Phim tài liệu Việt Nam: Lời nguyền chiến thắng

Giới thiệu của blogger Thiếu Long Texas:

Cách đây không lâu mình đã viết đôi dòng về những bài hát rung động lòng người trong kháng chiến chống Mỹ. Hôm nay mình tình cờ xem được một bộ phim tài liệu rất hay và cảm động về chủ đề nhạc cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ này, xin được giới thiệu với các bạn.

Thời chống Mỹ được các nhân chứng lịch sử và giới nghiên cứu sử học thừa nhận là một thời kỳ bão táp, bi hùng nhất nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ, lãng mạn trong lịch sử Việt Nam.

Xưa nay giới nghiên cứu sử học, quân sự, chính trị học v.v. khắp Á – Âu khi tìm hiểu về lịch sử Hoa Kỳ, quân đội/quân sự Hoa Kỳ, và về hai cuộc chiến tranh của Pháp – Mỹ tại Việt Nam đều đặt ra một nghi vấn, một câu hỏi: Tại sao Việt Nam thắng Pháp – Mỹ? Nhất là vấn đề tại sao một xứ sở nhỏ bé và được cho là “nhược tiểu” như Việt Nam lại có thể thắng được đại cường quốc Hoa Kỳ. Và tại sao một thuộc địa nhỏ yếu như Việt Nam lại có thể ban cho thực dân Pháp thất bại đầu tiên và duy nhất của họ trước một đối thủ thuộc địa. Xưa nay không có thuộc địa Á – Phi nào thắng được thực dân Tây Dương, ngoài Việt Nam.

Các nhà nghiên cứu này nếu tìm hiểu cẩn thận lịch sử Việt Nam hàng ngàn năm nay thì sẽ thấy Việt Nam còn có những ngoại lệ khác. Dân tộc Việt Nam đã có những tiền lệ làm nên những chiến công khó tin trước phong kiến Trung Hoa, Mông Cổ, chứ không phải đột nhiên xuất hiện kỳ tích đánh Pháp đuổi Mỹ.

Nhiều người, nhiều nhóm đã bỏ công phân tích, nêu ra nhiều nguyên nhân, nhưng thường là không đầy đủ. Vấn đề này hầu như không thể nói ra rõ ràng được. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, các nhà sử học Việt Nam giao lưu, hàn huyên với các tướng lĩnh, giới sử học phương Tây, nhất là Pháp và Mỹ thì khi được hỏi điều đó thì các cụ cũng chỉ nói đại ý rằng các ông nên tìm hiểu thêm lịch sử nước Việt, nếu các ông biết lịch sử nước chúng tôi thì có lẽ các ông đã không thắc mắc điều đó.

Quả thật như vậy, trước khi quân dân Việt Nam lập nên chiến tích to lớn thắng Pháp – Mỹ lưu truyền hậu thế thì trước đó, quân dân Âu Lạc do Thục Phán lãnh đạo, sau 10 năm kháng chiến (218 TCN – 208 TCN), đã làm cho nhà Tần không thể tiếp tục cuộc chiến và phải rút quân về, sau khi đã tiêu diệt và đồng hóa các tộc khác trong khối Bách Việt. Trong khi đó tộc Lạc Việt và Âu Việt vẫn đứng vững và sinh tồn. Trong khi “Bạo Tần” là một sức mạnh vô địch lúc đó đã quét sạch và gồm thâu 6 nước vốn đã tồn tại hàng trăm năm, thống nhất Trung Hoa. Vó ngựa chinh phạt của họ phải dừng bước ở phương Nam.

Dân tộc Việt Nam cũng sinh tồn sau khoảng 1000 năm Bắc thuộc, không bị đồng hóa, vẫn giành lại được độc lập và thống nhất, giang sơn thu về một mối. Trong khi người Hán ở Trung Hoa là một dân tộc rất mạnh về văn hóa, họ đã đồng hóa đến cả những kẻ chiến thắng và đô hộ họ (Mông Cổ, Mãn Châu). Vậy mà khi họ đã chiến thắng quân sự trước dân Việt, và có cả chính sách đồng hóa, hòng biến người Việt thành người Hoa, nhưng âm mưu đồng hóa vẫn bất thành.

Đế quốc Mông Cổ thôn tính hơn 1/3 quả địa cầu, đánh chiếm và nô dịch cả nước Trung Hoa rộng lớn, đánh đâu được đó, không thể chiến bại. Vó ngựa vô địch của họ dẫm nát từ Á sang Âu và chỉ dừng bước sau khi đã đánh bại và cướp phá hả hê ở châu Âu, Trung Đông và Nga, họ không tiếp tục cuộc trường chinh ở các nơi này là vì các nơi này quá xa với triều đình trung ương Nguyên Mông.

Trước khi đụng đầu với Đại Việt, họ chỉ phải chịu lui binh không thành công 1 lần duy nhất trên đường đi biển đến xâm lược đảo quốc Nhật Bản. Họ không có hải quân nên phải sử dụng thủy binh người Hán, và trên đường đến Nhật do đường xa và kỹ thuật hạn chế nên đã bị sóng biển, thần phong đánh chìm gần hết các chiến thuyền. Trên đất Việt, họ 3 lần kéo đại quân, binh mã chính quy đông đảo và thiện chiến sang xâm lược và đều bị thất bại nhục nhã phải tháo chạy về nước.

Nghĩa là: Trước Pháp – Mỹ thì Việt Nam đã từng làm được những kỳ tích khó tin tưởng chừng như không thể. Đã có tiền lệ rồi. Đây là những sự thật thực tế khách quan và là niềm tự hào dân tộc chính đáng chứ không phải là “tự sướng” như các giọng điệu dèm pha, chê bai của những kẻ phản động.

Rõ ràng, dân tộc VN là một trong các dân tộc rất đặc biệt, và mạnh nhất trong vấn đề bảo vệ quê hương, làng nước, chống lại giặc ngoài. Đó là điểm mạnh. Còn điểm yếu thì là sau khi hết giặc thì bắt đầu trở lại với nếp sống, lối sống xuề xòa, dễ dãi, thậm chí tha hóa, tiêu cực.

Thời Bác Hồ nước ta có một không khí chính trị trong sáng, với một môi trường chính trị trong sạch, vậy mà với thiên tư chính trị của mình, Bác Hồ vẫn đề phòng, coi đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, và gọi tham nhũng tiêu cực là “giặc nội xâm”, ý muốn đặt ngang với giặc ngoại xâm để cảnh giác Đảng và quân dân, để cho mọi người nhận thức đúng tầm mức tác hại của loại giặc này, mối nguy này. Vậy mà ngày nay các thế hệ lãnh đạo và mọi người về cơ bản là chưa làm được tốt, thậm chí nhiều người làm rất tệ, nhiều kẻ xấu chui lọt vào bộ máy chính trị của chế độ để thủ lợi, làm giàu, nhiều người tốt bị tha hóa biến chất và tự diễn biến thành người xấu. Đây là những điều rất đáng suy ngẫm. Tuy nhiên đó là chuyện khác.

Trong cuộc đối chiến lịch sử giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, hai nước có thể nói là hai kỳ phùng địch thủ ở chỗ: Một nước chưa thua ai bao giờ và một nước có truyền thống đánh bại những đối thủ chưa thua ai bao giờ.

Tuy nhiên, đối thủ Hoa Kỳ này là một đối thủ rất áp đảo. Sau cuộc chiến các nhà văn trên thế giới hay dùng khái niệm sức mạnh con người, sức mạnh trí tuệ đã chiến thắng sức mạnh sắt thép, sức mạnh điện tử. Nhưng thực tế thì nhân lực Hoa Kỳ cũng rất mạnh, và trí tuệ của họ cũng rất cao, nếu nhân sự họ không tài giỏi, trí tuệ họ không thông minh thì làm sao họ hùng mạnh được như vậy và đánh đâu được đó.

Nhiều chuyên gia, sử gia Nga và Trung Quốc thì cho rằng Mỹ thua Việt Nam một phần là vì thật ra Mỹ chỉ là con hổ giấy chứ cũng không phải quá mạnh như vậy, rằng quân đội Mỹ không phải là vô địch, họ còn thua Hồng quân (Liên Xô), hay ít nhất chỉ là ngang ngửa với nhau thôi, chứ quân Mỹ không phải là nhất thế giới.

Tuy nhiên vấn đề quân sự thì bao gồm cả hệ thống chính trị, do đó phải dùng sức mạnh quốc gia để đo lường chứ không chỉ có duy nhất quân sự. Và lịch sử đã chứng minh sức mạnh nước Mỹ mạnh hơn nhiều so với sức mạnh Liên Xô. Nước Mỹ sau khi thua VN thì vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Còn Liên Xô không đánh thua ai nhưng bị sụp đổ. Rõ ràng lịch sử xưa nay trên thế giới chưa từng thấy một đế chế, quốc gia nào hùng mạnh đến như vậy.

Hoa Kỳ là một đối thủ mạnh nhất mà lịch sử Việt Nam chưa từng thấy, mạnh hơn hẳn các đối thủ khác của Việt Nam trong lịch sử. Khoa học kỹ thuật, công nghệ chiến tranh của Mỹ cao hơn Việt Nam gấp hàng trăm lần. Tuy VN được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ hạn chế về vũ khí và chuyên gia khoa học, nhưng khoảng cách vũ khí tối tân, khoa học quân sự, công nghệ quốc phòng giữa Việt – Mỹ vẫn cách biệt rất xa. Không như thời phong kiến, dù quân viễn chinh có hùng mạnh tinh nhuệ đến cấp độ nào thì các bên chiến tuyến đều chủ yếu dùng cung nỏ kiếm đao đánh nhau.

Do đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài tham luận “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử” cho hội thảo khoa học “Đại thắng mùa Xuân 1975 – Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương tổ chức trong hai ngày 14 và 15 tháng 4 năm 2005 đã nói về thời khắc nước sôi lửa bỏng khi đó: “Dân tộc Việt Nam đứng trước một khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử”…. và…. “Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.”

Vậy tại sao Việt Nam thắng Mỹ và tại sao Mỹ thua Việt Nam? Việt Nam thắng Mỹ, như các chuyên gia nghiên cứu trên thế giới đã phân tích, là nhờ sự tổng hòa, tổng hợp của nhiều nguyên nhân và yếu tố. Nhưng, nói cho cùng, yếu tố quyết định vẫn là ở chủ đạo dân tộc và truyền thống bảo vệ làng nước của dân tộc từ ngàn xưa truyền lại.

Một khi dân ta đoàn kết, khi khối đại đoàn kết dân tộc được vững mạnh, cùng đồng lòng đoàn kết chống giặc, khi muôn triệu trái tim đều cùng chung nhịp đập, vạn người như một, thì quân dân Việt Nam đã biến thành một sức mạnh vô biên và trước sau gì cũng sẽ đánh bại tất cả kẻ thù xâm lược. Năm nay chưa thắng thì năm sau sẽ thắng, thập niên tới sẽ thắng, thế hệ sau sẽ thắng, bao lâu cũng được, đánh cho tới khi thắng mới thôi. Người này ngã xuống thì người kia đứng lên. Ông ngã xuống, cha đánh tiếp, cha ngã xuống, con cháu sẽ báo thù phục hận và nối nghiệp, nối tiếp cuộc kháng chiến để đền nợ nước, trả thù nhà.

