Xin đừng chà đạp lịch sử!

Bên lề buổi ra mắt một số bộ sách, trong đó có bộ “Lịch sử Việt Nam”, ông Trần Đức Cường, chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sách trả lời phỏng vấn và cho biết rằng sách này đã dùng tên gọi ‘chính quyền SG’ thay cho từ ‘ngụy’ và tự ca ngợi mình, chê người xưa:

‘Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.

Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận.’

Vế thứ nhất trong câu cuối, ông nói đúng nhưng lại làm ngược lại. Vế thứ hai thì không những sai mà còn mâu thuẫn nghiêm trọng với vế thứ nhất! Nếu viết lịch sử một cách thực sự khách quan thì sẽ có thể làm cho bên phạm sai lầm mặc cảm khó chấp nhận. Còn cố tình bào chữa hay nói sai sự thật để làm vừa lòng họ thì đâu còn khách quan nữa, và làm như thế thì rõ ràng lại chà đạp bên chính nghĩa rồi còn gì? Lịch sử chứ có phải là dụ con nít tranh nhau đồ chơi trong nhà trẻ đâu mà phải làm sao để đôi bên đều chấp nhận được?!

Cả chủ quan và khách quan, bên ta, bên địch hay cả người trung lập đều đã công nhận thực chất của ngụy quyền Sài Gòn trong lịch sử rồi. Bào chữa, gọi khác bản chất của nó đi tức là “phịa sử” và do đó mới là không khách quan.

Ông viện trưởng này cho rằng phía cộng sản ngày xưa gọi là ngụy không khách quan vậy nên tôi sẽ không trích dẫn họ mà chỉ xem bằng chứng lịch sử và ý kiến của bên “khách” tức Mỹ ngụy cho nó “khách quan” nhé.

Trong một đoạn băng ghi âm, Tổng thống Johnson từng thú nhận chính quyền Mỹ đã thuê ‘một lũ côn đồ’ (quân đội ngụy) thanh toán Diệm. Rõ ràng chính quyền, quân đội ngụy là do Mỹ điều khiển giật dây làm việc mà còn không phải ngụy thì là gì? Có chính quyền chính danh độc lập nào mà quân đội lại nghe sai khiến của nước ngoài bắn bỏ tổng thống của mình như thế?!

Vào thời Nixon, sau khi đã đàm phán riêng xong xuôi với VNDCCH trong Hội đàm Paris, chính quyền Nixon mới bắt ngụy ký vào văn bản cuối cùng. Vì thấy những điều khoản trong hiệp định quá bất lợi cho mình, Thiệu dùng dằng, giận dỗi không chịu ký. Mỹ dọa không ký thì sẽ cắt viện trợ như đã từng đe dọa Diệm. Trong một đoạn băng ghi âm được công bố sau này, Nixon nói với Kissinger:

‘Tôi không biết dọa như thế đã đủ chưa nhưng tôi sẽ làm bất cứ chuyện chết tiệt nào có thể – chặt cái đầu nó xuống chẳng hạn,’

Chắc hẳn là dọa như thế đã đủ vì làm sao Thiệu có thể quên được gương sáng của Diệm nên đành ngoan ngoãn ký vào.

Bản thân chính quyền ngụy cũng đã tự thú nhận bằng lời nói, chứng minh bằng hành động quá rõ ràng thân phận tay sai rồi. Sự thật lịch sử là từ Bảo Đại đến Thiệu, các loại gọi là “quốc trưởng”, “tổng thống” của chính quyền ngụy đều do Pháp-Mỹ đưa lên và lôi xuống. Chính quyền hay quân đội cũng là do họ lập ra và điều khiển.

Pháp lập ra ‘Quốc gia VN’ năm 1949 để chia rẽ lực lượng kháng chiến Việt Nam vì thấy không thể tiêu diệt được Việt Minh sau ba năm. Họ hoàn toàn không thấy xấu hổ khi dùng lại vua bù nhìn Bảo Đại cho chức vụ ‘quốc trưởng’ bù nhìn. Quân đội ‘quốc gia’ này toàn là lính khố xanh, khố đỏ do họ đào tạo huấn luyện để chống lại dân tộc mà dân gian vẫn gọi là lính ngụy, ngụy binh.

