăn vạ chủ Mỹ

Đây là tập tin âm thanh có chứa nguyên văn phát biểu từ chức của “tổng thống” chính phủ bù nhìn Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu. Trong hồ sơ này, chúng ta có thể thấy sự cay cú, ấm ức khi ông Thiệu không còn được chỉ định là tổng thống bù nhìn của ông chủ Mỹ.

Cao trào đến khi ông Thiệu bất lực không thể kiểm soát cảm xúc của mình, ông tỏ ra “đau đớn”, tuyệt vọng, ông bắt đầu khóc, rên rỉ, đổ lỗi cho ông chủ của mình. Thiệu sử dụng một số từ rất cay đắng khi nói về ông chủ của mình: Thất hứa, không công bằng và vô nhân đạo.

Chính phủ Hoa Kỳ đã chăm sóc nuôi nấng và cung cấp các công cụ chiến tranh cho Thiệu và đưa Thiệu lên khi ông chỉ là một trung tá “quèn”, sau đó chính phủ đế quốc Mỹ đưa lên Thiệu và ông ta đã trở thành một con rối, một con búp bê được gọi là “tổng thống”. Sau đó, ông ta đã trở thành một tỷ phú vì công việc này như là một lao động chính trị.

Bên cạnh đó bạn sẽ nghe bài phát biểu hết hơi của ông già Trần Văn Hương và cũng nghe bài phát biểu đầu hàng vô điều kiện của ông Dương Văn Minh (“tổng thống” cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn).

Trong tập tin âm thanh này, bạn sẽ nghe một bài hát đặc biệt và hiếm hoi mà không còn phổ biến: “Thành phố Hồ Chí Minh, giữa Thành phố tên vàng”, sáng tác bởi nhạc sĩ Thanh Phúc ngay lập tức sau khi thành phố Sài Gòn được giải phóng.

Tập tin âm thanh được ghi lại 15 năm trước đây từ các đài phát thanh Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, bây giờ chúng tôi đăng này trên YouTube và rất vui khi được chia sẻ với tất cả các bạn.

PTV: Lời nói của “tống thống” Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 21 – 4 – 1975. Các bạn đã thấy là những đồng tiền viện trợ của Mỹ có tầm quan trọng như thế nào đối với sự tồn tại của ngụy quyền Sài Gòn. Và không còn được người Mỹ cho tiền nữa thì Nguyễn Văn Thiệu đã tức tối như thế nào. Đây là lời của Nguyễn Văn Thiệu trong ngày 21/4/1975.

NVT: Người Mỹ đánh giặc ở đây không đánh được, đi về. Đặt ra một cái chương trình Việt Nam hóa, chúng ta chấp nhận, rồi cũng hổng “Việt Nam hóa”. Hổng “Việt Nam hóa” rồi, hứa rằng Cộng Sản xâm phạm thì sẽ  phản ứng, hổng phản ứng. Thì chỉ còn một cái chuyện tối thiểu là đưa đồ cho người ta đánh, mà không đưa. Thì thử hỏi cái đó là cái gì?

Thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo đối với 1 “đồng minh” đang chịu đau khổ triền miên. Trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc.

Sở dĩ tôi từ chức hôm nay là bởi vì hôm nay, bên quốc hội Hoa Kỳ đưa vấn đề viện trợ ra mổ xẻ. Tôi nghĩ rằng hành động tôi từ chức hôm nay biết đâu ngày mai. Từ cái chỗ nó lên 300 nó lên 722 hay là lên 1 tỷ mấy. Rồi tới tấp cầu hàng không chở xe, tăng, đạn, pháo không còn ông Thiệu ở đây viện trợ, viện trợ, viện trợ. Tôi hi vọng như vậy.

Để coi thử, quốc hội Huê Kỳ có đồng ý. Tôi cũng hy vọng rằng trong tình thế quân sự căng thẳng tại quân khu 3, quân khu 4. Ông Thiệu đi rồi và ông tổng thống Hương thì biết đâu còn 3 – 4 ngày, còn 1 tuần thì cái chuyện đó có thể làm được.

Nếu tôi để ngày mai ngày mốt mà tôi mới từ chức, rồi Cộng Sản nó khởi sự tấn công thì e rằng nó đã quá trễ, lúc đó nó quá dở, trễ quá rồi làm hỏng được. Mà Huê Kỳ, quốc hội Huê Kỳ cứ viện trợ 350, “Trời phải sớm chút, này trễ quá rồi 350 không thể lên 722 được.” Không sớm hơn, cũng không trễ hơn.

Bởi vì tôi nghĩ rằng, cái thời gian tính từ hôm nay có thể thay đổi được cục diện quân sự tại chiến trường miền Nam.

