Một người Mỹ suýt giúp rút ngắn chiến tranh Việt Nam

Konrad Kellen từng là một nhà phân tích quốc phòng ít người biết đến nhưng có thể đã giúp rút ngắn chiến tranh Việt Nam nếu mọi người lắng nghe ông.

chien tranh viet nam
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến tranh lớn nhất, dài nhất và tốn kém nhất của nước Mỹ.

Kellen sinh năm 1913 tại Đức. Ông xuất thân từ một trong những gia đình Do Thái lớn nhất châu Âu. Ông rời Berlin tới Paris, sau đó di cư tới Mỹ và tham gia quân đội Mỹ trong thế chiến II.

Vào đầu những năm 1960, Kellen đầu quân cho Rand Coporation, một tổ chức cố vấn danh tiếng ở California do Lầu Năm Góc sáng lập sau Thế chiến II để thực hiện công tác phân tích quốc phòng cấp cao. Tại đây, Kellen đối mặt với thách thức lớn nhất trong sự nghiệp – một kế hoạch về Chiến tranh Việt Nam có tên gọi Kế hoạch tăng cường nhuệ khí.

Dự án do ông Leon Goure, người cũng là một di dân, khởi xướng. Goure thông minh, có uy tín nhưng rất chủ quan và là “khắc tinh” lớn nhất của Kellen.

Ở giai đoạn đầu của chiến tranh Việt Nam, kế hoạch của ông Goure đã trở thành vấn đề lớn nhất của Lầu năm góc. Không quân Mỹ khi đó đang ném bom miền bắc Việt Nam vì muốn ngăn chặn bộ đội miền bắc Việt Nam hỗ trợ phong trào phản kháng ở miền nam Việt Nam mà đứng đầu là Việt Minh.

Mục đích là nhằm phá vỡ ý chí của miền bắc Việt Nam. Nhưng Lầu năm góc không biết gì về miền bắc Việt Nam, không biết gì về văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ Việt Nam. Làm thế nào để dập tắt ý chí của một đất nước nếu không biết gì về nước đó? Vì vậy, nhiệm vụ của ông Goure là tìm hiểu xem người miền bắc Việt Nam nghĩ gì.

chien tranh viet nam
Chân dung nhà phân tích quốc phòng Konrad Kellen.

Ông Goure tới Sài Gòn và trú tại một biệt thự Pháp trên đường Pasteur. Ông này thuê những người phỏng vấn Việt Nam và đưa họ tới các vùng nông thôn.

Nhiệm vụ của họ là tìm các thành viên của Việt Minh và phỏng vấn họ. Sau vài năm, họ đưa ra 61.000 trang ghi chép các cuộc phỏng vấn. Những bản ghi này đã được dịch sang tiếng Anh, trước khi được tóm tắt và phân tích.

Goure nhận các bản phân tích này và phát cho tất cả các quan chức cấp cao trong quân đội Mỹ. Mỗi lần nói về kế hoạch của ông, Goure này lại nói những điều giống nhau:

– Việt Minh hoàn toàn bị mất tinh thần

– Họ sắp đầu hàng

– Nếu bị dồn ép một chút nữa hoặc bị ném bom thêm ít nữa, họ sẽ hạ vũ khí và quay về Hà Nội.

Tất cả mọi người đều tin một cách mù quáng vào những điều ông Goure nói, ngoại trừ một người – Konrad Kellen. Ông Kellen đã đọc các cuộc phỏng vấn và đưa ra kết luận hoàn toàn trái ngược.

Đôi nét về Konrad Kellen: 

– Sinh năm 1913 tại Đức

– Chạy khỏi Đức quốc xã và di cư tới New York năm 20 tuổi

– Từng làm việc cho một đơn vị tình báo quân đội Mỹ trong Thế chiến II và được thưởng huân chương cao quý Legion of Merit

– Là nhà phân tích chính trị tại Rand Corporation ở California

– Năm 1969, ông và các đồng nghiệp tại Rand đã viết một bức thư gửi chính phủ Mỹ kêu gọi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam trong vòng 1 năm

– Qua đời năm 2007 ở tuổi 93

Nhiều năm sau đó, Kellen cho hay nhận định của ông bắt nguồn từ cuộc phỏng vấn với một thành viên cấp cao của Việt Minh. Người này được hỏi ngay đầu cuộc phỏng vấn rằng liệu ông có nghĩ Việt Minh sẽ chiến thắng trong cuộc chiến hay không và ông này trả lời là không.

Nhưng sau đó, lãnh đạo Việt Minh được hỏi liệu Mỹ có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến hay không và câu trả lời cũng là không. Câu trả lời thứ 2 đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của câu thứ nhất. Người này không nghĩ tới việc thắng hay thua. Kellen cho rằng một người không quan tâm tới kết quả của một cuộc chiến mới là đối tượng đáng lo ngại.

Nhưng tại sao Kellen nhìn thấy điều này còn Goure thì không? Bởi vì ông Goure không có khả năng đó.

Goure là người thường sàng lọc những điều ông nghe được qua ý kiến chủ quan cá nhân, như từng xảy ra vào năm 1965. Khi đó, Mỹ là quốc gia mạnh nhất trên thế giới, trong khi miền Bắc Việt Nam mới bước vào thời kỳ Cách mạng Công nghiệp.