Bác Hồ đã đúc kết lại điều đó như sau: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Cho nên, Việt Nam thắng là vì nếu đoàn kết, nếu đồng lòng, nếu một lòng kháng chiến, không sợ hy sinh gian khổ, thì VN sẽ tất thắng, vấn đề chỉ là thời gian. Còn tại sao Mỹ thua? Cựu chiến binh, nhà nghiên cứu quân sử Việt Nam Trần Trọng Trung khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Mỹ đã nói đanh thép gọn gàng tương tự ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, sử gia, nhà nghiên cứu Việt Nam khác, đại ý: Mỹ đã không học kỹ sử Việt, chọn sai đối tượng xâm lược ngay từ đầu. Bởi vì cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam vốn dĩ ngay từ ban đầu đã là một cuộc chiến tranh tất bại, thất bại tất yếu. Người Mỹ không học kỹ chiến sử Việt Nam nên đã nhắm mắt đưa chân, sa lầy vào trong một cuộc phiêu lưu quân sự bế tắc.

Đồng thời, tài lãnh đạo của các nhân vật lãnh đạo cuộc chiến của Việt Nam đã tận dụng hiệu quả yếu tố địa lợi và nhân hòa, đây là 2 yếu tố mà Việt Nam đã chiếm ưu thế áp đảo trước Hoa Kỳ, thậm chí lợi thế nhân hòa này không phải chỉ có trong nước Việt Nam, mà còn lan rộng ra toàn cầu, cả thế giới, trong đó có cả chính quốc Hoa Kỳ, diễn ra hàng chục ngàn cuộc biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, đòi chính phủ Mỹ phải rút quân viễn chinh và kết thúc chiến tranh.

Một cựu chiến binh từng nói một câu rất hay rằng trong thời chống Mỹ thì “dân tộc này đã hóa thánh”. Suy ra, nếu dân tộc biết đoàn kết, đồng lòng cùng nhau chống ngoại xâm, thì cuộc kháng chiến ngay từ đầu vốn dĩ đã là một cuộc chiến tất thắng. Mỹ tuy đúng là to lớn hùng mạnh áp đảo, nếu phải là “thánh” thì mới thắng được Mỹ thì dân tộc Việt Nam cũng sẽ “hóa thánh” được để thắng Mỹ. Nếu cần phải “hóa thánh” mới thắng được giặc, thì dân tộc VN cũng sẵn sàng “hóa thánh”.

Quả thật, nhìn lại Việt sử thời chống Mỹ, những đức tính đó, những hy sinh đó, những đỉnh cao trí tuệ thời chiến đó, những mưu lược, kế sách đó, những chiến công, kỳ tích đó, những gian lao đó, chỉ có thể dùng khái niệm “thần thánh” để diễn tả.

Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử, mỗi khi có giặc, thì dân tộc VN sẽ vươn mình lớn lên vừa đủ để thắng một đối tượng ngoại xâm nào đó. Giặc càng mạnh thì sẽ dân ta càng mạnh. Sở dĩ thời chống Mỹ dân tộc đã “hóa thánh”, mọi chất lượng chiến đấu, lao động, sản xuất, văn hóa nghệ thuật, trong đó có nhạc cách mạng đều tăng lên vượt bực, là vì đối tượng ngoại xâm lúc đó là Mỹ, là một siêu cường mạnh nhất mà lịch sử thế giới chưa từng có. Dân tộc VN phải như vậy, mọi chất lượng phải tăng cao lên như vậy, thì mới thắng được loại giặc mạnh đến mức độ đó. Đây là một nhu cầu, để giải quyết nhu cầu đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, thì dân mình buộc phải như vậy.

Và hiện tượng trên trong lịch sử Việt Nam đã thể hiện trong truyền thuyết Thánh Gióng. Khi có giặc Ân đến xâm lấn, thì đứa trẻ sẽ phải lớn nhanh, sẽ phải trưởng thành mau chóng, để đủ sức đánh giặc. Trong thời chống Mỹ có rất nhiều đứa trẻ phải “lớn lên” nhanh chóng và tham chiến chống giặc theo khả năng của bản thân. Tham gia giao liên, đưa tin, cứu thương, tải đạn, thậm chí cả đánh giặc bằng vũ khí thực thụ, bắn máy bay Mỹ….

Rồi sau khi hết giặc, Thánh Gióng bay về trời. Chất “thánh” của dân tộc lại hết. Suốt chiều dài lịch sử nước nhà luôn diễn ra chuỗi quy luật như vậy. Sau giải phóng năm 1975, sau khi hết giặc Mỹ, thì chất “thánh” của dân tộc lùi dần. Cả nước trở lại dễ dãi, xuề xòa, “sao cũng được”, thậm chí quay lại thói quan liêu phong kiến, và đến nay nhiều bộ phận đang tha hóa.

Trong thời chống Mỹ, cả thế giới nhìn thấy một Việt Nam “hóa thánh”, nhờ đó đã lập nên được một chiến công thần thánh khiến thế giới kinh ngạc và không thể giải thích, mãi đến tận ngày nay người ta vẫn nói về Chiến tranh Việt Nam. Mọi chủ đề về Mỹ, về Việt Nam, đều làm cho dư luận thế giới liên tưởng và nhớ lại Chiến tranh Việt Nam. Những câu “Hồ Chí Minh, Tướng Giáp, Việt Nam” đã trở thành câu nói quen thuộc của nhiều người trên thế giới. Học viện quân sự West Point, ngành sử học ở đại học Harvard, Cambridge vẫn đang có những hội thảo, nghiên cứu, tranh luận về nguyên nhân thất bại của quân đội Mỹ trước Việt Nam. Họ cố gắng phân tích, giải thích, tìm ra lý do vì sao Mỹ thua VN, từ đâu và cái gì đã làm nên chiến công hiển hách và sự thất bại đầu tiên và đang là duy nhất của quân Mỹ trong lịch sử.

Sau thời chống Mỹ, cả thế giới nhìn thấy một Việt Nam tuy có phát triển phần nào, nhưng rõ ràng là không còn “thần thánh” gì cả, mà trở thành rất đỗi bình phàm. Những hiện tượng tiêu cực “phàm phu tục tử” thấy ở mọi ngõ ngách. Trong khi thời chống Mỹ thì quả thật “ra ngõ là gặp anh hùng”, những anh hùng sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, với những khát vọng vào Nam, vào thành đánh Mỹ đến mức độ sẵn sàng tìm đủ mọi cách để được đi lính, thậm chí cả gian lận. Thời nay thì nhiều thanh niên cũng gian lận, nhưng không phải với mục tiêu cao cả đó, mà với những mục tiêu không thể tầm thường hơn, xôi thịt, thậm chí là xấu xa, trái đạo và trái luật.

Hiện tượng “có giặc thì trưởng thành nhanh và hóa thánh, hết giặc thì không còn chất thánh” đó phải chăng chính là ám thị đằng sau truyền thuyết Thánh Gióng, một thông điệp, một bài học lớn mà văn minh cổ xưa Việt Nam đã truyền lại để răn dạy hậu thế?

oOo

Phim tài liệu này đã gián tiếp giải đáp 3 câu hỏi: 1) Tại sao Việt Nam thắng Mỹ. Không, âm nhạc và nhạc cách mạng không phải là nguyên nhân VN thắng Mỹ. Song tình cảm dân tộc sâu đậm, chủ đạo dân tộc, truyền thống đánh giặc giữ làng giữ nước của dân tộc Việt Nam từ bao đời đã phản ánh vào trong các bài hát này, các nhạc sĩ đã thay mặt đồng bào chung quanh họ gởi gắm thông điệp đó, ý chí đó, lý tưởng, tình cảm đó vào trong từng nốt nhạc.

2) Tại sao dòng nhạc cách mạng của Việt Nam thời chống Mỹ lại hay đến vậy. Trong khi các nước khác như Trung Quốc, âm nhạc họ có bao nhiêu nhạc phẩm hay tuyệt, nội âm nhạc trong vài bộ phim cũng đã hay ngất ngây, nội trong phim Tây Du Ký thôi đã có bao nhiêu bài hay. Vậy mà tìm không ra nhạc chiến đấu, nhạc động viên, nhạc quân hành nào của họ mà nghe hay.

Việt Nam trong thời bình thì nhiều ca khúc cách mạng cũng được sáng tác, đôi khi có những thi đua sáng tác. Trong nhiều dịp lễ lớn có các cuộc thi sáng tác cho các sự kiện đó. Nhưng nhạc cách mạng ngày nay vẫn không thể sánh bằng với nhạc thời chống Mỹ. Có một số bài cũng chỉ dừng ở mức “nghe được” hoặc “mì ăn liền”, nghe hay và có thể có cảm xúc nhất thời, nhưng sau vài tiếng là quên sạch. Cho thấy đã là âm nhạc thì nếu không có cảm hứng, không có tâm hồn, thì dù có kêu gọi, động viên sáng tác cỡ nào thì cũng vẫn không tài nào nghe hay được.

3) Tại sao người ta lại sáng tác ra được những kiệt tác như vậy. Các nhạc sĩ đã sáng tác những bài ca rung động lòng người đó trong hoàn cảnh nào. Họ sáng tác như thế nào. Các tuyệt tác đó được hình thành ra sao.

Sau khi coi bộ phim tài liệu này các bạn sẽ biết câu trả lời cho 3 câu hỏi đó. Đây còn là một trong những bộ phim tài liệu có lời bình hay nhất trong tất cả các phim tài liệu trong và ngoài nước mình từng coi. Đây cũng là một trong những phim tài liệu về âm nhạc, về lịch sử khá nhất mình từng coi.

Các nhạc sĩ kể lại quá trình sáng tác của họ một cách rất chân chất và tự nhiên, có sao kể vậy. Nhạc sĩ Huy Thục kể lại một câu chuyện rất ấn tượng về Bác Hồ, cho thấy Bác không bỏ qua một cơ hội nào để cảnh tỉnh các đồng chí, cộng sự, cấp dưới về chuyện phải cảnh giác vấn đề “tơ hào của dân”. Với đầu óc nhạy bén thiên tài, Bác đã làm như vậy ngay trong khi vấn đề tham nhũng khi đó vẫn chưa thành một chủ đề lớn, tuyệt đại đa số cán bộ đảng viên đều đang trong sáng, trong sạch. Các lãnh đạo (trong sạch) ngày nay nếu chưa làm thì nên học Bác Hồ ở vấn đề “nhắc đi nhắc lại”, “dặn đi dặn lại” với cấp dưới, thay vì chỉ có đọc diễn văn hay tuyên huấn rồi thôi.

Nhạc sĩ Tố Hải nói thẳng thắn: “Sau trận Mậu Thân trốn trên núi đói thấy ông nội….” Hay nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu kể lại câu chuyện ông ta đã phổ nhạc xong xuôi hẳn hoi một bài thơ về Tây Nguyên vì thấy bài thơ hay. Nhưng sau khi tìm tòi kỹ hơn về Tây Nguyên và nghe lại bài hát của mình thì ông thấy nó chẳng có chút chất Tây Nguyên nào mà là “Tây nguyên xi”. Thế nên đành phải bỏ bài hát đó. Sau đó ông phải lặn lội đến Tây Nguyên, đích thân sinh sống, lao động chung với người Tây Nguyên, rồi sau đó ông mới sáng tác được những tác phẩm ưng ý.