PTV: Sự hy vọng của ông Nguyễn Văn Thiệu đặt vào người kế thừa chức “tổng thống” là ông Trần Văn Hương. Một ông lão già yếu, nhưng ông Trần Văn Hương vẫn tỏ ra bốc đồng. Và đây là lời tuyên bố “xanh rờn” của ông TVH vào lúc “nhậm chức tổng thống”.

TVH: Tôi xin hứa với anh em tất cả, ở trong quân đội. Là ngày nào, anh em còn chiến đấu tôi cũng luôn đứng bên cạnh anh em. Và ngày nào chẳng may “đất nước” không còn. Thì cái đống xương khô của tôi sẽ nằm bên cạnh đống xương của tất cả anh em chiến sĩ. Đó là cái nguyện vọng tha thiết của tôi. Suốt cả đời tôi.

PTV: Truyền chức vụ “tổng thống” lại cho đại tướng Dương Văn Minh. Vào thời điểm ấy, trong giới chóp bu của ngụy quyền Sài Gòn đã diễn ra một tình cảnh hết sức hỗn loạn. Trước hết là vì sự bỏ chạy của nhiều nhân vật quan trọng trong chính quyền Sài Gòn. Sự bó tay của Mỹ và sự tan ra nhanh chóng của quân đội, chính vì thế những kẻ ngoan cố hi vọng là tướng Dương Văn Minh sẽ lên tạo ra một sự chuyển biến nào đó.

Cũng vào chiều 28/4 ấy, trong lời tuyên bố nhậm chức tổng thống Dương Văn Minh đã kêu gọi quân đội “bảo vệ lãnh thổ” và không buông vũ khí, chiến đấu tới cùng. Nhưng, cũng trong chiều 28/4, một sự kiện quân sự quan trọng đã tạo ra một tác động làm rung động cả Sài Gòn.

Đó là biên đội máy bay A-37, 5 chiếc do đồng chí Nguyễn Thành Trung chỉ huy đã cất cánh từ sân bay Thành Sơn đã ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Tiếng nổ và những cột khói cao bốc lên từ sân bay Tân Sơn Nhất làm rung chuyển cả SG. Và cũng chính tiếng bom rung chuyển ấy đã đẩy địch vào một cơn hoản loạn mới khiến cho lời kêu gọi của “tổng thống” Dương Văn Minh trở nên vô nghĩa.
5h sáng ngày hôm sau, 29/4/75 tiếng súng tấn công vào đô thành SG đã nhất loạt nổ vang dội ở các vùng xung quanh Sài Gòn. Các đoàn quân hừng hực khí thế tiến công từ 4 phương 8 hướng tiến về Sài Gòn. Các binh đoàn bộ đội ta nhanh chóng tiêu diệt các cánh quân địch ngăn chặn và phản kích. Tiến thẳng về các mục tiêu đã được định sẵn.

Sáng 30/4, trong thế thua đã quá rõ, chính quyền ngụy xin ngừng bắn nhưng quân ta vẫn kiên quyết tấn công. Các hướng tiến công nhanh chóng chiếm mục tiêu. Vào lúc 11h30p ngày 30/4/1975, xe tăng của bộ đội ta đã húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, lá cờ quân giải phóng tung bay trên nóc dinh. Toàn bộ nội các của tổng thống DVM đã ngồi đợi sẵn để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Trong những ngày lịch sử trọng đại ấy, cùng với các đoàn quân tiến về SG các cán bộ phóng viên của đài phát thanh Sài Gòn giải phóng nay là đài tiếng nói nhân dân Tp.HCM của chúng ta cũng bám chắc những sự kiện lịch sử của những ngày lịch sử ấy.

Cũng chính trên làn sóng mà các bạn đang nghe hôm nay đã phát đi lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của “tống thống” Dương Văn Minh và đây xin các bạn nghe trích, giới thiệu lại một trong những phóng sự đầu tiên được phát sóng trên phát thanh SGGP nay là đài tiếng nói nhân dân Tp.HCM vào những phút đầu tiên mà thành phố SG được giải phóng. Phóng sự này phản ánh tuyên bố đầu hàng của “tổng thống” DVM do xướng ngôn viên Thanh Giang trình bày.

XNV1: Đây là đài phát thanh SGGP

XNV2: Đây là đài phát thanh SGGP

XNV1: Tiếng nói của nhân dân SG Gia Định

XNV2: Phát thanh từ Sài Gòn

XNV2: Các bạn thân mến, ngày 30/4/1975, chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đã toàn thắng. Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng. Hồi 13h30 ngày 30/4/1975, “tổng thống” ngụy quyền Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Đây là tiếng nói của Dương Văn Minh.