Pháp thua phải cuốn gói thì Mỹ lại nhảy vào ngay đưa Diệm về lật Bảo Đại để tránh tiếng bù nhìn. Mỹ lăng xê Diệm như là một người yêu nước vì đã từng “chống Pháp”…. trong các nhà tu đạo bên Mỹ nhưng lại dùng lại quân đội ngụy thời Bảo Đại đã từng theo Pháp! Bởi vậy trong mắt nhân dân chứ không phải do cộng sản chụp mũ, ngụy luôn là ngụy.

Diệm cuối cùng cũng phải trả giá đắt như đã nói ở trên vì tưởng rằng Mỹ cho mình làm tổng thống thật!

‘Quốc trưởng’ Nguyễn Khánh, ‘tổng thống’ Thiệu sau đó cũng đều do Mỹ đưa lên và lôi xuống. Diệm nặng tội nhất thì bị thủ tiêu, Khánh bị trục xuất lưu đày, Thiệu bị ép từ chức tháng tư 1975.

‘Diễn văn’ từ chức của Thiệu trước khi chuồn êm cho thấy được sự phụ thuộc hoàn toàn của chính quyền và quân đội ngụy vào bàn tay Mỹ:

Tất cả các chiến lược chiến tranh từ ‘Chiến tranh cục bộ’ cho đến ‘VN hóa chiến tranh’ đều do Mỹ soạn thảo, thực hiện và chỉ huy điều khiển. Ngụy quân ngụy quyền chỉ tuân theo.

Khi được hỏi rằng mình có được người Mỹ tham khảo ý kiến về các hoạt động của họ trên đất VN không, ông Kỳ trả lời: ‘Tôi nghĩ rằng tất cả các quyết định quan trọng về chính trị cũng như quân sự đều được hình thành ở Washington, và họ chỉ cho chúng tôi biết trong chừng 24 giờ’ (trước khi thực hiện)…’cộng sản tuyên truyền rằng chúng tôi là bù nhìn tay sai của Mỹ thì cũng đúng thôi.’

‘Tôi nói với họ rằng, miền Nam cần một người như Hồ Chí Minh, một lãnh đạo thật sự, chứ không phải là một người của Mỹ nhưng họ không bao giờ hiểu.’

‘Việt Cộng luôn đối xử với chúng tôi như là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ, nhưng rồi chính người Mỹ cũng coi chúng tôi là những con bù nhìn của Mỹ, chứ không phải các nhà lãnh đạo thật sự của người dân Việt Nam’.

Lịch sử đôi khi khó nhận định rõ ràng nhưng trường hợp ngụy không phải là vấn đề kiểu như thế. Ngược lại nó thuộc loại rất rõ ràng được vì có rất nhiều bằng chứng và được tất cả các bên công nhận.

Ông lớn ở ‘Viện sử học’ này rõ ràng đã chà đạp lên lịch sử chứ không phải viết sử.

Những kẻ phản bội, “đốt đền” thế này còn leo lên hàng ngũ trí thức cấp cao nữa thì tương lai đất nước này sẽ ra sao? Con cháu sau này chúng cứ noi gương ngụy tha hồ rước giặc vào nhà tàn sát đồng bào để tranh quyền đoạt lợi vô tư thôi? 🤔

Theo blog Don’t Bull Shit

Advertisements

Ông Nguyễn Nhã và báo Tuổi Trẻ góp phần tuyên truyền xuyên tạc ý nghĩa lịch sử kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam

Báo Tuổi Trẻ đưa ra những ý kiến rất chủ quan, mơ hồ về lợi ích của việc công nhận ngụy quyền (thời kháng chiến chống Mỹ) từ các ‘tiến sĩ’ như sau:

1/ Họ cho rằng công nhận ngụy là một chính quyền độc lập mang tính chính danh có lợi cho việc tranh chấp pháp lý với TQ về HS, TS vì việc công nhận đó sẽ chứng minh được chính quyền VN hiện tại đã ‘chiếm hữu thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình’ hai quần đảo này.