Trong chiến dịch ném bom đầu tiên của Chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã thả xuống miền bắc Việt Nam số bom tương đương với toàn bộ lượng bom mà không quân hoàng gia Anh rải xuống Đức trong thế chiến II.
chien tranh viet nam
Leon Goure là “khắc tinh” lớn nhất của Kellen.

Goure nhìn con số và không tin rằng bất kỳ ai lại có thể đứng dậy sau một cuộc tấn công như vậy. Vì vậy Goure không lắng nghe mọi người.

Còn Kellen thì khác. Ông đứng lên và nói rằng Goure đã sai, rằng Việt Minh không đầu hàng và không bị mất tinh thần. Kellen nói, đó không phải là một cuộc chiến mà Mỹ có thể giành chiến thắng – dù là hôm nay, ngày mai hay trong tương lai.

Nhưng không ai lắng nghe lời Kellen. Goure vẫn tiệc tùng và vui vẻ với các quan chức Mỹ tới thăm Sài Gòn. Kellen đã viết những báo cáo dài và chi tiết nhưng đều bị phớt lờ và lãng quên. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn và ngày càng trở nên tồi tệ.

Vào năm 1968, một người bạn của Kellen đã tới gặp Henry Kissinger, khi đó sắp trở thành kiến trúc sư của Chiến tranh Việt Nam và ông này đã đề nghị Kissinger gặp Kellen.

Nhưng Kissinger đã không bao giờ làm điều đó. Nếu cuộc gặp diễn ra, lịch sử có thể đã khác.

Ông Kellen về hưu và sống trong một căn nhà nhỏ nhìn ra biển tại Los Angeles. Vào những năm cuối đời, có lần ông tỉnh dậy và giữa đêm và tưởng tượng ra rằng phát xít Đức đang tới để bắt ông. Nhưng đó là lần duy nhất ông đã nghĩ sai.

Theo An Bình (Dân Trí / BBC)

Advertisements

Nanci Griffith – Nỗi ám ảnh của cuộc Chiến tranh Việt Nam

chien tranh viet nam

Bốn năm sau khi album Clock without hands được giới phê bình đánh giá cao, tháng 2.2005 vừa qua, Nanci Griffith đã chính thức trở lại với một đĩa nhạc mới mang tên Hearts in mind (Những trái tim trong tâm hồn).

Thật đáng ngạc nhiên, cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc từ 30 năm trước vẫn hằn nguyên dấu ấn bi thương trong tâm tư của nữ nghệ sĩ folk pop tài hoa người Mỹ này. Không hề tham gia vào bất cứ cuộc chiến nào nhưng Nanci Griffith cứ khắc khoải vì vết thương chiến tranh bởi vì Eric Taylor, một nghệ sĩ nhạc folk, chồng cô trước đây là một cựu binh Mỹ bị rối loạn và suy sụp tinh thần vì hội chứng chiến tranh Việt Nam.

Album mới của cô, với 14 ca khúc, trong đó có 8 bài hoặc do cô sáng tác hoặc đồng sáng tác, là một đĩa nhạc phản chiến dành cho vong hồn của “từng người lính và từng người dân lành đã thiệt mạng trong sự kinh hoàng của chiến tranh”.

Những sáng tác mới của Nanci Griffith, từ Old Hanoi (Hà Nội cổ, thực sự ru lòng người tìm đến cái đẹp cổ của Hà Nội với âm thanh guitar thùng) đến Heart of Indochine (Trái tim của Đông dương) là dấu chỉ về sự tiếp tục vùi mình vào những nỗ lực hàn gắn vết thương tinh thần gây ra bởi cuộc chiến. “Heart of Indochine nói về hoà bình ở Việt Nam, một điều chúng ta đã có lúc tưởng sẽ không bao giờ có được”, Nanci Griffith nói. Cô đã nhiều lần bay sang Việt Nam, đại diện cho Hội Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam và Chiến dịch vì một thế giới không mìn sát thương. “Tôi hy vọng sẽ không phải mất 30 năm để có một ca khúc mừng hoà bình thực thụ đã đạt được ở Iraq”.       Big blue ball of war (Quả cầu xanh to chiến tranh) là một ca khúc phản chiến khác còn Before là bài “nhấn mạnh đến những sai lầm của chính quyền Mỹ khi gây chiến tranh mới ở Iraq,” cô giải thích. “Vì cuộc chiến mới này mà chúng ta, những người Mỹ, lại phải sống trong lo sợ, hoang mang hàng ngày”.

Griffith cho rằng nay không còn là thời điểm giữ im lặng nữa, nhưng theo cô Hearts in mind không chỉ là đĩa nhạc liên quan đến chiến tranh, vì còn có những bài ca yêu đời, yêu người, chẳng hạn như  bài mang âm hưởng jazz Beautiful .

Ngoài ban nhạc thuỷ chung với cô từ rất lâu là The Blue Moon Orchestra ra, đĩa Hearts in mind còn có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ khác, chẳng hạn như Mac MacAnally (Rise to the occasion), Jimmy Buffet (bài nghe rất rộn ràng, nặng âm hưởng nhạc Nam Mỹ, I love this town), Keith Carradine (Our very own, là ca khúc chính của phim sẽ chiếu trong năm 2005 do anh thủ vai chính).