Các nhạc sĩ kể lại nhiều chi tiết thú vị. Xem phim này các bạn sẽ biết thêm được các thông tin ít người biết, ít người để ý, như nhạc sĩ của bài hát nổi tiếng “Hà Nội, niềm tin và hy vọng” lại là một người miền Nam. Hay nhạc sĩ Phạm Tuyên kể lại khi đưa bài “Như có Bác trong ngày đại thắng” lên đài phát thanh hát thì bị “chê” rằng: “Sắp chiến thắng lớn như thế mà sáng tác bài gì nghe như nhạc thiếu nhi thế này”.

Phim chủ yếu giới thiệu các nhạc phẩm tiêu biểu của các tác giả còn sinh sống và phỏng vấn họ, do đó về yếu tố âm nhạc thì phim chưa được đầy đủ lắm. Nhưng nó vẫn là một bộ phim tài liệu chất lượng cao, có giá trị, và rất đáng xem.

Đây là một bộ phim tài liệu rất hay, xin giới thiệu với các bạn:

Tập 1: Niềm tin

Tập 2: Hy vọng

Tập 3: Mùa xuân

Tập 4: Khúc khải hoàn

Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Tổng hành dinh ngày 30/4/1975

TỔNG HÀNH DINH NGÀY 30-4-1975 (1)

Lời Tòa soạn Tạp chí Xưa & Nay: Vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày Giải phóng miền Nam (1975-2000), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sẽ cho ra mắt bạn đọc cuốn hồi ức: “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Nhân toàn bộ cuốn hồi ức được phát hành, được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi xin trích một đoạn trong chương IX mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, đoạn viết về những động thái diễn ra tại Tổng hành dinh trong ngày 30-4-1975.

Ngày 30-4-1975.

Gần ba mươi năm qua, mà ngày lịch sử ấy vẫn hiện lên đậm nét trong ký ức, như mới hôm nào.

“Nhà con rồng” hôm nay hình như rạng rỡ hơn trong gió xuân ấm áp. Ngôi nhà cũ, thềm sân rộng và cả bốn con rồng đá chầu ở bậc lên xuống như tươi tắn hơn mọi ngày. Những cây ngọc lan tán lá sum suê, toả hương thơm ngát.

Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố. Tôi phác hoạ trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy, với bao nhiêu công việc phái làm: hội ý Bộ Chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, chính trị trong trường hợp chưa dứt điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến và nổi dậy ở phần đất còn lại sau khi Sài Gòn giải phóng, điện động viên bộ đội, nhắc nhở chấp hành nghiêm các chính sách vào thành.

Bất giác, tôi nhớ lại ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954. Lẽ tất nhiên ở đây có rất nhiều điểm khác. Thế nhưng, cũng cái không khí phấn khởi sôi nổi ở Sở chỉ huy, cũng những giờ phút nao nức đón tin vui từ phía trước điện về, những suy nghĩ về công việc ở cuối và sau chiến dịch. Và nhất là cũng cái cảm giác lâng lâng khó tả, vừa khẩn trương, sôi nổi, vừa đàng hoàng, chủ động, vừa lo lắng chờ đợi, vừa vui sướng, tự hào, lúc này không còn là của riêng ai trong ngày toàn thắng của dân tộc.

Anh Ba, anh Trường Chinh, anh Đồng cũng đến đây sớm hơn thường lệ. Các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt đến sau, đông đủ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn – Gia Định, thảo luận công việc và đón tin toàn thắng. Anh Cao Văn Khánh, trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo tình hình mới nhất. Các mũi tiến công của quân ta phát triển rất nhanh về hướng trung tâm thành phố. Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần, chỉ còn tính từng giờ. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng, nhưng mọi người đều vui vẻ chấp nhận.

Anh Khánh báo cáo: Đại sứ Mỹ Matin chuồn khỏi Sài Gòn lúc 4 giờ 15 phút sáng. Hy vọng của ông ta thoả hiệp, đàm phán với “Việt cộng” tan vỡ như bọt xà phòng.

Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II trong cánh quân phía đông của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo của ta ở Nhơn Trạch đã bắn hơn 300 viên đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đang tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn IV tiến về Hố Nai. Địch liều mạng chống giữ. Ta tiêu diệt Hố Nai, đang tiến công sở chỉ huy Quân đoàn III nguỵ, chuẩn bị tiến vào nội đô.

Sư đoàn 10 Quân đoàn III đang tiến vào ngã tư Bảy Hiền.

Quân đoàn I đánh vào Lai Khê, phú Lộc, Lái Thiêu, đang tiến vào Gò Vấp; một cánh quân khác đánh địch từ cầu Bình Phước đến cầu Bình Triệu.

Đoàn 232 đang tiến về hướng Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát nguỵ.

Trên đường số 4, quân ta đã chiếm Thủ Thừa, thị xã Tân An.

Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Gia Định áp sát bắc sân bay Tân Sơn Nhất, mở hành lang vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hoà.

Lực lượng vũ trang Biên Hòa phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Nhơn Trạch. Thành Tuy Hạ.

Ở vùng ven đô và nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Ở nhiều quận, nhiều phường xóm, đồng bào vùng lên chiếm đồn bốt địch, trụ sở nguỵ quyền. Cờ cách mạng đã tung bay ở phường Tây Nhì, quận Phú Nhuận từ trưa ngày 29-4.

Một cảnh tượng điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức hào hùng. Tiến công kết hợp với nổi dậy. Quân sự, chính trị, binh vận giáp công. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng áp đảo nguỵ quân, nguỵ quyền đang tan rã.

Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng vũ trang ta đã ém sẵn quanh các mục tiêu quan trọng. Ở Bạc Liêu, quân ta đã vào thị xã. Ở Sóc Trăng, ta đang tiến công thị xã và sân bay.
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trao đổi về những công việc cấp thiết. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi điện vào chiến trường: … “ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nội dung:

a) Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam.

b) Quân đội nguỵ quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng.

c) Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp.

d) Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng Quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài san của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu”.

Vừa theo dõi tin kỹ thuật của Cục 2, tôi vừa liên lạc bằng vô tuyến điện thoại tiếp sức với Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Các cánh quân của ta đang tiến rất nhanh. Địch đang trong tình trạng vô cùng nguy khốn.

10 giờ sáng. Đồng chí Nguyễn Thanh, trưởng phòng 70 vào báo cáo tin vừa nhận được: Theo Đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng.

Mọi người cùng nói: “Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng?!”.

Tôi viết ngay một bức điện, lệnh cho các cánh quân tiếp tục tiến công. Nội dung bức điện được đọc lên, tất cả đều nhất trí. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điện cho các quân đoàn và đoàn 232 không vì có tin ấy mà dừng lại.

10 giờ 50 phút. Cục 2 báo cáo quân ta đã vào dinh Tổng thống nguỵ. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này.

11 giờ 30 phút. Đồng chí Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của anh Lê Trọng Tấn báo cáo: một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.

Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự. Tin từ các hướng tới tấp điện về. Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Còn. Quân đoàn II chiếm dinh Tổng thống; Quân đoàn IV chiếm Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng và Đài phát thanh; Quân đoàn I chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu vực các bộ tư lệnh các binh chủng; Quân đoàn III chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; Đoàn 232 chiếm Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành thắng lợi.

Trong không khí hân hoan, hội nghị sôi nổi trao đổi về những biện pháp cuối cùng. Tôi điện ngay vào chiến trường thông báo ý kiến của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “… Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. Đã nhận tin ta cắm cờ lên dinh Độc Lập lúc 11 giờ. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui”

Bức điện gửi đi lúc 12 giờ 25 phút.

Hội nghị ngừng họp.

Các đồng chí lãnh đạo ra cả ngoài hành lang. Tiếng cười nói rộn ràng, vui vẻ. Phấn khởi, nghẹn ngào, xúc động đến trào nước mắt.

Anh Ba, các anh trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ai nấy đều nhớ đến Bác Hồ. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất mà Bác hằng mong đã thành sự thật, nhưng Người đã đi xa! Đồng bào, chiến sĩ miền Nam không còn được đón Bác vào thăm. Mọi người nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống, không được thấy giờ phút khải hoàn. Ngay trong chiến dịch cuối cùng, bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn ra đi trước ngày toàn thắng.

Tôi chỉ thị cho Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Việt Nam Thông tấn xã và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời truyền tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ mười lăm phút sau, đài đã ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại những dòng tin phấn khởi mà muôn vạn con tim Việt Nam đón đợi: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.

12 giờ 50 phút.

Tại Sở chỉ huy, có mặt Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Đại tá Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục tác chiến, Đại tá Nguyễn Trọng Yên và Thượng tá Phạm Chí Nhân, Cục trưởng và Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, cơm nước. Được sống trong giờ phút lịch sử của dân tộc, ai cũng muốn được ghi lại hình ảnh kỷ niệm vô giá này Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn – Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay tôi chỉ. Thượng uý Nguyễn Tiến Trỗ, cán bộ bảo vệ thường xuyên đi với tôi, nhà nhiếp ảnh nghiệp dư với chiếc máy ảnh hiệu Kiép, đã bấm liền ba kiểu ở góc độ thích hợp nhất.

Buổi chiều, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tiếp tục họp.

Mở đầu, Hội nghị nghe qua dây ghi âm tiếng nói đầu hàng của Tổng thống nguỵ Dương Văn Minh: “Tôi là Dương Văn Minh, Tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Tiếp đó là đại biểu Quân giải phóng chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

Hội nghị tiếp tục thảo luận về công việc sắp tới và nêu lên những vấn đề sẽ bàn trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 3-5, chuẩn bị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể.

Gần cuối buổi họp, mọi người nghe đọc hai bức điện của các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng vừa nhận được, trong đó các anh nói rõ: Dương Văn Minh đã đầu hàng, các cánh quân của ta tiếp tục phát triển theo kế hoạch. Ta kêu gọi quân địch nộp vũ khí… Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sôi sục nổi dậy, lật đổ nguỵ quyền, lập chính quyền cách mạng.

Hội nghị nhất trí gửi ra phía trước bức điện khen: “… Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn – Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc nguỵ quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, đưa chiến dịch mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.

Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng, cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc”(1).

Các anh trong Bộ Chính trị ra về. Các đồng chí trong Thường trực Quân ủy ngồi lại trao đổi, chuẩn bị cho cuộc họp của Quân ủy Trung ương dự định tiến hành vào ngày 2-5. Tôi nhắc thêm một số công tác cần chú ý làm thật tốt, nhất là việc quản lý vùng mới giải phóng, đặc biệt các thành phố lớn, vừa xây dựng chính quyền cách mạng vừa truy quét tàn binh, bắt giữ bọn phản động đầu sỏ, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản, tính mạng của dân và tài sản công cộng, ổn định đời sống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải là một cán bộ dân vận, biết phát động nhân dân cùng với bộ đội và các lực lượng cách mạng làm chủ địa bàn. Tôi cũng lưu ý Bộ Tổng Tham mưu giải quyết số quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, đón anh chị em tù chính trị trở về. Việc xây dựng và điều chỉnh lực lượng trong điều kiện đất nước thống nhất và số lượng rất lớn trang bị kỹ thuật của địch vừa thu được cũng phải khẩn trương nghiên cứu đề xuất với Bộ Chính trị và Quân ủy.

Mặt trời đã khuất bóng sau rặng cây xà cừ trên đường Hoàng Diệu. Hà Nội đã lên đèn.

Còn lại một mình trong phòng làm việc với niềm vui náo nức, mà sao nước mắt tôi cứ trào ra.

“Giá như còn Bác…”.

Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Câu thơ xuân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã vạch đường đi nước bước để có thắng lợi hôm nay.