Suy nghĩ kiểu đó phải nói là rất phản tác dụng vì việc công nhận sẽ chứng minh điều ngược lại! Nếu VNCH là một quốc gia độc lập riêng biệt như Mã hay Phi, thì có nghĩa là từ ngày nó thành lập và tách ra, VNDCCH hay CH miền Nam Việt Nam đâu còn chiếm hữu, quản lý bằng nhà nước và liên tục, hòa bình gì nữa? Phải xem ngụy là loạn đảng trong nước thì mới có thể đánh ngụy lấy lại đảo mà vẫn được xem là sở hữu thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình được chứ không thì hóa ra VN đã cướp đất chiếm đảo của một quốc gia có độc lập chủ quyền khác rồi còn gì?!

Hơn nữa, chuyện pháp lý mà các vị cứ làm như trò đùa trẻ con vậy! Chỉ cần đổi cách gọi là được! 😅 Cả hơn nửa thế kỷ nay nhà nước VN các thời kỳ đã ghi chép các chính quyền thuộc Pháp, thuộc Mỹ là ngụy thì TQ không thiếu bằng chứng khi ra tòa để chứng minh VN tráo trở?!

2/ Sợ lý do như trên chưa đủ trào phúng, Nguyễn Nhã bồi thêm: ‘Hiện nay có hơn 4 triệu Việt kiều trong đó các thành phần trong chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng rất quan trọng. Công nhận Việt Nam cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc’

Một “tiến sĩ giấy” khác là Lê Trung Tĩnh cũng được trích dẫn: ‘Việc từ bỏ cách gọi ‘ngụy quân’, ‘ngụy quyền’ và công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh.’

Thực tế, thành phần trong ngụy quân, ngụy quyền là con số rất nhỏ trong 4 triệu người hải ngoại và giờ đã già yếu và dần không còn bao nhiêu. Con số đó làm sao so được với hàng chục triệu người Việt Nam hy sinh mạng sống, thân thể tống cổ quân Mỹ đi để bây giờ các ông lại đặt họ ngang hàng với đám con hoang của Mỹ?! Sao các ông không để ý đến cảm giác của họ? Các ông chà đạp lên tôn nghiêm của đại đa số người yêu nước để nịnh bợ thiểu số phản quốc gần chết hết sẽ tạo được sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc sao?! Còn các vết thương do ngụy cõng giặc vào gây ra cho đất nước này vẫn còn chảy máu đều đều hiện nay thì sao không để ý?!

3/ Và Nguyễn Nhã tiếp tục kiên trì ngụy biện: ‘Thừa nhận Việt Nam cộng hòa, Việt Nam chúng ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. Đặc biệt như tôi đã phát biểu trong Đại hội kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Khoa học lịch sử Việt Nam rằng giới sử học ở miền Nam trước đây không bị ảnh hưởng về chính trị, hay quan điểm. Bất cứ nước nào tôn trọng giới học thuật, khoa học, nghiên cứu, nước ấy sẽ phát triển và ngược lại rất khó phát triển’

Từ người bình dân Mỹ thường dùng để miêu tả kiểu nói như thế này là ‘bullshit’. Tên gọi chính thức cho loại ngụy biện này là ‘Irrelevant Appeals’, tạm dịch là thuyết phục bằng những chuyện không liên quan.

Theo kiểu này thì chúng ta cũng có thể phán rằng, vì Việt Nam dùng nhiều thứ từ nền văn minh Trung Hoa, nên chúng ta phải sửa hết sử lại, phải viết rằng các triều đại phong kiến của họ chưa từng xâm lược Việt Nam mà chỉ sang khai hóa, thì mới có thể chính thức thừa hưởng gia tài văn hóa của TH nhỉ?! Chưa nói đến chuyện ông cho rằng VN ‘thừa hưởng’ những gì đó từ ngụy quyền cũng chỉ là cố tình vơ vào thôi!