Hearts in mind là album ghi âm studio thứ 15 trong sự nghiệp sáng tác gần 30 năm của Nanci Griffith. Những album xuất sắc khác của cô gồm: The last of the true believers;  Other voices, other rooms (đoạt giải Grammy 1994 Album folk đương đại xuất sắc nhất); One fair summer evening; Once in a Very Blue Moon;  Other voices, too (A trip back to bountiful); Winter marquee…

Vân Anh (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Lời kêu gọi nhân ngày 20-7 của chủ tịch Hồ Chí Minh

Lời kêu gọi nhân ngày 20-7 (20-7-1965)

Đồng bào và bộ đội thân mến,

Nhân dịp kỷ niệm ngày 20-7, tôi thân ái gửi đến đồng bào và bộ đội cả nước lời thǎm hỏi thắm thiết nhất.

Nhân dân Việt Nam ta rất yêu chuộng độc lập và hoà bình.

Vì vậy trước đây toàn dân ta đã đoàn kết nhất trí, kiên quyết kháng chiến đánh thắng thực dân Pháp và giành được thắng lợi vĩ đại.

Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 đã trịnh trọng công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ta.

*

* *

Nhưng đế quốc Mỹ đã dùng đủ cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Hơn 10 nǎm nay, chúng đã tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta hòng biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới, một cǎn cứ quân sự của Mỹ, để chia cắt lâu dài nước ta tiến công phe xã hội chủ nghĩa, uy hiếp độc lập và hoà bình các nước ở châu Á và các nơi khác.

*

* *

Hơn mười nǎm nay, đồng bào miền Nam đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, chịu đựng biết bao hy sinh, để tự giải phóng khỏi ách tàn bạo của đế quốc Mỹ và lũ tay sai.

Dưới ngọn cờ vẻ vang của Mặt trận dân tộc giải phóng, đồng bào và Quân giải phóng miền Nam anh hùng đoàn kết một lòng, càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng và đang giành nhiều thắng lợi lớn trên khắp các chiến trường. Đồng bào miền Nam kiên quyết chiến đấu là để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, đồng thời là góp phần vào việc bảo vệ hoà bình và độc lập của các dân tộc khác.

*

* *

Để hòng cứu vãn tình hình khốn đốn của chúng, gần đây đế quốc Mỹ đã đưa thêm hàng vạn quân Mỹ và chư hầu vào tǎng cường xâm lược miền Nam và dùng máy bay đánh phá dã man miền Bắc nước ta. Chúng đã phạm nhiều tội ác tày trời đối với nhân dân ta. Cả thế giới đều sục sôi cǎm giận và nghiêm khắc lên án chúng.

Bọn giặc Mỹ hòng dùng sức tàn bạo để khuất phục nhân dân Việt Nam ta, doạ nạt các dân tộc ở Đông Dương, Đông – Nam á và trên thế giới. Nhưng chúng đã lầm to.

Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng. Chúng ta đã từng đánh đổ phát xít Nhật, đánh bại thực dân Pháp và hiện nay đang kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng ta quyết tâm giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, giành tự do hoàn toàn cho nhân dân.

Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

Đế quốc Mỹ rất dã man và quỷ quyệt. Một mặt chúng rêu rao “hoà bình”, một mặt chúng gấp rút xây dựng thêm nhiều cǎn cứ quân sự, phái thêm nhiều quân đội vào miền Nam, tǎng cường ném bom bắn phá ở miền Bắc. Giọng lưỡi “đàm phán hoà bình” của chúng quyết không lừa bịp được nhân dân ta và nhân dân thế giới. Như Chính phủ ta đã nhiều lần tuyên bố, cách giải quyết đúng đắn nhất vấn đề Việt Nam là Chính phủ Mỹ phảithi hành đúng Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954, thực hiện 4 điểm do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu ra và 5 điều do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Namđã nói rõ.

*

* *

Để làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng “chống Mỹ, cứu nước”, tôi kêu gọi: Đồng bào và chiến sĩ miền Bắc dũng cảm tiến lên, hǎng hái thi đua sản xuất và chiến đấu.

– Các lực lượng vũ trang nhân dân hãy anh dũng chiến đấu, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa; đánh tan các cuộc tiến công phá hoại bằng máy bay của giặc Mỹ.

– Công nhânvà nông dân hãy hǎng hái thi đua tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, “một người làm việc bằng hai” và sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

– Anh chị em trí thức hãy cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

– Các cháu thanh niên gái cũng như trai hãy thực hiện tốt “ba sẵn sàng”, xung phong dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

– Chị em phụ nữ hãy thực hiện thật tốt “ba đảm đang” góp phần đắc lực đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

– Đồng bàn các dân tộc, các tôn giáo hãy đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mỹ, cứu nước.

Đế quốc Mỹ đang thất bại và sẽ hoàn toàn thất bại. Nhân dân ta đang ở thế tiến công và nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang. Nhưng kẻ địch còn nhiều âm mưu độc ác, cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta còn nhiều gian khổ khó khǎn. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu, chớ chủ quan khinh địch. Khó khǎn không nản chí, thắng lợi không kiêu cǎng.

*

* *

Cả nước đang hướng về miền Nam thân yêu, Thành đồng của Tổ quốc.