Tôi lên xe đi một vòng quanh Hà Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Người đi chật phố, chật đường, vui như trảy hội. Đêm nay, Thủ đô đốt pháo hoa mừng toàn thắng. Đêm nay, Hà Nội, cả nước vui với Sài Gòn, vui với miền Nam.

Trở lại cửa tây, tôi vào Sở chỉ huy tiếp tục làm việc.

Hình ảnh các anh lãnh đạo, chỉ huy bộ đội ở chiến trường lúc này hiện về rõ nét. Chắc các anh đã nhiều đêm không ngủ. Chắc các anh cũng hân hoan, xúc động như chúng tôi ở ngoài này. Dưới sự chỉ huy của các anh, quân ta đã “tiến vào Sài Gòn!” ca vang câu hát: “Đồng bào ơi, ta đã về đây” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, như ngày nào bộ đội ta từ năm cửa ô tiến về giải phóng Thủ đô Hà Nội, ca vang bài hát của nhạc sĩ Văn Cao.

Trong điện gửi anh Văn Tiến Dũng và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, thay mặt Quân ủy Trung ương, tôi tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang ta đã cùng đồng bào Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng Sài Gòn – Gia Định, giành thắng lợi vang dội, làm nức lòng quân và dân cả nước và bè bạn năm châu.

Một khuôn mặt trìu mến, thân quen chợt hiện lên trong tôi: Trung tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy cánh quân đầu tiên tiến vào dinh Tổng thống nguỵ quyền. Tôi viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự: “18 giờ 30 phút. Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khoẻ và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó. Ký tên: Văn”.

Sau này được biết: Khi nghe báo cáo quân ta đã chiếm dinh Độc Lập, Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng, cả Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng trong niềm vui chiến thắng. Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng xúc động ôm hôn mọi người. Anh Đinh Đức Thiện, vui tính là thế, mà giờ lại là người khóc ra tiếng to nhất. Anh Trần Văn Trà, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng anh Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.

Mấy ngày sau, tôi cùng anh Ba vào thăm miền Nam hoàn toàn giải phóng. Quên sao được niềm vui mừng phấn khởi khi đặt chân trở lại trên thành phố mang tên Bác, xúc cảm trước cảnh hân hoan mừng chiến thắng của đồng bào, đồng chí trên phố phường còn nguyên vẹn, tưởng như được đón Bác trở về từ nơi Người đã ra đi.

Chúng tôi về thăm các cơ sở cách mạng ở Sài Gòn, Biên Hoà, Cần Thơ, Rạch Giá, những chiếc nôi đã nuôi dưỡng, chở che cho bao cán bộ kiên trung đi làm cách mạng không hẹn có ngày về. Vui mừng, xúc động, anh Ba giới thiệu các Ba, các Má đã nuôi anh những ngày hoạt động bí mật trong lòng địch. Trước cảnh cũ người xưa, tôi bồi hồi nhớ lại những lần vào Nam thực hiện các nhiệm vụ cách mạng được giao. Năm 1929, với tư cách phái viên của Tổng bộ Tân Việt và nhóm cộng sản trong Tân Việt, tôi đến Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển kỳ bộ Tân Việt sang hàng ngũ cộng sản. Sau đó, năm 1935, tôi lại vào gặp nhóm đảng viên hoạt động nửa công khai, nhận tài liệu của Đông Dương Đại hội mang ra Hà Nội. Tìm đến các cơ sở cũ thì hầu hết đã không còn nữa. Nhiều ân nhân của cách mạng không còn được thấy ngày khải hoàn của dân tộc.

Tiếp đó, tôi đến thăm các binh đoàn chủ lực, các đơn vị đặc công, biệt động, các đơn vị bộ đội địa phương. Những “Anh bộ đội Cụ Hồ” vừa làm nên kỳ tích, nhưng hết sức gian dị, thân tình. Tôi khen ngợi chiến công của cán bộ, chiến sĩ, lòng bùi ngùi thương tiếc bao đồng chí, đồng đội vừa ngã xuống để Tổ quốc trường tồn.

Tôi cũng đã đến quan sát Bộ Tổng Tham mưu quân đội nguỵ. Tại phòng làm việc của Tổng Tham mưu trưởng, tôi chú ý đến tờ lịch ngày 28 tháng 4 còn bóc dở. Trong phòng triển lãm vũ khí, nhiều loại vũ khí trang bị hiện đại đều được trưng bày. Trên một tấm bản đồ Đông Dương chi chít những dấu chấm xanh, đỏ, đánh dấu những nơi mà vũ khí, trang bị điện tử phát hiện các căn cứ của ta, nhất là trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn. Cảm tưởng sâu sắc nhất của tôi là: vũ khí kỹ thuật Mỹ dù hiện đại đến đâu cũng không thể cứu kẻ thù khỏi thất bại. Quyết định thắng lợi là con người Việt Nam yêu nước, dũng cảm, thông minh.

(2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr. 395.
(1) Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 74, tháng 4 năm 2000, tr. 4-6. Nội dung bài này được trích đoạn từ hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Sđd (B.T).

Theo: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng / Tạp chí Xưa & Nay / Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam / Quân sử Việt Nam

Tết Mậu Thân – Trận quyết chiến chiến lược lịch sử – Đại tướng Võ Nguyên Giáp

TẾT MẬU THÂN – TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC LỊCH SỬ (1)

Cách đây 30 năm, đúng vào lúc giao thừa Tết Mậu Thân, hưởng ứng hiệu lệnh của Bộ Thống soái tối cao đứng đầu là Bác Hồ kính yêu, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc tổng tấn công và nổi dậy mà lúc bấy giờ đề ra là tổng công kích – tổng khởi nghĩa, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, vào các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

Cuộc tiến công táo bạo và bất ngờ đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ – ngụy, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng Tham mưu, Tổng Nha cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần hiện đại nhất của Mỹ – ngụy.

Bất ngờ về thời gian: lúc giao thừa.

Bất ngờ về mục tiêu: các đô thị và các căn cứ quan trọng.

Bất ngờ về quy mô: không phải đánh vào vài chục điểm nhỏ như phán đoán của tình báo địch, mà đánh đồng loạt, trên khắp chiến trường miền Nam.

Cuộc Tổng tiến công đã diễn ra trong tình hình địch đã leo thang đến đỉnh cao: trên 50 vạn quân đội viễn chinh Mỹ và chư hầu, cùng với đội quân được hiện đại hóa của ngụy, tất cả là 1 triệu 20 vạn quân; và trong khi tướng Oétmôlen đang chuẩn bị đợt tấn công thứ ba sau những trận tiến công thất bại của quân đội Mỹ trong hai mùa khô qua, trước mắt thì đang khẩn trương cứu nguy cho căn cứ Khe Sanh, ở đó 2/5 lực lượng chiến đấu Mỹ đã bị ta vây hãm và tiến đánh trong một cuộc nghi binh tài giỏi nhằm đánh lạc hướng quân địch.

Như nhận định của một nhà lịch sử quân sự Mỹ, cuộc tấn công đã gây cho Mỹ một cú “choáng đột ngột”, đã làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến dự định của Mỹ. Nó đã làm rung chuyển không những toàn bộ chiến trường miền Nam mà còn làm rung chuyển Lầu Năm Góc và cả nước Mỹ. Cuộc tổng tấn công đã đưa cảnh tượng chiến tranh vào mỗi gia đình Mỹ, vào Quốc hội Mỹ. Trong phút chốc, nhân dân Mỹ bừng tỉnh, thấy nước Mỹ đang lao vào một cuộc chiến tranh đẫm máu, đang lún sâu vào đường hầm không có lối thoát; cao trào chống chiến tranh ở Mỹ lan rộng và lên cao chưa từng có. Té ra những câu chuyện “chiến thắng ở Việt Nam” mà Lầu Năm Góc thường tung ra đều là những điều dối trá. Cả thế giới theo dõi, khâm phục ý chí giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của Mỹ phát triển mạnh.

Thắng lợi quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân là đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Giônxơn phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Pari, thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Giônxơn thôi không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ hai.

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, mở ra khả năng cho ta thực hiện chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, để tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giành lại độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc Việt Nam.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân có được những kỳ tích ấy là do cả nột quá trình đấu tranh của đồng bào và chiến sĩ trên cả hai miền Nam – Bắc, do ta đã có một kế hoạch chuẩn bị gian khổ, kiên trì và mưu trí trên chiến trường miền Nam trong nhiều tháng, có nơi hàng năm như ở Sài Gòn, Huế… Do vậy khi nổ súng tấn công thì các lực lượng tinh nhuệ của ta đã ém sẵn ở các vị trí hiểm yếu của địch, ở hầu khắp các vùng nội thành.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân thật là to lớn. Song, trong khi đánh giá cao thắng lợi, tại cuộc hội thảo khoa học này, chúng ta không thể không nói đến một số khuyết điểm, mà sau này Trung ương Đảng ta cũng đã nêu rõ. Do nhận thức và đánh giá chưa thật sát đúng tình hình, nên lúc đầu ta đã đề ra chủ trương tổng khởi nghĩa ngay trong lúc chiến tranh đang diễn quyết liệt, địch còn khá mạnh là không thực tế; cuộc tổng không khởi nghĩa đã không diễn ra. Ta đã kéo dài cuộc tổng tiến công vào các đô thị trong khi yếu tố bất ngờ không còn, địch đã củng cố. Ta đã chậm chuyển hướng về nông thôn rộng lớn, ở đó một thời gian quân địch hầu như bị tan vỡ từng mảng, trước những cuộc nổi dậy của nhân dân. Khuyết điểm, sai lầm ấy đã gây cho ta những tổn thất và khó khăn về sau.

Tổ quốc mãi mãi ghi nhớ tấm gương nghĩa liệt của biết bao anh hùng liệt sĩ, của bộ đội biệt động và đặc công, bộ đội chủ lực, địa phương và du kích, của các cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng, của đồng bào yêu nước đã có công lớn tham gia chiến đấu và nổi dậy, hưởng ứng và ủng hộ cuộc tổng tiến công để cho chúng ta giành được thắng lợi to lớn nói trên.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đánh dấu một bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Lần đầu tiên, ta đã tổ chức và phát động một cuộc tấn công đồng loạt trên khắp chiến trường rộng lớn và các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được bất ngờ đến giờ nổ súng.

Bài học lớn là: biết dựa vào dân, biết kết hợp chủ nghĩa anh hùng cách mạng vô song của nhân dân Việt Nam với trí tuệ sáng tạo Việt Nam, từ Bộ thống soái tối cao cho đến đông đảo quần chúng, thì sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trở nên một sức mạnh vô tận, có thể làm nên những chiến công hiển hách, những kỳ tích phi thường, tưởng chừng như không thể làm được.

Diễn biến cuộc Tổng tiến công còn cho thấy: trong chiến tranh, thực tiễn địch ta biến chuyển mau lẹ, biết địch biết ta không những lúc đầu mà phải bám sát tình hình trong cả quá trình chuyển biến. Xuất phát từ thực tiễn luôn luôn vận động, với tinh thần tích cực, chỉ động và cơ động, linh hoạt, tìm ra quy luật, kịp thời điều chỉnh chủ trương cho sát đúng, luôn hành động đúng quy luật thì nhất định tránh được khuyết điểm, giành được thắng lợi to lớn hơn, trọn vẹn hơn.

Ngày nay, trong quá tình xây dựng, những bài học kinh nghiệm của trận quyết chiến chiến lược Mậu Thân vẫn còn có giá trị lớn.