Nguyễn Nhã muốn thuyết phục người ta công nhận một thứ bằng cách đưa ra những bằng chứng không liên quan! Muốn người ta công nhận VNCH không phải là ngụy thì ông phải đưa ra được bằng chứng chứng minh các chế độ ngụy 1.0, 2.0 không phải do Pháp-Mỹ nặn ra để đánh lận con đen che đậy hành động xâm lược của họ. Các ‘quốc trưởng’, ‘tổng thống’ ngụy không phải do họ lôi lên, kéo xuống, chờ lệnh từ các dinh thái thú với tên gọi khác là ‘tòa đại sứ’! Quân đội ngụy không do họ thành lập và chỉ huy từ tổng tư lệnh xuống đến lính quèn! Đó mới là phương pháp viết sử tôn trọng học thuật, khoa học, chứ không bị ảnh hưởng bởi chính trị hay tình cảm cá nhân nhé các “tiến sĩ”!

Cái ‘Quĩ nghiên cứu Biển Đông’ không một viện khoa học nào thừa nhận này thật ra nó là cái quĩ nghiên cứu tìm cách “phục hồi danh dự” cho ngụy thì đúng hơn. Họ chỉ lợi dụng vấn đề biển đảo để ngụy biện cho ngụy quyền. Cuộc tháo chạy bỏ lại đảo gọi là ‘Hải chiến Hoàng Sa’ cũng lại được đem ra trong bài này của báo Tuổi Trẻ.

Làm mất toàn bộ HS là tội rất lớn của ngụy quyền nhưng những người thuộc quĩ này đang biến nó thành công! Rõ ràng là ngụy không có khả năng về chính trị, quân sự, quản lý nên đáng lẽ họ không theo Pháp-Mỹ thì chính quyền VN đã tiếp thu, quản lý từ 1954 và dĩ nhiên đã có khả năng bảo vệ tốt hơn. Chúng ta khó có thể mất toàn bộ HS và do đó TQ cũng khó có thể tiến xuống đến TS.

Chính quyền ngụy chỉ được cái ăn bám là không ai bằng. Lãnh thổ trên bộ còn phải dựa hơi Pháp-Mỹ bảo vệ cho thì làm sao có khả năng giữ đảo mà cũng giành để bị cướp mất? Do đó tội lỗi rất lớn là ở họ và ngụy quân với tàu to súng lớn, máy bay các loại mà hèn nhát bất lực bắn cả vào nhau rồi bỏ chạy mà vinh với danh gì? Đó là một vết nhơ trong lịch sử biển đảo của VN.

Theo blog Don’t Bull Shit

Nước Đức và Việt Nam, hai hoàn cảnh lịch sử chiến tranh khác nhau

Xuất phát từ tầm nhìn hẹp và thiếu kiến thức, có những người hay so sánh sự chia cắt của Đức với Việt Nam rồi ca ngợi Đức thống nhất mà không có chuyện thù ghét nhau.

Thứ nhất, đó là một ngụy biện mà bên Tây gọi là ‘faulty comparison’, so sánh sai lệch, vì hoàn cảnh của sự chia cắt Việt Nam và Đức không giống nhau.

Đức bị chia cắt vì nước này đem quân đi xâm lược cả Châu Âu nhưng thất bại nên bị phe Đồng minh chia nhau chiếm đóng cả hai miền. Hai bên chính thể đông và tây nước Đức không mang tội ác dẫn giặc vào nhà tàn phá quê hương giết hại giống nòi như ngụy ở VN thì họ đâu có tội gì mà không thể huề cả làng?

Việt Nam bị Mỹ xâm lược chia cắt nên trái ngược với trường hợp của Đức. Ngụy chọn bám váy giặc ngoại xâm, dâng chủ quyền quốc gia để đổi lấy sự sung sướng vật chất cho riêng mình thì đó là một tội ác không thể tha thứ đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Gây ra tội ác như thế mà được đối xử như ở VN thì đã là may mắn. Nay được đằng chân lại lại lân đằng đầu?