Đồng bào miền Nam anh dũng hãy giương cao ngọn cờ cứu nước vẻ vang của Mặt trận dân tộc giải phóng tiến lên giành những thắng lợi ngày càng to lớn hơn, quyết đánh bại tất cả lực lượng hung tàn, tất cả âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, quyết giành lại độc lập tự do cho nhân dân, tiến tới hoà bình, thống nhất Tổ quốc.

Binh sĩ và nhân viên của chính quyền Sài Gòn? Các người cũng là con Lạc cháu Hồng, không lẽ các người cứ cam tâm làm nô lệ cho giặc Mỹ , chống lại đồng bào, để tiếng xấu muôn đời? Các người hãy tỉnh ngộ trở về với đồng bào, góp phần giải phóng quê hương, phụng sự Tổ quốc, các người sẽ được nhân dân hoan nghênh.

*

* *

Đối với nhân dân Mỹ đang dũng cảm đấu tranh chống chiến tranh xâm lược của Chính phủ Mỹ, tôi thay mặt nhân dân Việt Nam tỏ lời hoan nghênh.

Các bạn hãy đẩy mạnh phong trào chống chiến tranh xâm lược của Chính phủ Mỹ ở Việt Nam để cứu con em các bạn khỏi bị đưa đi chết một cách thê thảm cho quyền lợi riêng của những người đang áp bức, bóc lột các bạn.

Các binh sĩ Mỹ và binh sĩ các nước chư hầu đang bị đẩy vào cuộc chiến tranh đầy tội ác, hãy mau mau giác ngộ. Nhân dân Việt Nam với các người vốn không có thù hằn gì. Đế quốc Mỹ đang bắt các người đi làm bia đỡ đạn chết thay cho chúng. Chúng nhất định sẽ thất bại. Các người hãy đấu tranh đòi về nước với cha mẹ, vợ con. Nhân dân Việt Nam sẽ ủng hộ các người.

*

* *

Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam ta được nhân dân các nước anh em xã hội chủ nghĩa, nhân dân châu Á, châu Phi, Mỹ latinh và các nước khác trên thế giới nhiệt liệt đồng tình và hết lòng ủng hộ.

Tôi thay mặt đồng bào cả nước nhiệt liệt cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, cảm ơn nhân dân tiến bộ khắp nǎm châu.

Nhân dân Việt Nam quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng giải phóng Tổ quốc của mình, chặn tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giữ vững tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông- Nam á, tích cực góp phần vào phong trào độc lập dân tộc và bảo vệ hoà bình thế giới.

*

* *

Đồng bào và chiến sĩ thân mến,

Chính vì yêu chuộng độc lập và hoà bình mà chúng ta kiên quyết đánh giặc Mỹ xâm lược.

Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là chính nghĩa. Nhân dân khắp thế giới đều nghiêm khắc lên án Mỹ, đều nhiệt liệt ủng hộ ta.

Đồng bào cả nước hãy tin tưởng chắc chắn vào thắng lợi cuối cùng, vào tương lai rực rỡ của Tổ quốc ta. Hãy quyết tâm vượt mọi gian khổ, khó khǎn, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Vì Tổ quốc, vì độc lập và hòa bình, toàn dân ta anh dũng tiến lên !

Địch nhất định thua! Ta nhất định thắng!

————————

Báo Nhân dân,số 4125, ngày 20-7-1965.

Chiến tranh Việt Nam: Từ góc nhìn của người Mỹ

Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã trôi qua 36 năm, nhưng cho đến tận bây giờ, nhiều người Mỹ vẫn không thể quên những ngày tháng đó.

Trong lịch sử hơn 200 năm, nước Mỹ đã tham gia nhiều cuộc chiến tranh, nhưng cuộc chiến ở Việt Nam là dài nhất, tốn kém nhất và hao binh, tổn tướng nhất.

Dài nhất, tốn kém nhất

Theo US News & World Report (Mỹ) số ra năm 1975, chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài 11 năm 1 tháng (tính từ 22/12/1961 khi lính Mỹ đầu tiên chết ở Việt Nam). Nhưng theo tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam, ngay từ đêm 6/7/1959, tại TP. Biên Hoà, bộ đội đặc công Việt Nam đã nổ mìn tiêu diệt 2 cố vấn quân sự Mỹ. Tên của 2 cố vấn này đứng đầu danh sách binh lính Mỹ tử trận tại Việt Nam ghi trên bức tường ở Washington. Như vậy, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ phải là 14 năm 7 tháng và là cuộc chiến tranh dài nhất từ trước đến nay.

Theo tài liệu khảo sát Harrison and Stevens (1976), ước tính chi phí của Mỹ cho chiến tranh Việt Nam là 925 tỷ USD, nghĩa là cứ mỗi phút chiến tranh, Mỹ phải chi khoảng 32.000 USD. Đây là một trong những chi phí chiến tranh lớn nhất so với nhiều cuộc chiến khác như chiến tranh Triều Tiên (164 tỷ USD), Thế chiến II (664 tỷ USD)…

Các loại vũ khí tối tân nhất cũng được quân Mỹ sử dụng từ bom chùm, bom bi, bom từ trường, bom thông minh điều khiển bằng laser, pháo lớn “Vua chiến trường” 203mm, cho đến các loại vũ khí bị cấm như bom Napan, chất độc hoá học, đặc biệt là chất độc da cam. Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã ném 7 triệu tấn bom và bắn hơn 7 triệu tấn đạn các loại (gấp 3 lần số bom đạn Mỹ ném xuống Châu Âu trong Thế chiến II và bằng sức nổ của 70 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima năm 1945. Trung bình, mỗi người dân Việt Nam phải chịu 500kg bom đạn, còn mỗi người lính Việt Nam phải chịu tới vài tấn bom, đạn!