Chúng ta hãy đem tinh thần cách mạng tiến công của Tết Mậu Thân vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Hãy luôn phát huy ý chí và quyết tâm cao, phối hợp với trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu mới chống nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, cho toàn dân.

Hãy luôn xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, dựa vào dân, tin tưởng ở dân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, kịp thời đề ra những bước đi, những quyết sách phù hợp với quy luật của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam ta nhất định vượt qua mọi thử thách, tranh thủ mọi vận hội, tiến lên giành thắng lợi ngày càng to lớn, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đáp ứng lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu.

(1) Tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội thảo Khoa học “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968” do Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12-3-1998. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 49, háng 3 năm 1998, tr. 7-8.

Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay / Quân sử Việt Nam

Thư gửi nhân dân Mỹ – Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thư gửi nhân dân Mỹ (23-12-1966)

Nhân dịp nǎm mới, tôi thân ái gửi đến nhân dân Mỹ lời chúc mừng hoà bình và hạnh phúc.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ đáng lẽ cùng sống trong hoà bình và hữu nghị. Song Chính phủ Mỹ đã ngang nhiên phái hơn 40 vạn quân với hàng nghìn máy bay, hàng trǎm tàu chiến đến xâm lược Việt Nam. Chúng dùng bom napan, hơi độc, bom bi và những thứ vũ khí tối tân khác ngày đêm giết hại nhân dân chúng tôi, không chừa người già, đàn bà, trẻ em, chúng đốt phá làng mạc và thành thị, gây nên những tội ác vô cùng dã man. Những ngày gần đây máy bay Mỹ liên tiếp ném bom Hà Nội, Thủ đô yêu quý của chúng tôi.

Cũng vì cuộc chiến tranh tội ác do Chính phủ Mỹ gây rà, mà hàng chục vạn thanh niên Mỹ bị bắt đi lính, xa lìa quê hương, chết một cách vô ích ở chiến trường Việt Nam. Hàng chục vạn gia đình Mỹ cha mẹ mất con, vợ mất chồng.

Thế mà Chính phủ Mỹ luôn luôn rêu rao “thương lượng hoà bình” hòng lừa bịp nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Sự thật là họ ngày càng mở rộng chiến tranh.

Chính phủ Mỹ lầm tưởng rằng với sức mạnh tàn bạo, họ có thể bắt nhân dân Việt Nam chúng tôi phải đầu hàng. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không bao giờ khuất phục. Chúng tôi yêu chuộng hoà bình, nhưng phải là hoà bình chân chính trong độc lập, tự do. Vì độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam quyết không sợ gian khổ, hy sinh và quyết chiến đấu chống bọn xâm lược Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Ai là kẻ gây ra đau thương tang tóc cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ? Chính là bọn cầm quyền nước Mỹ. Nhân dân Mỹ đã hiểu sự thật ấy. Ngày càng nhiều người Mỹ dũng cảm đứng lên đấu tranh mạnh mẽ đòi Chính phủ Mỹ phải tôn trọng hiến pháp và danh dự nước Mỹ, phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội Mỹ về nước.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh cuộc đấu tranh chính nghĩa của các bạn và cảm ơn sự ủng hộ của các bạn đối với cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Tôi chân thành chúc nhân dân Mỹ giành được nhiều thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, vì dân chủ và hạnh phúc.

Hà Nội, ngày 23 tháng 12 nǎm 1966

Hồ Chí Minh

——————

Đăng lại trên báo Nhân dân, số 4643, ngày 24-12-1966.

Những nước cờ cao của Tướng Giáp trên chiến trường

Ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại.

Chưa từng học qua trường võ bị nào nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng 10 đại tướng Mỹ, Pháp bằng những tư duy quân sự độc đáo của mình.

Lãnh đạo một đội quân từ những khẩu súng kíp ban đầu với những người lính xuất thân nông dân ít được học hành, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng cả 2 cường quốc quân sự của thế giới.

Trong 30 năm cầm quân ấy, hẳn có vô số sự kiện chứng minh phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng. Tuy nhiên, ở đây, chỉ xin điểm lại một vài quyết định của Đại tướng ở những thời điểm quan trọng trước mỗi chiến dịch, trận đánh mà có ảnh hưởng quyết định tới thắng lợi.

Đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung

Mùa đông năm 1947, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc với mục tiêu lùng bắt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh để kết thúc chiến tranh. Địch chia quân 2 cánh hòng tạo ra 2 gọng kìm vây lấy quân ta.

So sánh mọi mặt, lúc này quân ta ở thế yếu hơn địch, từ quân số đến vũ khí trang bị. Cần phải có phương án tác chiến thích hợp để đập tan được cuộc tấn công của địch, mà vẫn bảo toàn được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài.

Trong đợt toàn quốc kháng chiến năm 1946, có lúc ta tổ chức đánh lớn, dàn quân ra đánh với địch như ở Hà Đông, nhưng không hiệu quả do trang bị của ta thô sơ, bất lợi khi giao chiến theo hình thức chiến tranh quy ước với địch.

Trong tình thế nguy hiểm đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nghe báo cáo có 1 đại đội bị lạc đơn vị đã nương tựa vào dân ở Hà Bắc, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng. Câu chuyện đã lóe lên trong đầu vị tướng tài một câu trả lời mà bấy lâu ông đang tìm kiếm. Ta sẽ phân tán lực lượng ra, kẻ địch sẽ không thể tìm thấy thứ chúng muốn tìm (chủ lực ta) và chúng sẽ bị nhấn chìm trong núi rừng Việt Bắc.

Và thế là ngay sau đó, Đại tướng liền trình kế hoạch lên Trung ương Đảng và Bác Hồ. Trong cuộc họp ngày 14/101947, Trung ương và Bác đã nhất trí thông qua kế hoạch, cho tổ chức quân đội ta thành những đại đội độc lập đi vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm để biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.

Nhờ công thức “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, quân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động chiến trường đẩy quân Pháp vào thế bị động đối phó. Sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp ngày càng phải lo lắng nhiều đến việc giữ gìn vùng chiếm đóng vì các đại đội chủ lực của ta đã đi vào hoạt động thúc đẩy phong trào đấu tranh của du kích và nhân dân lên một bước mới, không cho chúng rảnh tay tập trung quân càn quét.

Đòn điểm huyệt “rúng động” biên giới

Chiến dịch Biên Giới 1950 mở ra với mục đích khai thông biên giới Việt – Trung để nối liền vùng giải phóng của ta với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Xã hội Chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến của ta. Vì ý nghĩa đó, đây là một chiến dịch quan trọng phải đảm bảo chắc thắng.

Đây cũng là chiến dịch đầu tiên ta tập trung lực lượng bộ đội lớn gồm 5 trung đoàn chủ lực của Bộ, 3 tiểu đoàn của Liên khu Việt Bắc và các lực lượng vũ trang 2 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Về phía địch, lực lượng cũng xấp xỉ quân ta và phần lớn là lính Âu Phi thiện chiến lại được trang bị tốt hơn ta rất nhiều.

Ban đầu cơ quan tham mưu xác định lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch. Tuy nhiên, khi thị sát chiến trường, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp lại nhận thấy tấn công vị trí này có nhiều bất lợi.

Trong hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ”, Đại tướng Tổng tư lệnh viết: “Lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch có phải là sự lựa chọn đúng không? Cao Bằng là một vị trí đột xuất nằm sâu trong hậu phương ta ở phía bắc. Ở đây, địch có 2 tiểu đoàn. Nếu đánh thắng, ta sẽ giải phóng được một thị xã quan trọng ở biên giới, ảnh hưởng chính trị sẽ rất lớn. Nhưng bộ đội ta chưa hề đánh một vị trí 2 tiểu đoàn Âu-Phi. Cao Bằng như tôi đã biết, nằm giữa hai con sông, và có ngôi thành cổ rất vững chắc. Đánh Cao Bằng sẽ thực sự là một trận công kiên lớn mà chúng ta còn chưa có kinh nghiệm”.

“Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê. Ở đây địch đóng 1 tiểu đoàn, nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Mất Đông Khê, Cao Bằng sẽ trở nên hoàn toàn cô lập. Địch nhất định phải chiếm lại Đông Khê. Bộ đội ta sẽ có điều kiện tiêu diệt bộ binh địch trên địa hình rừng núi. Tôi đã nói với Bộ Tổng tham mưu, tạm thời chưa đụng vào những vị trí địch trên đường số 4, chưa đánh động chúng”, hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng viết.

Những suy tính này cùng với quá trình thị sát Cao Bằng sau đó, Đại tướng đã quyết định thay đổi điểm đột phá. Thay vì đánh vào Cao Bằng, ta chọn đánh cứ điểm Đông Khê để cô lập Cao Bằng rồi bố trí phục binh đánh địch cứu viện bên ngoài công sự và khi chúng rút chạy.

Thực tế chiến sự sau đó đã diễn ra hoàn toàn theo suy tính của Đại tướng. Điều đó thể hiện một tư duy quân sự sắc sảo, linh hoạt và thiên bẩm của vị Đại tướng chưa một ngày học qua trường lớp võ bị nào.

Lối đánh điểm diệt viện này về sau trở thành một lối đánh quen thuộc và lợi hại của quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, đến mức tướng Westmoreland phải để tâm nghiên cứu và đưa ra những “cẩm nang” cho thuộc cấp Mỹ và quân đội Sài Gòn để ứng phó. Tuy nhiên, tác dụng của những cẩm nang đó không được bao nhiêu vì chiến thuật ấy, quân ta đã vận dụng thành nghệ thuật. Bởi vậy, quân Mỹ vẫn thua những trận đau như ở Sa Thầy, Pleime…

Buôn Ma Thuột hay Đông Nam Bộ

Từ cuối năm 1973, khi những dấu hiệu vi phạm Hiệp định Paris của quân đội Sài Gòn đã rõ ràng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng bắt đầu nghiên cứu đề án quân sự. Trong đó, vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất là chọn hướng tiến công chính ở đâu khi bắt đầu một kế hoạch quân sự mới.

Bộ Tổng tham mưu đưa ra mấy hướng để lựa chọn là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Quảng Đà, Trị Thiên. Các cuộc thảo luận còn tiếp tục trong nhiều ngày tháng nhưng cá nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp ủng hộ hướng đánh vào Tây Nguyên vì khu vực này tiện cho ta tiếp tế hậu cần mà địch lại phòng thủ sơ hở. Thêm nữa, Tây Nguyên là nóc nhà Đông Dương – là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong quân sự. Chiếm được Tây Nguyên sẽ cắt đôi thế phòng thủ hiện tại của quân đội Sài Gòn ở miền Nam.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng nếu đánh Tây Nguyên sẽ động, địch sẽ ra sức đối phó ở Sài Gòn và đồng bằng Nam Bộ, sau này ta đánh sẽ khó khăn. Vì vậy nên chọn Nam Bộ là hướng chính, phía Tây Nguyên chỉ đánh Đức Lập để mở đường và đồng bằng Nam Bộ. Cuộc trao đổi vẫn chưa ngã ngũ.