DVM: Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, “tổng thống” chính quyền Sài Gòn kêu gọi “quân lực Cộng Hòa” hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện trên giới tuyến miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn.

XNV2: Sau khi tuyên bố đầu hàng không điều kiện, Dương Văn Minh, “tổng thống” ngụy quyền, Nguyễn Văn Quyền, “phó tổng thống”, Vũ Văn Mẫu, “thủ tướng”, cùng hàng chục nhân vật cao cấp khác trong bộ máy ngụy quyền, đã được đưa đến nhà khách dinh tổng thống ngụy trước đây.

PTV: Thưa các bạn. Đó là những tiếng nói đầu tiên của làn sóng đài chúng tôi trong những ngày đầu miền Nam hoàn toàn giải phóng. Thấm thoát đó mà đã 18 năm trôi qua, có lẽ các bạn cũng sẽ có một tâm trạng như chúng tôi khi nghe xong đoạn trích bài phóng sự nói trên, đó là thời gian trôi đi nhanh quá, 18 năm mà mới tưởng như là ngày hôm qua, quả thật lịch sử và thời gian đã làm chúng ta cảm thấy tự hào hơn với những gì mà dân tộc ta đã làm trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước. Cảm giác ngắn ngủi và gần gũi của những sự kiện lịch sử nhắc chúng ta một điều: Lịch sử oanh liệt của các thế hệ đi trước vẫn sống với mỗi chúng ta và chúng ta là những người có trách nhiệm viết tiếp một chương mới vào biên niên sử của dân tộc, đó là chương xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh. Phải không thưa các bạn?

Theo Blog Việt Luận

Những mẩu chuyện bên lề Hội nghị Paris về Việt Nam

Những mẩu chuyện bên lề Hội nghị Paris


Ông Henry Kissinger trong một giây “tự nhiên chủ nghĩa”.

Trong gần 5 năm đàm phán về Việt Nam tại Paris, ngoài những chuyện “đao to búa lớn”, còn có không ít những tình huống thú vị đã trở thành giai thoại như chuyện ông Kissinger bị “ăn” mắng, chuyện cái nhẫn của ông Lê Đức Thọ…

Trên bàn thương thuyết với Mỹ, hai ông Xuân Thủy và Lê Đức Thọ quả là cặp bài trùng, lúc người này “nhu” thì người kia “cương” và ngược lại. Trong đó, phần nhiều cố vấn Lê Đức Thọ sắm vai “cương”. Không ít lần ông đã đập bàn, nổi cơn thịnh nộ ngay trước mặt ông Kissinger. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ bị rơi vào tình huống “quá đà”.


Kissinger – Lê Đức Thọ và cuộc đấu trí tại Paris.

Ngày 21/8/1968 diễn ra một cuộc gặp bí mật giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), giữa một bên là Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và một bên là Averell Harriman (nhà ngoại giao kỳ cựu của Washington), Cyruc Vance (luật sư, cựu thứ trưởng Quốc phòng Mỹ). Hôm đó, nụ cười thường trực của ông Xuân Thủy bỗng biến mất khi đại diện Mỹ Harriman đơn phương đòi có đại diện của chính quyền Sài Gòn trên bàn đàm phán.

Hà Nội từ chối thẳng thừng đề nghị trên của Washington và ngay lập tức Harriman tuyên bố: “Nếu thế bom sẽ lại rơi trên đầu các ông”. Bộ trưởng Xuân Thủy mặt đanh lại: “Ông dọa đấy à? Ném bom trở lại sao? Chúng tôi sẵn sàng đánh lại!”. Còn cố vấn Lê Đức Thọ có vẻ “nhu” hơn mà rằng: “Ông dọa bằng chiến tranh không được đâu! Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi, còn lạ gì nhau”. Đại diện Mỹ Harriman ngồi lặng thinh một lát rồi lẩm bẩm: “Tôi xin rút cái câu nói bom lại rơi trên đầu các ông…”

Lê Đức Thọ đã “mắng” Kissinger

Ngày 8/1/1973, vòng đàm phán bốn bên tại Paris được nối lại sau trận “Điện Biên Phủ trên không”, sau khi Mỹ xoay ngược những gì đã thỏa thuận khiến hiệp định ngày 20/10/1972 không thể ký kết được. Trở lại Paris với tư cách là người chiến thắng, ông Lê Đức Thọ đề nghị cả đoàn VNDCCH không ra cửa đón đoàn Mỹ như thông lệ.