Hao binh, tổn tướng nhất

Theo các số liệu trong sách Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam của Jeff Stein – Marc Leepson và hồi ký Nhìn lại quá khứ – Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.McNamara, đã có tới 6,6 triệu lượt binh sĩ Mỹ: 70% Lục quân, 60% Lính thủy đánh bộ, 40% Hải quân, 60% Không quân đã tham chiến ở Việt Nam. 22.000 xí nghiệp quốc phòng và dân sự gián tiếp hoặc trực tiếp phục vụ chiến tranh Việt Nam.

Cụ thể hơn, về lục quân, năm 1969 là năm số quân Bộ binh Mỹ tham chiến cao nhất tại Việt Nam: 11 Sư đoàn và 11 trung đoàn với 543.400 quân. Trong số đó có nhiều Sư đoàn nổi tiếng thiện chiến như Sư đoàn 3 Lính thuỷ đánh bộ đã tham gia Thế chiến II ở Thái Bình Dương. Sư đoàn Bộ binh số 25 “Tia chớp nhiệt đới” tham gia Thế chiến II và Chiến tranh Triều Tiên. Sư đoàn “Kỵ binh bay số1” là sư đoàn cơ động đường không đầu tiên, tinh nhuệ nhất của quân đội Mỹ và Sư đoàn Bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” nổi tiếng nhất Lục quân Mỹ…

Về không quân, vào thời kỳ leo thang cao điểm nhất năm 1972, Mỹ có tới 1.192 máy bay hoạt động: 999 máy bay chiến thuật và 193 máy bay ném bom B52.

Về hải quân, Mỹ điều cả tàu sân bay túc trực thường xuyên. Máy bay của Hải quân Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay ném bom, bắn phá dữ dội đất liền. Vào năm cao điểm 1972, có tới 55 – 59 tàu các loại (60% tàu Hạm đội 7) gồm 3-5 tàu sân bay, 1 tàu chống ngầm, 30 – 33 tàu Khu trục, 5 tàu tuần dương, 4 tàu ngầm và 11 tàu đổ bộ tham chiến.

Ngoài ra, Mỹ còn viện trợ lực lượng ngụy quyền Sài Gòn, có lúc lên tới 1,1 triệu quân các loại, chưa kể 5 nước (Hàn Quốc, Thái Lan, Australia, Philippines và New Zealand) cũng đem gần 73.000 quân đến Việt Nam tham chiến.

Không chỉ đông quân, nhiều súng đạn, với tham vọng giành thắng lợi, Mỹ còn đưa đến Việt Nam rất nhiều tướng tài như Westmoreland, Harkins, Abrams… Tuy nhiên, không những không thắng, mà ngược lại, họ còn phải hứng chịu tổn thất nặng nề. Theo The New York Times, 12 Tướng Mỹ tử trận và 8 Tướng Mỹ khác bị thương trong chiến tranh Việt Nam. Theo thống kê được ghi trên bức tường tại Washington, số binh sĩ Mỹ chết trận là 57.939 người, bị thương là 365.000 người.

Những bức thư tuyệt mật

Nếu tính từ năm 1945 khi Tổng thống Mỹ Harry Truman tuyên bố gửi cố vấn và viện trợ quân sự cho thực dân Pháp, đã có 6 đời Tổng thống Mỹ dính líu và trực tiếp can thiệp vào Việt Nam với các chiến lược khác nhau.

Thậm chí, Tổng thống Richard Nixon và Tổng thống Gerald Ford đã gửi cho cựu Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu tới 31 bức thư tuyệt mật (trong đó riêng Nixon gửi 27 thư) để thường xuyên chỉ đạo, vỗ về. Các bức thư này đều được giữ tuyệt mật, chỉ riêng Tổng thống ngụy quyền được đọc và sau này giao cho Ts. Nguyễn Tiến Hưng, phụ tá đặc biệt của Tổng thống, cựu Bộ trưởng Bộ Kế hoạch, sử dụng trong những ngày cuối cuộc chiến để xin Quốc hội Mỹ tăng cường viện trợ quân sự khẩn cấp hòng cứu chế độ ngụy quyền sụp đổ.

Chẳng hạn như trong bức thư gửi ngày 14/11/1972, Nixon hứa với Thiệu sẽ: “Phản công mãnh liệt và nhanh chóng bất kỳ một vi phạm Hiệp định Paris nào” hay trong bức thư ngày 5/1/1973, Nixon cam kết nếu Thiệu ngoan ngoãn thì “chúng tôi sẽ dốc toàn bộ lực lượng nếu Bắc Việt vi phạm”…

Thế nhưng gánh nặng chi phí chiến tranh khổng lồ, sự phản đối chiến tranh mạnh mẽ của dân chúng và cựu chiến binh Mỹ, tâm lý mệt mỏi, chán chường vì chiến tranh kéo dài… đã làm cho Quốc hội, Tổng thống Mỹ nản chí.