Khoảng cuối năm 1974, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghỉ ở Đồ Sơn và trực tiếp làm kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Bản kế hoạch này đã sửa chữa đến lần thứ 6. Trong bản này, về hướng tiến công chủ yếu chỉ còn để lại 2 hướng là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Tháng 12/1974, đoàn cán bộ B2 và khu 5 ra Hà Nội họp với Bộ Tổng tham mưu. Trong vấn đề chọn hướng chiến lược, các đồng chí B2 muốn chọn Đông Nam Bộ làm hướng tiến công chiến lược. Tuy nhiên, ngay trong hướng Đông Nam Bộ, giữa Bộ Tổng tham mưu và đoàn cán bộ B2 cũng có sự khác biệt về địa điểm đột phá. Bộ Tổng muốn đánh Bù Đăng, Bù Na để có thêm đạn pháo chiến lợi phẩm đánh Đồng Xoài trong khi các đồng chí B2 muốn trước hết đánh Đồng Xoài vì nó là quận lỵ quan trọng của Phước Long. Cuối cùng kế hoạch tiến công chọn cả Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài và cả Phước Long.

Trong hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp ngày 18/12/1974, trước những thông tin mới nhất của tình hình bố phòng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại nêu ý kiến: “Kế hoạch phải nêu rõ diệt địch ở Tây Nguyên, mở đầu bằng đánh Buôn Ma Thuột. Có thể sau khi ta tiêu diệt Buôn Ma Thuột, địch sẽ dao động, rối loạn, lúc đó ta phải chớp lấy thời cơ giải phóng Huế. Nếu lúc đó ta chậm chân, mỏi mệt, để mùa mưa đến thì lỡ mất thời cơ. Cho nên phải có kế hoạch bao vây chia cắt ngay từ bây giờ, không để cho địch co cụm chiến lược, rút về miền Đông Nam Bộ hay rút về phía đông dọc theo bờ biển Trung Bộ…. Chúng ta phải chủ động tạo ra thời cơ, chứ không thể bị động ngồi chờ. Khi thời cơ đến thì phải kiên quyết, kịp thời chớp lấy thời cơ”.

Càng ngày hướng Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột càng được nhiều người ủng hộ qua các cuộc họp, thảo luận và cuối cùng đã được lựa chọn làm hướng mở màn chiến dịch Tây Nguyên và cũng là mở màn cho kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Như sau này nhiều người nói, đòn đánh vào Buôn Ma Thuột thực sự là một đòn điểm huyệt vào toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch đưa chúng đến chỗ tan rã nhanh chóng.

Quyết định đánh tan 10 vạn quân trong 3 ngày

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch “rúng động” và tan rã cũng là lúc quân ta mở chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng. Mất Quảng Trị rồi Huế, lực lượng địch dồn về Đà Nẵng tới 100.000 tên với đủ các sắc lính và hô hào tử thủ.

Ngày 26/3 tại Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp với tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh mặt trận Quảng Đà vừa được chỉ định và một số tướng lĩnh khác để bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng. Tướng Tấn đã chuẩn bị sẵn một phương án tác chiến trong 5 ngày gồm các việc họp đảng ủy, tập kết bộ đội và tổ chức hiệp đồng chiến đấu.

Tuy nhiên, Đại tướng Tổng tư lệnh lại nghĩ khác. Địch kêu gào tử thủ trong khi nhuệ khí đã không còn, hệ thống phòng thủ sau khi mất Tây Nguyên đã không còn căn cứ nào để tử thủ. Tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch tháo chạy vẫn tồn tại. Nếu đánh chuẩn bị đánh trong 5 ngày địch rút được thì sẽ hỏng việc lớn. Do vậy Đại tướng ra lệnh cho Cục Quân báo về nghiên cứu thời gian nhanh nhất địch có thể rút khỏi Đà Nẵng và hẹn sáng hôm sau trả lời.

Sáng hôm sau, Cục Quân báo trả lời địch có thể rút nhanh nhất trong 3 ngày. Đại tướng liền nêu ý kiến cần chuẩn bị phương án đánh trong 3 ngày nhưng tướng Tấn vẫn giữ ý kiến và trình bày là “Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp”.

Tướng Giáp viết trong hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng: “Không thể đồng ý với đề nghị của anh Tấn chuẩn bị chiến đấu 5 ngày cũng như cách tính toán của anh Thanh, tôi phân tích ngắn, gọn, nêu rõ trong tình huống địch “tử thủ”, ta có thể chuẩn bị 5 ngày, 7 ngày hoặc hơn nữa. Nhưng phải dự kiến tình hình đột biến, cần có kế hoạch đánh thật nhanh. Tôi chỉ thị làm kế hoạch đánh địch theo tình huống chúng rút trong 3 ngày”.

Anh Tấn vẫn giữ ý kiến, và trình bày: Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp. Tôi nói, giọng có phần gay gắt: “Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị 3 ngày. Nếu chuẩn bị 5 ngày, địch rút mất cả thì sao? Huế đã giải phóng rồi. Mặc dầu pháo binh và hải quân địch có thể bắn phá, cứ cho bộ đội hành quân theo đường số 1 tiến công thẳng vào Đà Nẵng. Từ phía nam cũng theo đường số 1 tiến công lên. Không họp đảng uỷ, chỉ trao đổi bằng điện”.

Sau đó tướng Tấn đã chấp hành nghiêm lệnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chỉ trong 3 ngày đã đưa một quân đoàn đánh tan 100.000 quân địch, giải phóng Đà Nẵng.

Một vài mẩu chuyện không thể nói hết được những phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng nó cũng cho thấy, ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại.

VŨ TIẾN ĐỨC (KIẾN THỨC)

‘Chiều lòng dân làng’, nhà thơ Trần Đăng Khoa viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Cái chuyện “Xông đất” vị tướng huyền thoại diễn ra cách đây cũng đã lâu lâu rồi. Tôi ngỡ nó đã được lưu giữ và đã ngủ yên trong bảo tàng “Cõi nhớ” của cá nhân tôi. Nhưng rồi Bạn đọc khả kính của VOV đã “đánh thức” nó dậy.

Trần Đăng Khoa đã mở màn bài viết của anh như thế.

Tôi rất bất ngờ, không hiểu sao VOVonline đã kiếm đâu được bức ảnh của tôi chụp với Tướng Giáp và công bố trên tờ báo đang rất đông người đọc này. Và càng bất ngờ hơn nữa là những lời bình, nói đúng ra là những bài viết bổ sung cho những gì còn khiếm khuyết trong các bài viết của tôi của đông đảo độc giả. Nhiều bài viết vô cùng sâu sắc, hay hơn gấp nhiều lần những bài viết của tôi. Trong lễ ra mắt “Chuyên mục”, trong một comment, tôi có nói, nói rất thành tâm chứ không phải õng ẹo làm mẽ, rằng, Khoa chỉ làm công việc của Mẹ Đốp Mõ Làng, là trải cái chiếu quê ra giữa sân đình VOV, để kính cẩn mời các cụ ra ngự rồi bàn chuyện.

Tôi cũng không ngờ “Các cụ” đến rất đông. Có cụ đã 52 tuổi Đảng, có cụ phừng phừng sức lực thanh tân. Có cụ còn “xưng cháu” với gã mõ làng làm công việc trải chiếu. Nhiều cụ muốn biết chuyện xông đất nhà vị tướng Huyền thoại. Bởi thế, câu chuyện năm xưa mới lại có mặt trên cái chiếu quê Blog Tòa soạn này.

Nhà thơ Đaghextan nổi tiếng thế giới Raxun Gamzatov thật có lý và cũng thật sâu sắc khi ông cho rằng, khi anh đi ra thế giới rộng lớn, người ta muốn biết anh là người thế nào, thì anh có thể chìa chứng minh thư, chìa tấm hộ chiếu ra, trong đó đã ghi mọi điều cần thiết. Còn nếu khi có ai hỏi một dân tộc, xem dân tộc đó thế nào, thì dân tộc đó cũng cần phải đưa ra “giấy tờ” của mình, là các nhà bác học, các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất hay các vị tướng lĩnh tài giỏi. Họ chính là “giấy thông hành” để dân tộc đó đi ra với thế giới rộng lớn.

Có lẽ cũng vì thế chăng, mà có lần tham gia trong đoàn Việt Nam dự Festival thanh niên thế giới, tôi rất ngạc nhiên khi phái đoàn của ta vừa xuất hiện thì cả cầu trường vang dội những tiếng hô nồng nhiệt của cả một biển người trên hành tinh: “Hồ Chí Minh – Giáp Giáp! Hồ Chí Minh – Giáp Giáp!” Hồ Chí Minh thì đã rõ rồi. Bác là vị lãnh tụ lỗi lạc, là danh nhân văn hoá thế giới. Thế còn Giáp Giáp là gì? Tiếng Tây chăng? Tôi lần hỏi mới hay, họ đã hô vang tên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đối với thế giới, cái tên quen thuộc ấy đồng nghĩa với Việt Nam, nên không cần phải phiên dịch, diễn giải. Cùng với Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, vị tướng huyền thoại ấy, cũng đã trở thành cái giấy thông hành để dân tộc ta có thể hiên ngang đi vào cõi mênh mông bát ngát của xứ người.

Bây giờ thì vị tướng huyền thoại ấy đang ngồi trước mặt tôi. Một ông già hiền lành, đôn hậu. Nước da đỏ au, mái tóc bạc trắng như mây. Trông ông có dáng dấp của một ông Tiên trong những câu chuyện cổ tích dành cho con trẻ.

- Nhân dịp năm mới, tôi xin chúc Đại tướng khoẻ mạnh, hạnh phúc. Cầu mong Đại tướng luôn gặp những chuyện tốt lành.

- Mình cám ơn thiện tâm của các cậu!

Còn nhớ cách đây đã hơn chục năm, tôi cùng nhà văn Lê Lựu và nhóm phóng viên Tạp chí Văn nghệ quân đội đến gặp Đại tướng, và viết bài “Hỏi chuyện anh Văn” nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài viết in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội đầu tháng 5 năm 1994. Trung tuần tháng đó, tôi có dịp sang thăm Mỹ theo lời mời của của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ. Nhà thơ nổi tiếng Mỹ Bruce Weigl cười tủm tỉm: “Tôi có xem bài viết của ông với ông Lựu trong thư viện của Trường đại học Harvard, cũng xem cả bức ảnh ông và ông Lựu chụp chung với tướng Giáp. Trong ảnh, tôi thấy tướng Giáp là người trẻ trung nhất, sau đó mới đến ông Lựu, còn người già nua nhất thì lại là… ông”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cười hiền hậu:

- Họ đùa đấy! Dân nước ngoài họ rất hay đùa. Sự thật thì mình đâu còn trẻ mà cậu thì cũng đâu đã già!

- Vâng, tôi cũng biết là họ đùa, nhưng trong câu nói đùa ấy cũng hàm chứa ít nhiều sự thật, là cụ rất được yêu mến. Dân mình, lính mình yêu cụ đã đành, nhưng ngay cả những kẻ thù từng bị cụ đánh bại cũng rất kính phục cụ. Được kẻ thù của mình kính phục và trọng nể, kể cũng không phải dễ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp dường như không để ý đến câu nói ấy. Ông chỉ tủm tỉm cười. Nụ cười thật hiền hậu. So với lần gặp trước cách đây chừng chục năm, tôi thấy Đại tướng chẳng có gì thay đổi, mặc dù ông cũng đã qua cái tuổi cổ lai hy từ rất lâu rồi. Dường như Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ra để chống lại tạo hoá. Sự già nua không đánh được vào ông. Một ánh mắt tinh nhạy, trẻ trung, một trí tuệ rất minh mẫn. Nhân ngày đầu xuân, tôi hỏi ông có bí quyết gì mà có được sức lực dẻo dai như thế? Ông cười hiền lành:

- Mình chẳng có bí quyết gì đâu. Chỉ chịu khó tập thể dục, sống thanh thản và không vẩn vơ nghĩ về cá nhân.