Cố vấn Lê Đức Thọ gặp Kissinger.
Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như “lừa dối”, “ngu xuẩn”, “tráo trở”, “lật lọng”… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được gì cả. Mãi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hãy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đã mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ còn các nhà báo họ còn dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

Lần khác, ông Kissinger lại hỏi: “Bây giờ ông cố vấn đàm phán với tôi nói như mắng tôi. Thế còn sau này kết thúc đàm phán, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình rồi thì ông cố vấn mắng ai? Ngài có mắng cán bộ của mình như mắng tôi không?”. Cố vấn Lê Đức Thọ điềm nhiên: “Tôi chỉ nói lên tiếng nói của nhân dân tôi thôi. Cán bộ của tôi có quay quắt lật lọng tráo trở đâu mà tôi phải mắng!”.

Chiếc nhẫn đặc biệt của cố vấn Lê Đức Thọ

Trong các cuốn hồi ký, ông Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt của phái đoàn VNDCCH Lê Đức Thọ. Ông này thừa nhận Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo.


Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ.
Ông nhớ như in giây phút đầu tiên gặp nhà ngoại giao Việt Nam ngày 21/2/1970. Ông miêu tả Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, dáng vóc đường bệ, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ. Nhưng có một chi tiết mà không bao giờ thấy ông Kissinger nhắc đến trong hồi ký là chiếc nhẫn sáng bóng mà cố vấn Lê Đức Thọ luôn đeo trong mỗi lần thương thảo. Đơn giản, nó là chiếc nhẫn được gò từ mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam!

Câu chuyện về cái bàn đàm phán

Hội nghị Paris thực sự là cuộc “chạy việt dã” của các nhà ngoại giao Việt Nam. Ngay chuyện hình thù của chiếc bàn mà các đoàn sẽ ngồi đàm phán cũng khiến Hà Nội và Washington phải mất hàng tháng tranh cãi. Phía Việt Nam gọi là cuộc họp bốn bên còn phía Mỹ cứ khăng khăng đó là cuộc họp hai phía. Do sự khác biệt về khái niệm như vậy nên đã gây ra tranh cãi xung quanh cái bàn.


Cuối cùng cái bàn tròn được chấp nhận.
Việt Nam cho rằng đi vào đàm phán bốn bên, các đoàn phải được bình đẳng, độc lập với nhau. Hơn nữa, do yêu cầu đề cao vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN), Hà Nội đề nghị một bàn vuông, bốn đoàn ngồi bốn cạnh. Trong khi đó, phía Mỹ đưa ra nhiều “sáng kiến” để thể hiện khái niệm hai phía của họ. Lúc đầu họ đề ra cái bàn chữ nhật: phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, VNDCCH và MTDTGPMNVN ngồi một bên.

Tiếp đó Mỹ gợi ý ra ba kiểu bàn khác:

– Hai bàn hình cung đối diện, không tách rời nhau.

– Hai nửa vòng tròn đối diện, tách rời nhau.

– Hai nửa vòng tròn đối diện, ở giữa có khoảng cách, hai đầu có hai bàn chữ nhật cho thư ký ngồi.

Phía VNDCCH đề nghị lấy kiểu bàn thứ hai của Mỹ nhưng không tách rời mà ghép lại thành một bàn tròn. Hai bên cứ thế tranh cãi hết hai tháng cuối năm 1968 vẫn chưa ngã ngũ. Sang tháng giêng năm 1969 vẫn chưa quyết định được vì Mỹ vẫn cố nghĩ ra các kiểu bàn khác nhau để “nhấn” khái niệm đàm phán hai phía của họ. Cuối cùng hai bên đã đồng ý với gợi ý của đại sứ Liên Xô tại Pháp là Oborenko ngày 15/1/1969:

– Về cách sắp xếp chỗ ngồi: Sẽ là một bàn tròn phẳng lì, có hai bàn chữ nhật kê cách bàn tròn 0,45 mét đặt ở hai điểm đối diện nhau, dành cho thư ký.

– Không có cờ và biển của các đoàn trên bàn đàm phán.

– Thứ tự phát biểu sẽ được quyết định bằng cách nhờ nước chủ nhà Pháp rút thăm cầu may, phía nào thắng sẽ được phát biểu trước. Cuối cùng, để cho được việc và giải quyết cho xong vấn đề thủ tục, đoàn Việt Nam để Mỹ phát biểu trước nhưng nói rõ là không chấp nhận quan điểm “hai phía” của Washington.