Và cuộc hành binh cuối cùng

Theo cuốn Từ Toà Bạch ốc đến Dinh Độc lập của Ts. Nguyễn Tiến Hưng (phụ tá đặc biệt của Tổng thống ngụy, nay là Giáo sư kinh tế ở ĐH Haward) và Jerrold L.Schecter, lúc 10h51 phút sáng ngày 29/4/1975 giờ Sài Gòn (đang đêm ở Washington), Tổng thống Gerald Ford ra lệnh bắt đầu cuộc hành quân mang tên “Cơn lốc” (Operation Frequent Wind). Đài phát thanh Sài Gòn vang lên bản nhạc Tôi mơ về một mùa Noel tuyết trắng, đó là mật hiệu cho cuộc rút quân cuối cùng, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam.

Trước đó một ngày, tình hình căng thẳng. 6h20 chiều ngày 28/4/1975, một biên đội 5 máy bay A-37 đã tiến vào không phận sân bay Tân Sơn Nhất. Tại Văn phòng Tùy viên quân sự Mỹ cạnh sân bay, Von Marbod chăm chú quan sát những máy bay đang tới gần và nghi ngờ hỏi: “Tôi tưởng Không quân Việt Nam (ngụy) nghỉ làm lúc 6 giờ?”. Kiểm soát viên không lưu lập tức hỏi những máy bay đang tiến đến: “Máy bay của Không đoàn nào?”. Một giọng lạ vang lên qua máy điện đàm: “Máy bay do Mỹ chế tạo đây!”, rồi bất ngờ trút hàng loạt bom xuống sân bay. 3 máy bay AC-119 và nhiều máy bay C-47 khác đang đỗ trên đường băng chính bị phá hủy. Sau đó, người Mỹ mới biết đó là những máy bay của Không lực Việt Nam Cộng hòa bị đối phương chiếm dụng. Tình hình nguy cấp, họ cho rằng toàn bộ nhân viên quân sự Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 giờ.

Trong cuộc rút lui này, những máy bay vận tải C-130 “Thần lực sỹ” khổng lồ, mỗi chiếc chở 180 người di tản, liên tục cất cánh, đưa 1.373 người Mỹ và khoảng hơn 6.000 người Việt Nam đến các tàu chiến của Hạm đội 7 Mỹ đang neo đậu ngoài khơi. 8h sáng ngày 30/4/1975, Đô đốc Gayler đã chuyển lệnh của Tổng thống Ford buộc Đại sứ Mỹ G.Martin lên máy bay rời Việt Nam, trở thành người Mỹ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn, kết thúc chiến dịch “Cơn lốc”.

Viên Hoà (Tổng hợp theo tài liệu nước ngoài)

Nhạc cách mạng hay trong Chiến tranh Việt Nam

Giám mục Mỹ kể về ‘chuồng cọp’

Giám mục Mỹ kể về “chuồng cọp”

Giám mục Mỹ Thomas Gumbleton đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1973, với quyết tâm tìm hiểu tối đa sự thật về cuộc chiến mà Mỹ tuyên truyền là để bảo vệ người dân Việt Nam.

Song, những gì ông thực sự chứng kiến lại là chính quyền Sài Gòn – với sự đứng sau giật dây của Mỹ – thẳng tay đàn áp phong trào phản chiến tại miền Nam Việt Nam, trừng phạt các tù nhân chính trị trong những “quan tài sống” – chuồng cọp (Tiger Cage). Sự thật cay đắng về cuộc chiến đã được giám mục Gumbleton đưa qua những bài báo và bài thuyết trình trên khắp nước Mỹ, góp phần thúc đẩy phong trào phản chiến lan rộng trong những người Mỹ yêu chuộng hòa bình và công lý.

Hành trình đi tìm sự thật

Trong suốt cuộc phỏng vấn, giám mục Gumbleton luôn sử dụng cụm từ tội ác (evils) mỗi khi nói về những nỗi đau chiến tranh mà Mỹ đã gây ra tại Việt Nam. Ông nói, 10 ngày có mặt tại Sài Gòn vào năm 1973 là thời điểm ông được tiệm cận với sự thật một cách trực diện, để khám phá ra những điều mà chính quyền Mỹ đã giấu giếm về cuộc chiến tại Việt Nam. Giám mục Gumbleton kể:

“Vào tháng 12.1972, Tổng thống Nixon đã yêu cầu mở chiến dịch không kích Việt Nam. Tôi quá thất vọng với quyết định leo thang chiến tranh của Chính phủ Mỹ, nên đã quyết định đến Việt Nam để phản đối, để được biết sự thực về cuộc chiến mà Mỹ đang tuyên truyền là chống chủ nghĩa cộng sản. Tôi muốn điều tra về những đàn áp mà chính quyền Sài Gòn tiến hành đối với những lực lượng phản đối chiến tranh.