Theo cô con gái rượu của ông, giáo sư – tiến sĩ vật lý Võ Hồng Anh, thì hàng ngày, Đại tướng sống rất điều độ. Buổi sáng ông dậy sớm tập thể dục, rồi đi bách bộ quanh khu vườn. Bảy rưỡi ăn điểm tâm. Mỗi bữa thường chỉ có một bát xúp nhỏ, một lát bánh mì. Buổi trưa ông ăn rất ít. Tối cũng vậy, chỉ thêm bát xúp ngô với một ít rau tươi. Còn cơm, ông ăn không đầy một bát. Nhưng ngày nào ông cũng làm việc. Công việc vẫn bề bộn. Bắt đầu từ tám giờ sáng. Ông tiếp khách trong nước, quốc tế, hoặc dự hội thảo, thăm nơi này, nơi kia, theo kế hoạch mà đồng chí thư ký đã chuẩn bị từ trước. Rỗi thì ông đọc sách. Ông đọc khá nhiều. Đủ các loại sách. Sách quân sự. Sách khoa học. Sách danh nhân. Rồi tiểu thuyết. Rồi thơ. Rồi lý luận phê bình.

Đại tướng tặng tôi mấy cuốn sách, và cả những bài báo rất hay viết về khoa học, kinh tế mà ông thấy tâm đắc, ông phôtô tặng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì thấy ông đọc rất nhiều. Tôi hiểu vì sao ông có được sự minh mẫn đến thế. Trí tuệ loài người nằm hết trong sách. Không phải ngẫu nhiên, khi cô con gái rượu của Các Mác hỏi bố: “Công việc gì mà ba yêu thích nhất”. Mác đã trả lời: “Lục lọi ở trong sách.”

- Vừa rồi tôi có đọc cuốn hồi ký của anh Trà. Anh ấy có viết về tôi. Trong đó có một câu làm tôi rất xúc động: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người tiếc đến từng giọt máu của lính. Anh ấy là người rất hiểu tôi…

Nói rồi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi lặng. Gương mặt thâm thấm một nỗi gì hiu hắt. Trông ông như một đỉnh núi vừa tắt nắng. Hình như ông đang nhớ lại một thời oanh liệt đã qua. Trong trận Điện Biên Phủ, ông là Đại tướng Tổng tư lệnh, nhưng nắm chắc đến từng đại đội một. Nghĩa là ngay một anh đại đội trưởng dưới cơ sở cũng có thể báo cáo thẳng cho Tổng tư lệnh về đơn vị của mình, kể cả những con số hy sinh và thương vong.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người rất thận trọng. Vào trận, bao giờ ông cũng nắm rất chắc địa hình, tính toán thật chi li, cụ thể. Bộ đội hành quân, tập kết trận địa, nếu trong đội hình tiểu đoàn, hoặc đội hình trung đoàn, có trang bị từng loại vũ khí cụ thể thì đi hết bao lâu. Trận đánh diễn ra bao nhiêu phút, rồi sau đó anh em rút ra như thế nào cho thật an toàn trước khi máy bay địch ập đến. Chỉ khi nào Đại tướng tính toán kỹ lưỡng, tìm được cách rút lui sau trận đánh, để bảo toàn tính mạng cho từng người lính rồi, ông mới ra lệnh tấn công.

Thật bất ngờ khi một vị tướng huyền thoại, “bách chiến, bách thắng”, mà khi vào trận, ông lại quan tâm trước nhất là chuyện “rút lui”. Bí kíp dành thắng lợi của ông là thế chăng? Và ta cũng lại bất ngờ nữa khi biết, có trận thắng vang dội, người ta vỗ tay rầm trời, còn Đại tướng thì lặng lẽ khóc ở sở chỉ huy, vì mất nhiều lính quá. Nhiều khi cứ úp mặt xuống phên tre mà khóc. Nước mắt đầm đìa cả cái gối mây. Nhưng điều ấy thì không phải ai cũng biết được. Tôi chợt nhớ đến hồi Mậu Thân, nhớ đến câu thơ Hữu Thỉnh:

“Có trận đánh trở về/

Nhìn đống súng thừa như nhìn thừa đũa bát/

Thừa đến nỗi những người sống sót/

Cũng không nỡ nhận mình là may/

Hồi Mậu Thân toan tính biết bao điều…”

Có lẽ cũng vì thế mà Thiếu tuớng Nguyễn Chuông, Tư lệnh Quân đoàn 29, một trong những người lính quả cảm của tướng Giáp, khi về hưu, được quân đội chia cho ít đất để làm nhà, ông đã dành một khoảng đất để xây một cái miếu ngay ở trước cửa nhà để ông thờ lính. “Các em đã lặn lội theo anh vào sinh ra tử bao nhiêu năm nay, không may phải nằm lại dọc đường, bố mẹ già khuất núi rồi, vợ con lại chưa kịp có thì biết lấy ai hương khói trong những ngày tết nhất hay ngày rằm, mồng một. Anh may mà thoát chết, vừa được quân đội cho tý đất đây, anh lập cái am này để các em về đây quây quần với anh”. Rồi ông dặn dò con cháu, nếu không may ông có phải ra đi thì những ngày Tết hay ngày rằm, mồng một, hoặc ngày 27-7, chúng nhớ thay ông thắp hương cho những người lính của ông đã, rồi sau đó mới thắp cho ông.

Có lẽ cũng vì thế chăng mà khi tôi có nhã ý muốn được đọc một cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về chính mình thì ông đã từ chối. Thực tình thì ông cũng đã viết hoặc kể cho người khác viết. Nhưng đó là những trang hồi ký về Bác, về Đảng, về cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân. Đó là một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, là chuyện của lãnh tụ, của đồng bào chiến sĩ, là toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng được nhìn qua con mắt của một vị tướng. Còn thực sự vị danh tướng ấy thế nào, số phận ra sao, thì cho đến nay, vẫn chẳng có mấy ai biết.

- Đời mình có gì đâu mà viết. So với Bác Hồ, với đồng bào, chiến sĩ, mình chỉ là một giọt nước rất nhỏ giữa đại dương mênh mông…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói vậy. Ông vốn là một người rất đỗi khiêm nhường. Ông mong gì ư? Nếu có sức lực và có điều kiện, ông muốn được trở lại những vùng chiến trường xưa, thăm lại những người dân nghèo đã từng san sẻ với ông nửa củ sắn lùi, đắp chung với ông một cái chăn rách.

Tôi chợt nhớ đến một ông già bản mà tôi gặp trên đường vào Mường Phăng. Ông già hồ hởi:

- Chuyện Đại tướng chứ gì? Đại tướng thì tôi biết. Tôi cũng đã mấy lần gặp Đại tướng rồi. Vùng này là quê của Đại tướng đấy. Năm nọ Đại tướng có về quê. Đại tướng nói chuyện với đồng bào bằng tiếng dân tộc. Đại tướng là già làng của chúng tôi đấy. Nhà Đại tướng ở chỗ kia kìa…

Nói rồi, ông già chỉ lên núi Mường Phăng. Một dải rừng xanh um giữa mênh mông đồi trọc. Ở Điện Biên và cả mấy vùng lân cận, rừng cơ bản đã bị phá xong. Nửa đêm, tôi còn thấy những dải lửa cháy rừng rực vắt giữa lưng chừng trời. Đồng bào đốt nương đấy. Chẳng còn cách nào ngăn được. Đói thì phải phá rừng. Rừng núi nhiều nơi đã trơ trụi, nhưng Mường Phăng thì vẫn um tùm rậm rạp như rừng nguyên sinh. Tôi đã đi dưới những tầng cây ấy, nghe chim rừng hót ríu ran. Một làn suối âm thanh trong trẻo và mát rượi rót xuống từ lưng chừng trời. Không một rảnh cây nào bị chặt phá hay bị bẻ gẫy. Ở đây, người dân còn đói cơm, thiếu mặc, nhưng họ vẫn nâng niu gìn giữ khu rừng.

Họ tự đặt tên cho khu rừng là “Rừng Đại tướng”. Đấy là ngôi đền thiêng, ngôi đền xanh thiên nhiên mà người dân đã tự lập để thờ ông. Đối với vị tướng trận, đó là hạnh phúc lớn. Một hạnh phúc mà không phải ai cũng có được trong cõi trần này…/.

Theo Đài Tiếng Nói Việt Nam và blog Trần Đăng Khoa

May không phải thảm họa

“Những người viết huyền thoại”, bộ phim chiến tranh duy nhất tham gia tranh giải Bông sen vàng rất may không phải là “thảm họa”.

Phim Việt, thị trường chiếu bóng, phát hành phim, điện ảnh, Hollywood

“Những người viết huyền thoại” được chọn mở màn tuần phim chào mừng LHP Việt Nam 18 tại Hà Nội tối 23/9. Buổi công chiếu được khá nhiều người trong giới quan tâm bởi đây là bộ phim đầu tiên của Hãng phim truyện Việt Nam được rót kinh phí thực hiện sau vài năm Hãng không được tài trợ làm bất cứ phim nào do ảnh hưởng từ vụ thất thoát hơn 40 tỉ đồng của Cục Điện ảnh.

Được rót kinh phí 11 tỉ đồng nhưng trên thực tế những người thực hiện chỉ nhận được số tiền thấp hơn nhiều do phải trích ngân sách làm phim “nuôi” Hãng. Do vậy kinh phí thực tế của “Những người viết huyền thoại” chỉ là 8,6 tỉ đồng, kèm 2,5 tỉ tiền tài trợ xin được. Một bộ phim chiến tranh với nhiều cảnh cháy nổ, kỹ xảo có thời lượng gần 100 phút chỉ thực hiện với số tiền chưa đầy nửa triệu đô (11 tỉ đồng) thực sự là một thách thức.

Phim Việt, thị trường chiếu bóng, phát hành phim, điện ảnh, Hollywood

Một phim đề tài chiến tranh vốn là thế mạnh của Hãng phim truyện Việt Nam được giao cho một đạo diễn còn quá trẻ là Bùi Tuấn Dũng (ảnh) . Anh sinh năm 1975, thuộc thế hệ hậu chiến nhưng đã kịp có tác phẩm đầu tay khi mới 29 tuổi cũng là một phim chiến tranh, Đường thư (2004). “Những người viết huyền thoại” là phim điện ảnh thứ 4 của Bùi Tuấn Dũng nhưng sau gần 3 năm phim mới chính thức bấm máy và chỉ vừa hoàn thành cách đây không lâu.

Chọn đề tài “khó nhằn” lại dễ bị soi nhưng “Những người viết huyền thoại” có thể nói là một phim chỉn chu và tử tế trong bối cảnh phim Việt tràn ngập “thảm họa”. Dưới bàn tay của một đạo diễn trẻ chưa đầy 40 tuổi, một góc của cuộc chiến tranh Việt Nam hiện lên vẫn giữ nguyên sự khốc liệt nhưng được thể hiện mới mẻ hơn, đặc biệt là ở những góc máy chuyên nghiệp của quay phim Lý Thái Dũng. Những góc máy hất lên từ dưới gầm chiếc xe tải hay cảnh những chiếc máy bay lao thẳng vào màn hình khiến người xem ấn tượng. Những cảnh quay này nếu được thực hiện bằng máy 3D thì chắc chắn hiệu quả hình ảnh sẽ hiệu quả hơn nhiều.

Phim Việt, thị trường chiếu bóng, phát hành phim, điện ảnh, Hollywood
Trương Minh Quốc Thái trong một cảnh quay hài hước.