Afghanistan từng được xem xét làm địa điểm đàm phán về Việt Nam


Thủ đô Paris đã được chọn là nơi đàm phán.
Tối 4/4/1968, sứ quán Mỹ tại Vientian, Lào, thông báo cho sứ quán Việt Nam là Washington đề nghị cuộc tiếp xúc hai bên sẽ diễn ra tại Geneva, Thụy Sĩ. Việt Nam đề nghị lấy thủ đô Phnom Penh của Campuchia nhưng Mỹ không chấp nhận. Họ đưa ra gợi ý về bốn địa điểm khác là: New Delhi (Ấn Độ), Jakarta (Indonesia), Vientian (Lào) và Rangoon (Myanmar).

Hà Nội không đồng ý với địa điểm nào và đề nghị lấy Vacsava của Ba Lan làm nơi hội họp. Ban đầu, Mỹ chấp nhận nhưng sau đó họ khó chịu vì tin đó bị lộ ra ngoài và đưa ra một danh sách gồm 10 địa điểm khác: Kabul (Afghanistan), Colombo (Sri Lanka), Kathmandu (Nepal), Kuala Lumpur (Malaysia), Rawalpindi (Pakistan), Tokyo (Nhật Bản), Bruxelles (Bỉ), Helsinki (Phần Lan), Vienne (Áo) và Rome (Italy).

Cuộc trao đổi của hai bên về địa điểm tiếp xúc diễn ra gần một tháng trời đã thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế. Cuối cùng, ngày 2/5/1968, Việt Nam đề nghị lấy Paris làm nơi đàm phán. Mỹ chấp nhận.

Cờ giải phóng của Việt Nam cắm trên nóc Nhà thờ Đức Bà Paris


Nhà thờ Đức Bà Paris.
Để chào mừng phái đoàn MTDTGPMNVN đến Paris dự Hội nghị, đêm ngày 19/1/1969 ai đó đã leo lên tòa tháp cao nhất của Nhà thờ Đức Bà Paris để treo lá cờ của mặt trận. Sớm hôm sau, rất nhiều người đã tập trung xung quanh nhà thờ để chiêm ngưỡng sự kiện có một không hai đó. Cảnh binh Pháp phải huy động cả trực thăng tới để gỡ lá cờ đi. Suốt mấy ngày sau, báo chí Pháp vẫn còn bàn tán về hình ảnh hi hữu nói trên.

Trước sự kiện này, chính quyền Sài Gòn tố cáo quân giải phóng đã “lợi dụng lòng mến khách của người Pháp để treo lá cờ làm ô uế thánh đường cao quý nhất nước Pháp”. Nhưng vị giám mục có trách nhiệm tại Nhà thờ Đức Bà Paris lại tuyên bố, việc treo cờ đó không hề xâm phạm đến tín ngưỡng.

Cố vấn Mỹ khoái rượu nút lá chuối khô của Việt Nam


Ông Kissinger (phải) và Tổng thống Mỹ Nixon năm 1972.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ngày 8/2/1973 ông Henry Kissinger sang thăm Hà Nội. Ra đón cố vấn Mỹ không phải ai khác chính là người quen biết cũ của ông: cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ. Ông đã đưa Kissinger tới thăm Viện bảo tàng lịch sử. Khi nghe giới thiệu dân tộc Việt Nam đã ba lần chiến thắng quân Nguyên, ông Kissinger thốt lên: “Với chúng tôi một lần đánh nhau với các ông cũng thấy là quá đủ!”.

Trong bữa cơm tiễn, được thưởng thức thứ rượu nếp cái hoa vàng cất ở vùng quê Nam Định, cố vấn Mỹ Kissinger cứ gật gù mãi và sung sướng ra mặt khi cố vấn Lê Đức Thọ bảo thư ký tặng cho ông ta hai chai rượu trong văn vắt, nút lá chuối khô.

Đình Chính (VNE)

Hoa Kỳ đã ‘bán’ quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc như thế nào?

Hoa Kỳ đã “bán” quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc như thế nào?

Lâu nay vấn đề Mỹ dâng nhượng Hoàng Sa cho TQ năm 1974 là thuộc dạng “bí mật ai cũng biết”, tuy chưa được giải mật chính thức do các lý do nhạy cảm chính trị, nhưng các thông tin này lâu nay đc nhiều sự gián tiếp thừa nhận từ ngay các nhân chứng trong chính quyền và quân đội SG. Quan trọng nhất là các thông tin này phù hợp với các thông tin liên quan khác về chiến lược ngọai giao của Mỹ – Trung và sự đi đêm giữa 2 nước trong thời điểm đó. Tuy nó vẫn còn là những tin đồn, nhưng nó là thuộc dạng tin đồn đáng tin và hòan tòan phù hợp với thường lý và logic.

Đó là nói chung về tổng quan, còn sau đây xin giới thiệu với các bạn bài phân tích chi tiết cụ thể hơn của tác giả Huy Phúc trên trang Mặt trận Thanh niên chống Phản động.