Khi đó, những người dân Mỹ yêu hòa bình đang sôi sục khi được nghe thông tin về nhục hình tra tấn tù nhân trong “chuồng cọp” của chính quyền Sài Gòn và Mỹ. Điều này càng khiến tôi quyết tâm đến Việt Nam để tìm ra được tối đa sự thật, nhằm đưa những sự thật đó trở về Mỹ và thúc đẩy phong trào phản chiến. Tôi muốn chính quyền Mỹ phải làm điều gì đó để sửa đổi lại những tội ác đã gây ra trong cuộc chiến tại Việt Nam. 10 ngày ngắn ngủi, nhưng đã làm chấn động tâm hồn tôi, giúp tôi hiểu rõ về cuộc chiến. Khi trở về Mỹ, tôi đã viết về những gì tôi trực tiếp thấy, những gì đã xảy ra, được lắng nghe từ chính người dân miền Nam Việt Nam”.

Bài báo về chuyến đi Việt Nam năm 1973 của giám mục Gumbleton đã được đăng trang trọng trên tờ National Catholic Reporter.

“Tôi cố gắng mô tả những gì chính mắt tôi đã nhìn thấy. Tôi muốn nói với người dân Mỹ về chính phủ ‘Nam Việt Nam’ không phải là chính quyền của công lý. Thực chất, họ đã thực hiện rất nhiều tội ác như đàn áp, tra tấn đối với người dân tại miền Nam Việt Nam, đưa những người chống đối chính quyền vào chuồng cọp.

Tôi được thấy những tù nhân sau khi rời chuồng cọp đã không thể đi lại, mắt hóa mù vì những nhục hình trong xàlim khét tiếng này. Khi được tận mắt nhìn thấy chuồng cọp tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở TP. Hồ Chí Minh trong chuyến thăm sau này, tôi rùng mình vì mức độ kinh khủng và độc ác của nó. Sẽ không quá nếu nói đó là một quan tài sống đối với các tù nhân” – giám mục Gumbleton nói.

Mỹ gieo rắc nỗi sợ không tưởng về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

– Ông còn gặp những nhân chứng nào nữa trong chuyến đi năm 1973?

– Tôi đã có cuộc gặp với các tín đồ Thiên chúa giáo, với những người dân thường phản đối chiến tranh. Họ là những người vô cùng dũng cảm, vì họ dám chống lại và dám đứng lên đòi lại độc lập cho Việt Nam. Tôi hiểu người dân Việt Nam chỉ có mục tiêu duy nhất là được độc lập, được tự do. Để thấy, Chính phủ Mỹ đã cố tình gieo rắc nỗi sợ hãi không đáng có về miền Bắc Việt Nam khi đó, để dư luận Mỹ ủng hộ cuộc chiến. Vì vậy, khi trở về Mỹ sau chuyến đi năm 1973, tôi đã nỗ lực hết sức để đưa sự thật đến với người dân Mỹ. Tôi vô cùng xúc động khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ vào Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một phần của lịch sử. Người dân Mỹ không hề biết điều đó.

– Dư luận Mỹ phản ứng như thế nào về bài báo của ông?

– Bài báo trên National Catholic Reporter đã gây ra được những tác động lớn trong cộng đồng. Tôi cũng đã có rất nhiều cuộc diễn thuyết trên khắp nước Mỹ và tham gia các diễn đàn tranh luận tại nhà thờ về cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Tôi cố gắng chuyển tải những hình ảnh chân thực nhất về những gì diễn ra ở Việt Nam.

Song cũng có nhiều người Mỹ quá khích muốn bài xích và phản đối những thông tin mà tôi đưa ra. Thậm chí, họ còn biểu tình bên ngoài các nhà thờ nơi tôi đến diễn thuyết và gọi tôi là “tín đồ Bắc Việt”. Nhưng điều tôi thấy chỉ là của người yêu hòa bình và ủng hộ công lý.

– Hành động ủng hộ Việt Nam có khiến ông bị cô lập trong giới chức nhà thờ khi đó?

– Tôi không đơn độc. Có rất nhiều giám mục khác cũng phản đối chiến tranh tại Việt Nam; song tôi cho rằng chúng tôi vẫn chưa làm hết sức mình để có thể nâng cao nhận thức cho các tín đồ về việc vì sao cuộc chiến tranh đó là phi nghĩa và cần phải chấm dứt. Không những thế, Mỹ đã sử dụng những vũ khí tàn bạo, kể cả vũ khí hóa học như bom napalm, chất độc da cam tại Việt Nam. Đó là những tội ác không thể biện minh.

Tôi từng xem một bộ phim tài liệu về cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara – người đã dẫn đầu nỗ lực cuộc chiến chống Việt Nam. Sau khi chiến tranh kết thúc, vào thập niên 1990, ông McNamara đã có chuyến thăm đến Việt Nam. Ông đã gặp các nhà lãnh đạo Việt Nam – những người mà ông từng mang bom chống lại trong chiến tranh. Cựu Bộ trưởng McNamara đã nói “Chúng tôi đã không hiểu Việt Nam. Đó là một sai lầm lớn”. Với tôi, đó là lời thú nhận muộn màng, sau khi chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người.