Trong “Những người viết huyền thoại”, kỹ xảo cũng được sử dụng khá nhiều, đặc biệt là cảnh những chiếc máy bay chiến đấu của quân đội Mỹ lao vun vút trên bầu trời. Tuy nhiên, cũng có thể do hạn chế về kinh phí cũng như kỹ thuật nên cảnh chiếc máy bay lao xuống ruộng nổ tung ở gần cuối phim do bé cô bé Mây (Phùng Hoa Hoài Linh đóng) bắn hạ bị tạo cảm giác giả. Mặc dù vậy, ngoài hình ảnh đẹp cùng âm thanh Dolby gây ép phê, có thể nói đây là bộ phim chiến tranh hấp dẫn.

“Những người viết huyền thoại” chọn một đề tài khô và khó về Binh đoàn Trường Sơn, những người xây dựng đường ống dẫn dầu vào Nam trong máu lửa khi cuộc chiến tranh chống Mỹ đang ở giai đoạn nước rút. Tuy nhiên, nhiều tình tiết đã được sử dụng để làm mềm bộ phim, như cảnh Nghĩa (Trương Minh Quốc Thái đóng) khỏa thân bắt cua, cảnh Nghĩa và Hà (Tăng Bảo Quyên) trò chuyện bên bờ suối… Nhân vật bé Hùng (Bùi Dương Kiếm Hùng đóng) cũng mang đến những điểm thú vị.

Phim Việt, thị trường chiếu bóng, phát hành phim, điện ảnh, Hollywood
Bùi Dương Kiếm Hùng là con trai của ĐD Bùi Tuấn Dũng. Bé tham gia phim này khi mới 3 tuổi rưỡi.

Rất nhiều nhân vật trong phim được hình tượng hóa như Nghĩa hay hai chị em Mây và Hùng. Nghĩa được đẩy lên thành biểu tượng của những người lính đi xuyên qua bom đạn mà không sợ sệt. Cảnh Mây và Hùng, hai đứa trẻ mồ côi đứng trân trân nhìn cảnh mưa bom thả xuống trước mặt mà không hề hoảng loạn bởi chúng không sợ chết. Đạo diễn cho biết đây là những cảnh quay thật và không dùng kỹ xảo. Do vậy trước đó anh đã phải trấn an tinh thần cho hai bé và tập dần cho các em không biết sợ hãi trước tiếng bom đạn.

Tuy còn đôi chỗ không ổn nhưng nhìn chung “Những người viết huyền thoại” là một phim chiến tranh xem được. ĐD Bùi Tuấn Dũng thừa nhận: “Làm phim chiến tranh 1 cảnh cũng khó mà phim này có tới 4500 cảnh. Tôi chỉ tiếc là phim có dung lượng 115 phút mà bị cắt cụt đi còn dưới 100 phút. Tôi tiếc là không thuyết phục hãng rằng với phim chiến tranh, dưới 100 phút là ngu xuẩn. Đó cũng là sự ngu xuẩn của chính bản thân tôi vì đã chấp nhận cắt xuống chỉ còn 97 phút. Phim này phải thêm 15 phút nữa thì phim mới đủ khắc họa chân dung của nhiều người viết huyền thoại”.

Phim Việt, thị trường chiếu bóng, phát hành phim, điện ảnh, Hollywood
Tăng Bảo Quyên thay thế Lan Phương nhận vai nữ chính trong phim.

Hạnh Phương
(Vietnamnet)

‘Mùi cỏ cháy’ – Khúc tráng ca về Thành cổ Quảng Trị 1972

Xem phim Mùi cỏ cháy, không ít người đã khóc ròng từ đầu đến cuối. Sự trong trắng, hồn nhiên và tình yêu Tổ quốc của một thế hệ sinh viên, sự khốc liệt của chiến tranh, thân phận con người và hy sinh mất mát quá lớn của người dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước… đã gợi lên nhiều điều cho những người đang sống hôm nay.

Bộ phim “Mùi cỏ cháy” mặc dù thiếu chất sử thi và thừa chất thơ nhưng thực sự đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng qua việc tái hiện chân thực không khí hào hùng, bi tráng ở chiến trường Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Không ngoa khi so sánh “Mùi cỏ cháy” giống như “quả cầu pha lê” dưới bàn tay một phù thủy tâm lý, có thể dẫn dắt người xem trải nghiệm những cung bậc cảm xúc khác nhau qua từng cảnh quay.

Bộ phim làm khán giả bật cười sảng khoái với những hành động ngây thơ, trong trẻo có phần trẻ con của những người lính binh nhì tuổi mới mười tám, đôi mươi, nhưng cũng khiến họ rơi lệ trước sự hi sinh quả cảm của những chiến sĩ trẻ; những mối tình trong sáng bị chiến tranh chia lìa hay giọt nước mắt mong ngóng, đợi chờ của người thân nơi hậu phương…

Bộ phim xoay quanh câu chuyện của 4 chàng sinh viên Hà thành là Hoàng, Thành, Thăng và Long ở lứa tuổi 20, khi cuộc đời vừa bắt đầu chớm nở. Sống trong thời kỳ đất nước đang bị gót giày quân thù giày xéo, họ đã tình nguyện rời xa cuộc sống sinh viên, để lại thầy cô, người thân phía sau lên đường nhập ngũ. Trước câu hỏi của Thủ trưởng Phong: “Có ai tiếc cuộc sống bình yên không?” Hoàng đã không ngần ngại nói: “Chúng em cũng hơi tiếc ạ. Nhưng còn hối tiếc hơn nếu như trong đội ngũ những người ra trận hôm nay không có chúng em”.

Những đổi thay trong tâm lý nhân vật được diễn tả một cách sâu sắc. Cả 4 anh lính binh nhì xuất hiện ở đầu bộ phim với hình ảnh ngây thơ, trong sáng có phần trẻ con. Điều đó được thể hiện qua câu hát của Long trên chiếc xe chở quân vào chiến trường: “Ta là con của bố mẹ ta. Nhớ nhà ta trốn ta về”; thú bắt ve sầu rồi áp tai nghe tiếng kêu ve ve của Thành và niềm đam mê chơi trọi dế của Thăng…

Tuy nhiên, khi được rèn luyện trong môi trường khắc nghiệt của quân đội và trực tiếp chiến đấu với quân thù, tận mắt chứng kiến đồng đội của mình hi sinh, họ đã hiểu được giá trị đích thực của cuộc sống, trưởng thành và sống có lý tưởng hơn. Với Thăng, đó là sự cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước: “… Tuổi hai mươi làm sao không tiếc, nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ quốc”. Với Hoàng, đó là thái độ sung sướng, không chút do dự khi được rời trại thương binh vào chiến trường chiến đấu mặc dù, nơi đó có cô y tá mà anh dành tình yêu vô hạn…

Bối cảnh chính trong “Mùi cỏ cháy” là thành cổ Quảng Trị năm 1972. Nơi đế quốc Mỹ chọn để quyết chiến với quân ta nhằm giành thế chủ động trong cuộc đàm phán hiệp định Paris. Vì thế, chúng đã sử dụng mọi phương tiện chiến tranh hiện đại nhất để san phẳng căn cứ quân sự này.

Dưới “bàn tay ma thuật” của đạo diễn Nguyễn Hữu Mười, người xem không thể kìm nổi nước mắt khi chứng kiến hình ảnh hàng trăm chiến sĩ bị trúng bom mìn khi vượt sông Thạch Hãn, máu nhuộm đỏ dòng sông; cảnh Long đứng giữa trời đạn bom kêu gào thảm thiết: “Đừng tấn công nữa!…” và bị bom giặc cướp mất tính mạng; hay hình ảnh một chiến sĩ mù vẫn cầm lựu đạn mò mẫm ra chiến trường chiến đấu với kẻ thù…

Có lẽ, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết nơi chiến trường thì tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mới trỗi dậy mãnh liệt nhất. Dù trong tay chỉ còn cây súng AK hết đạn, Thành vẫn dũng cảm gương lưỡi lê xông lên, đâm một nhát chí mạng vào tên lính ngụy cầm cờ Mĩ và anh dũng hi sinh; biết xung quanh mình có địch rình rập nhưng Thăng vẫn liều mình nhảy xuống sông nối dây cáp để giữ liên lạc giữa chiến trường với Bộ chỉ huy và bị 2 lính ngụy bắn chết…

Chiến trường Quảng Trị – cối xay thịt người – khốc liệt, ghê rợn là thế. Nhưng đạo diễn vẫn dành cho nhân vật của mình những phút giây bình yên để tâm hồn họ lắng đọng lại và viết nên những suy ngẫm về gia đình, về chiến tranh, về tình cảm đồng chí, đồng đội… mà chỉ những người chiến sĩ đã tận mắt chứng kiến, tận tay đào đất chôn đồng đội hi sinh mới có.

Thông qua những trang nhật ký của Thăng, những vần thơ của Hoàng, những bức thư thấm đẫm nước mắt của Thành vĩnh biệt mẹ và lời hứa trở lại (không thực hiện được) của Long đối với một cô gái anh gặp trên đường hành quân… “Mùi cỏ cháy” đã tố cáo tội ác của chiến tranh một cách đầy đủ nhất, chân thực và sinh động nhất. Không những thế, nó đã chạm đến những giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc về tình người, về lẽ sống của cả một thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

Bộ phim truyện “Mùi cỏ cháy” và phim tài liệu “Đại tướng Đoàn khuê” đã được chọn mở màn cho đợt phim chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 và kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị.

Theo Hồng Hạnh (KTĐT)

Phim tài liệu: Những anh hùng của đội quân tóc dài

Phim tài liệu Việt Nam: Những anh hùng của đội quân tóc dài

Phim tài liệu: Trọn Đời Vì Đại Nghĩa

Phim tài liệu Việt Nam về nhà khoa học Trần Đại Nghĩa: Trọn đời vì đại nghĩa

Phần 1

Phần 2

Phim tài liệu về nhà bác học, giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, nếu như Hồ Chí Minh là một thiên tài về chính trị, Võ Nguyên Giáp là một thiên tài về quân sự, thì có thể nói Trần Đại Nghĩa là một thiên tài về khoa học. Nếu như đại tướng Võ Nguyên Giáp được coi là người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thì giáo sư Trần Đại Nghĩa chính là người anh cả của quân giới Việt Nam và ngành công nghiệp quốc phòng VN. Ông đã dìu dắt quân giới VN chế tạo ra được những vũ khí hiệu quả gây khó khăn cho giặc Pháp với một nền tảng công nghệ và lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất thấp hơn Pháp và phương Tây nhiều thế kỷ.

Xem phim tài liệu này xong mình phát hiện thêm nhiều thông tin lý thú, ví dụ sáng kiến đào hầm tránh bom ngay trong thủ đô Hà Nội thay vì tản cư, ý kiến về “lòng yêu nước kinh tế” của người Nhật, nhận thức về “đào tạo một công nhân bậc 7 khó hơn một phó tiến sĩ” v.v. của giáo sư Trần Đại Nghĩa. Những thông tin do các cấp dưới của ông kể lại về một “trí nhớ kinh khủng”, đứng trong hầm trú ẩn dòm đồng hồ và nghe tiếng tên lửa mà đoán đc chúng có trúng hay không, đoán đúng các diễn biến bên ngoài v.v. Nói chung là một bộ phim tài liệu rất hay, rất đáng xem.

Theo Thiếu Long’s blog