———————————————————————————

Chủ đề này không mới nhưng để hiểu về nó thì không ai cũng biết cả. VNCH đã dâng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc năm 1974. Nhưng từ đó đến nay các “chiến binh hèn nhát” vẫn ngày đêm ra rả chửi “Việt Cộng”.

Có một sự thật mà chính các sỹ quan của VNCH Lê Văn Thự chỉ huy chiến hạm, tàu HQ-16 đã xác nhận: “May là viên đạn không nổ, chứ nổ thì HQ-16 chìm tại chỗ! Lấy được viên đạn ra, toán tháo gỡ đạn dược ngạc nhiên cho biết rằng viên đạn “made in USA” và cỡ 127 ly. Sau này truy ra mới biết là đạn do HQ-5 bắn.”

Một loạt các câu hỏi tại sao lại có sự “kỳ quặc” như vậy?

1. Tại sao tầu HQ-5 lại bắn vào tầu quân mình?

2. Tại sao con tầu ngắm bắn điện tử HQ-4 không tham chiến?

3. Tại sao HQ-4/5 chạy sang Philippines chứ không chạy về Nam để vòng về Sài Gòn?.

4. Tại sao HQ-4 và HQ-5 không trúng đạn?

5. Vũ khí của Trung Quốc và Ngụy ai hơn ai, hơn mấy lần?

6. Số tầu Ngụy đã tham chiến thật sự, tức là bắn giặc Tầu chứ không bắn quân mình, là bao nhiêu, chiếm bao nhiêu trên tổng số vũ khí của 4 tầu.

7. Khi chỉ còn một mình HQ-16 chiến đấu, thì tương quan lực lượng thế nào giữa HQ-16 và các tầu chiến Trung Quốc?

8. Khi HQ-5 đứng về phía Trung Quốc, thì HQ-16 với liên quân Ngụy – Tầu sẽ tương quan lực lượng thế nào?

9. Tại sao có nhiều máy bay F-5 trong phi đội lớn thứ 3 thế giới lúc đó, toàn bộ phía Tây quần đảo nằm trong vùng chiến đấu tích cực của F-5 và A-37 cũng như những máy bay khác, toàn bộ quần đảo nằm trong tầm chiến đấu tối đa của các máy bay Ngụy, kể cả trực thăng như Chinook, nhưng toàn bộ các máy bay thúc thủ?

10. Trung Quốc có thật sự đem lực lượng lớn đến đánh “Hải chiến Hoàng Sa 1974” không, hay chỉ vài tầu cá, tầu rà mìn, tầu chống ngầm… thăm dò?

11. Trận chiến tử thủ Hoàng Sa năm 1974 diễn ra ở đâu, những ai, những đơn vị nào đã tử thủ?

12. Có phải Trung Quốc ban đầu chỉ dám thăm dò? Sau đó, khi nó nhìn rõ HQ-4 và HQ-4 đã đứng về phiá Trung Quốc, nó mới đanh mạnh và chiếm đảo, có phải vậy không?

Những câu hỏi Tại sao này chắc phải để lại cho các “chiến binh cờ vàng” đang đêm ngày “thăng cấp” vì chưa “giải ngũ” bên Cali hay Bolsa trả lời.

Tuy nhiên, để mở rộng đường để tìm hiểu về trận “hải chiến” này mà các sỹ quan Ngụy vẫn nổ banh salon suốt 39 năm nay. Chúng ta cùng tìm hiểu đôi chút “bí mật” về trận chiến này.

I. KẾT LUẬN VỀ SỰ THẬT CỦA “HẢI CHIẾN HOÀNG SA 1974”.

Tường Thuật Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa. Hà Văn Ngạc, C/N 2012/10. Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Hải Ðội Trưởng Hải Ðội III Tuần Dương HQVNCH, người chỉ huy trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974.

Ông ta chép hồi ký thanh minh, rằng ông ta phải chạy vì Tầu Khựa kéo đến ồ ạt loại chiếm hạm diệt hạm Komar-class(mã NATO của Project 183R class, Liên Xô).

Thực chất, đó là nhảm nhí huyễn hoặc. Dù có huyễn hoặc thì những cái huyễn hoặc của ông ta cũng chỉ có thể có lợn liệt não mới dám hốc mà không oẹ. Gạt đi những cái huyễn hoặc đó, thì ông ta cũng phải căn cứ vào các báo cáo lưu trữ và nói lên một phần sự thật. Đó là, quân ta (Ngụy) mạnh hơn tuyệt đối so với địch (Trung Quốc), nhưng ta thua vì ta hoặc là ngồi nhìn, hoặc là cùng với định bắn chìm ta. Và toàn bộ không quân ném bom lớn thứ 3 thế giới ngồi nhìn, trong khi địch gần như là số không về phòng không so với trình độ máy bay lúc đó.