Lòng vị tha của người Việt

Mãi đến năm 1988, Giám mục Gumbleton mới có dịp thực sự đặt chân lên miền Bắc Việt Nam- điều mà ông, dù rất mong mỏi, nhưng đã không thể thực hiện được trong chuyến đi năm 1973. “Tôi đã liên hệ và đến thăm nhiều tín đồ Thiên chúa giáo tại Hà Nội. Vào thời điểm đó, cuộc sống của họ còn nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam đã đạt được rất nhiều tiến bộ cho đến nay. Trong chuyến thăm lần này, tôi cũng đi thăm một nhà thờ ở Hà Nội và rất ấn tượng trước những hoạt động của họ” – ông nói.

– Sau 3 lần đến Việt Nam, giữa chiến tranh, ngay sau đổi mới và thời điểm hiện tại 2013, ông cảm nhận như thế nào về sự thay đổi của Việt Nam?

– Tôi rất ấn tượng trước sức sống mãnh liệt và sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam; nhưng tôi cũng lo ngại về số lượng xe gắn máy gây ô nhiễm ở VN hiện nay. Đó là tín hiệu mừng vì nền kinh tế đang lớn mạnh, nhưng nó cũng xả khí thải gây tác hại đến sức khỏe con người.

Tôi ngưỡng mộ người dân Việt Nam về những gì các bạn đã làm được. Tôi đã đi thăm Bảo tàng Dân tộc học tại Hà Nội và được biết Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó người Việt (dân tộc Kinh) là lớn nhất. Nhưng tất cả các dân tộc đều có quyền duy trì bản sắc, được gìn giữ tiếng nói riêng. Tôi vô cùng ấn tượng trước điều đó. Bởi, nước Mỹ được biết đến như một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa; nhưng tựu trung, tất cả mọi người dân Mỹ- bất kể nguồn gốc- đều phải mang “giá trị Mỹ”. Còn ở Việt Nam, các bạn cho phép mỗi dân tộc được là chính mình. Tôi sẽ cố gắng để những người dân Mỹ hiểu hơn về Việt Nam, cũng như tôi mỗi ngày đều học được một điều mới về Việt Nam.

– Ông mang theo hành trang nào trở lại Mỹ sau chuyến thăm này?

Tôi có quyết tâm lớn trong việc giúp người Mỹ hiểu hơn về sự vị tha của người dân Việt Nam. Tôi thấy điều đó ở mọi nơi, về lòng tốt của người Việt Nam. Tôi muốn truyền tải thông điệp đến người dân Mỹ rằng Việt Nam đang ngày càng đổi mới. Đất nước này không còn chiến tranh và không phải là kẻ thù của nước Mỹ. Có lẽ- từ đúng hơn- là Việt Nam chưa từng là kẻ thù của nước Mỹ. Người Mỹ cần phải có mối quan hệ tốt hơn với Việt Nam, và giúp đỡ Việt Nam để hàn gắn những vết thương chiến tranh.

Những nhân chứng sống cho sự quả cảm của dân tộc Việt

Dấu ấn trong chuyến thăm đến Việt Nam năm 2013 của giám mục Gumbleton còn là kỷ niệm chương mà ông được Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam trao tặng vì những đóng góp lớn trong việc vận động tuyên truyền các tổ chức, cá nhân giúp đỡ cho nạn nhân da cam Việt Nam. Theo ông Nguyễn Văn Rinh, ông Gumbleton là người rất tích cực trong việc vận động ủng hộ vụ kiện các công ty hóa chất Hoa Kỳ của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam. Ông đã cùng chung tay hỗ trợ tổ chức 6 đoàn nạn nhân da cam cùng lãnh đạo Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đến Mỹ và nhiều đoàn cựu binh Hoa Kỳ đến Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh. Giám mục Gembleton cũng là người có công vận động người công giáo và nhân dân Mỹ tích cực giúp đỡ nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam.

“Tôi đã được gặp và trò chuyện với rất nhiều nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Thật kinh khủng khi phải nhìn thấy những em bé sinh ra không có chân tay vì những hóa chất Mỹ đã rải xuống Việt Nam. Tôi không kìm được nước mắt chứng kiến một bé gái nhỏ không có tay đã cố gắng dùng những ngón chân giữ bút để viết chữ. Đó là những tội ác không thể tha thứ. Đó là những điều không ai được làm cho nhân loại. Những trẻ em nạn nhân của chất độc da cam là những nhân chứng sống cho sự quả cảm của dân tộc Việt Nam, khi các em vẫn cố vươn lên trong cuộc sống bất chấp những nỗi đau của mình. Mỹ cần phải giúp đỡ hơn nữa các nạn nhân và gia đình của họ. Nhiều gia đình đang phải sống trong hoàn cảnh quá khó khăn. Thật quá sức chịu đựng khi phải chứng kiến cuộc sống tồi tàn và những nỗi đau mà họ phải đối mặt hằng ngày”.

Giám mục Thomas Gumbleton là Ủy viên Ủy ban Giám mục soạn thảo thư mục sư “Những thách thức của hòa bình” (1983); Chủ tịch Tổ chức Bánh mỳ cho thế giới (1976-1984); Chủ tịch sáng lập Tổ chức Hòa bình Kitô (Pax Christi), Mỹ (1972 – 1991) và đồng sáng lập Liên minh Nhân quyền Michigan (1980). Ông từng đến Việt Nam những năm 1973, 1898. Cuối tháng 1.2013, ông có mặt tại Việt Nam tham dự sự kiện kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Theo Hội Những Người Ghét Bọn Phản Động (Facebook)