SỰ THẬT VỀ TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA. HQ-16 do tôi, Trung tá Lê văn Thự (khoá 10) chỉ huy. HQ-16 bị soái hạm HQ-05 loại khỏi vòng chiến bằng một phát đạn 127mm. May là tầu không chìm chết mất xác vì đạn lởm.

HQ-16 cùng HQ-10 lập thành cánh Bắc đánh vào trong quần đảo. HQ-4 cùng HQ-5 lập thành cánh Nam đánh vào trong quần đảo. Cánh Bắc hoàn toàn bất ngờ vì cánh Nam theo Tầu Khựa phục kích họ. HQ-10 đắm, HQ-16 bị thương không thể chiến được. Bên cánh Nam, HQ-5 chịu trách nhiệm phục kích tiêu diệt đồng đội, còn HQ-4 đực mặt ra không tham chiến. Sau trận đánh thì HQ-4 và HQ-5 dông sang Phillipines, đến mức vô lý quá, Ngụy phải gọi về cho đỡ thối.

Toàn bộ đoàn máy bay cường kích đứng thứ 3 thế giới lúc đó thúc thủ. Trung Quốc trong trận này gần như là số không về đối không. Vì thế, Trung Quốc không dám đánh ngay, họ dứ dần. Đến khi Trung Quốc xác định chính xác Ngụy và Mỹ thật lòng dâng cho họ quần đảo Hoàng Sa, họ mới ra lấy đảo.

I.DIỄN BIẾN KỊCH HẢI CHIẾN HOÀNG SA 1974: MỸ NGỤY BẮN CHÌM TẦU NGỤY YỂM TRỢ HẢI QUÂN TRUNG QUỐC, BÁN ĐỨNG QUẦN ĐẢO.

Những bịa đặt nhục nhã của các sỹ quan Ngụy bấy lâu nay cũng chỉ để che đi sự thật trận đánh hèn nhát điên khùng vụng về.

Sự thật là Mỹ – Ngụy diễn kịch bán đứng Hoàng Sa cho Trung Quốc.

Sự thật là lúc đó hải quân Trung Quốc rất yếu, đa phần các tầu Trung Quốc tham chiến năm 1974 là tầu cá. Phòng không trên các tầu Trung Quốc lúc đó gần như là số không, trong khi Ngụy có phi đội máy bay ném bom lớn thứ 3 thế giới.
Như thế, không có lý do nào để Trung Quốc có thể chiếm được Hoàng Sa. Trung Quốc ban đầu cũng chỉ thử, họ không tin ngay nổi là họ có thể dễ dàng lấy được quần đảo.

Ngụy cử 4 tầu ra đánh 4 tầu Trung Quốc, 4 tầu Ngụy này vượt trội cả về hoả lực và mức độ tiên tiến. Trong đó có tầu bắn bằng pháo điều khiển qua radar-máy tính. 4 tầu đó chia làm 2 đội. Quân ta (Ngụy) dồn sức vào diệt một tầu quân ta (Ngụy, HQ-16). Trung Quốc dồn sức diệt một tầu quân ta (Ngụy, HQ-10 chìm), HQ-4/5 tê liệt hoả lực. Ta (Ngụy) và địch (Trung Quốc loại khỏi vòng chiến 3 trong số 4 tầu của ta (Ngụy), thì hỏi làm sao không thua? HQ-4 và HQ-5 co cẳng định chạy sang Philipines không dám về nhà, cho đến khi thấy yên yên mới dám quay đầu lộn về Tây Bắc.

Sau đó về “tự sướng” bằng nhưng tin thức như quân Tầu dùng tầu ngầm bắn tên lửa, báo cáo về đạn tự hành diệt hạm: NHật Tảo trúng đạn tự hành diệt hạm; không quân lớn thứ 3 thế giới của VNCH thúc thủ vì khựa bay được ra ném bom. Với số lượng các tầu nổi khá ngang nhau, tầu ngầm khựa tệ hại, thì yếu tố quyết định trận đánh chóng vánh là HQ-16 bị đồng đội loại khỏi vòng chiến. HQ-4 và HQ-5 không tấn công địch mà bắn đồng đội, loại khỏi vòng chiến 3 trong số 4 tầu.

1.Tham số và ảnh vũ khí hai bên.

Nếu như trừ đi các máy bay không hề tham chiến, chỉ tính tầu biển. Thì Ngụy đem ra 4 tầu phờ-rai-ghết Frigate Trần Bình Trọng (HQ-5), Lý Thường Kiệt (HQ-16), and Trần Khánh Dư (HQ-4), one corvette, Nhật Tảo (HQ-10).

Trung quốc có 4 tầu rà mìn nhỏ Kronstadt, mỗi tầu dài 49 mét rộng 6 mét 271, 274, 389, 396; 2 tầu rà mìn 281, 282; (wiki gọi là tầu chống tầu ngầm, thực chất đây là các tầu rà mìn, choáng nước 390 tấn, mẫu SO-1 Liên Xô và kiểu 037 Trung Quốc).

Vũ khí của các “siêu chiến hạm” Kronstad-Class lớn nhất có 2×2=4 nòng 57mm liên thanh, phòng không, đầu đạn 2,8kg. Còn lại là 4 nòng 25mm phòng không, súng cối bắn bom chìm (BMB-2 ASW mortars), bom chìm, giàn phóng bom chìm (ASW rocket launchers), thuỷ lôi…. hoàn toàn không có tác dụng trong cuộc đấu pháo tầu – tầu.

Còn đây là vũ khí chính của Ngụy, không tính cái phi đội lớn thứ 3 thế giới giương mắt lên nhìn. Cũng không tính ở đây các súng 40mm trở xuống vẫn thừa sức bắn các tầu cá Trung Quốc rất hiệu quả vì bắn liên thanh. Hay các ngư lôi.

+ RVNS Trần Bình Trọng HQ-05. Choáng nước 2.800 tấn. Pháo mũi 127mm nòng trung bình. Súng cối đa năng.Tầu có 10 nòng 40mm liên thanh phòng không, gồm 4 khẩu 2 nòng quanh đài chỉ huy và 2 khẩu hai bên sau.

+ RVNS Trần Khánh Dư HQ-04. Tầu khu trục Mỹ lớp Edsall. Choáng nước 1.590 tấn. Tầu có 3 tháp pháo, 1 nòng 76mm bắn nhanh 20 phát phút, là 3 nòng bắn nhanh điều khiển radar – máy tính, 2 nòng 40mm phòng không, 8 nòng 20mm phòng không.

+ RVNS Lý Thường Kiệt HQ-16. Như HQ-05.

+ RVNS Nhật Tảo HQ-10. Choáng nước 650 tấn, 1 pháo 76mm. 4 nòng 40mm. 6 nòng 20mm.

HQ-10 đắm, HQ-16 hỏng nặng. HQ-4 và HQ-5 hỏng nhưng vẫn chạy được, dông sang Philipines .
Tầu Khựa có 4 tầu nhỏ, mỗi tầu có 1 nòng 85mm săn tăng, 3 nòng 37mm phòng không cổ. 2 tầu to mỗi tầu 4 nòng 57mm và 4 nòng 25mm.

Số pháo chỉ so sơ sơ

• Ngụy
– 2 nòng 127mm
– 4 nòng 76mm, trong đó có 3 nòng bắn nhanh (“hải pháo 76 ly tự động”), đặc biệt có ngắm bắn máy tính – radar
– 16 nòng 40mm liên thanh.
– 14 nòng 20mm liên thanh.
– Các súng nhỏ hơn không tính.

• Tầu Khựa
– 4 nòng 85mm phát một nạp đạn tay (Đ-44 bản 85mm cho hải quân).
– 8 nòng 57mm liên thanh (súng phòng không đầu đạn 2,8kg, liên thanh nhưng liên thanh ww2 bắn bằng kẹp đạn 4 viên nạp thủ công).
– 12 nòng 37mm
– 8 nòng 25mm
– Nếu chỉ tính pháo chống tầu, thì Ngụy có 2 nòng 127mm và 4 nòng 76mm. Tầu Khựa có 4 nòng 85mm.
Trung Quốc năm 1974, ảnh chụp trước khi đánh nhau. Project 122bis , mã tên NATO Kronshtadt class. Choáng nước lớn nhất 340 tấn.

Project 122bis, mã tên NATO Kronshtadt class. Tầu dài toàn bộ 52,24 mét, rộng 6,55 mét. Choáng nước lớn nhất 340 tấn. Vũ khí có 1 nòng 85mm kiểu săn tăng (phiên bản dùng trên biển của D-44 WW2), 3 nòng 37mm phòng không bắn kẹp đạn cũng thế hệ WW2. Ngoài ra là những vũ khí như bom chìm hay thuỷ lôi không có tác dụng trong trận đấu pháo. Xem quân Ngụy nổ tung trời đất: “Kronstadt của Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 li và nhiều đại bác 37 li”.

Huy Phúc

Nguồn: Mặt trận Thanh niên chống Phản động