Nếu muốn so sánh thì có thể dùng trường hợp của Pháp. Trong Thế chiến II, sau khi Đức thắng Pháp, một chính quyền bù nhìn ở Pháp được lập ra, thường gọi là chế độ Vitchy, do Thống chế Philippe Pétain cầm đầu. Phe kháng chiến do Charles de Gaulle lãnh đạo vẫn tiếp tục đánh cho đến khi Đức đầu hàng đồng minh. Sau khi thắng lợi, phe kháng chiến đã tử hình hàng chục ngàn người hợp tác với Đức, kết tội 120 ngàn. Ngay cả những đĩ điếm phục vụ cho Đức cũng bị đem ra cạo đầu làm nhục trước công chúng. Họ gọi đó là giai đoạn ‘thanh lọc’ nước Pháp.

http://www.nytimes.com/1986/07/27/books/the-purification-of-france.html?mcubz=3
https://en.wikipedia.org/wiki/Vichy_France#Purges

Hai miền nước Đức sau Thế chiến II đều bị Mỹ, Liên Xô chiếm đóng và cùng lập ra hai chính quyền phục vụ cho mình. Hai chính quyền này có tính chất như nhau thì lấy tư cách gì để phán xét đối phương như chính quyền kháng chiến Pháp phán xét chính quyền Vitchy làm tay sai cho Đức hay chính quyền cộng sản VN phán xét chính quyền ngụy làm tay sai cho Pháp-Mỹ.

Tuy vậy sau khi nước Đức thống nhất, chính quyền mới của Đức vẫn tiến hành điều tra hàng ngàn vụ, xét xử kết án hàng trăm vụ vì lý do chính trị chứ đâu có phải thống nhất thì huề cả làng như những kẻ ấu trĩ tưởng tượng đâu?

Còn vấn đề thù ghét thì xưa nay “ba que vàng vẩu” là bên luôn ôm hận thù cay cú suốt mấy chục năm chứ cộng sản rảnh rỗi đâu mà thù hận? Người nào muốn xóa bỏ hận thù (ngược) thì về VN làm ăn như cha con ông Nguyễn Cao Kỳ thì có vấn đề gì đâu?

Theo blog Don’t Bull Shit

Những kẻ “đốt đền” muốn gỡ lại danh dự cho ngụy quân, ngụy quyền thời chống Mỹ?

Tết Kỷ Dậu năm 1789, Chiến thắng của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ, Người Anh hùng áo vải đến từ đất Tây Sơn, Bình Định đã lãnh đạo quân và dân ta đánh đuổi 20 vạn quân xâm lược Trung Quốc (triều đại Mãn Thanh) ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Trong tuyên cáo chiến thắng, Hoàng đế Quang Trung viết:

“Đánh cho để dài tóc.
Đánh cho để đen răng.
Đánh cho nó chính luân bất phản.
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn.
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Tết Kỷ Dậu 1969, đúng vào dịp kỷ niệm 180 năm sau Chiến thắng Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789, trong khi thế cả nước thi đua đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm bài thơ Chúc tết Xuân Kỷ Dậu. Trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của cả cuộc đời vì nước vì dân, Bác Hồ viết:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang.
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do.
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, Đồng bào.
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”.

Trong bài thơ đó, Bác Hồ đã chỉ đích danh chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn là ngụy. Tại sao gọi chúng là “Ngụy” ? Hẳn Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có lý do để gọi chúng như vậy chứ ?

Theo Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội Việt Nam. Hà Nội. 1994) thì “Ngụy” là giả tạo. “Ngụy biện” là cố ý dùng những ý lẽ bề ngoài có vẻ đúng nhưng thực ra là sai để rút ra những kết luận sai lệch. “Ngụy tạo” là bày đặt ra cái giả nhằm lừa dối. Ngụy tạo chứng cứ là một ví dụ.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 3 (NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội. 2003) thì: “Ngụy quân” là tên gọi chung để chỉ lực lượng vũ trang người bản xứ do nước ngoài tổ chức, trang bị, nuôi dưỡng và chỉ huy để để thực hiện chính sách “dùng người bản xứ đánh người bản xứ trong các cuộc chiến tranh xâm lược. Trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, các nước đi xâm lược đều có tổ chức “ngụy quân” dưới chiêu bài “Quân đội quốc gia” nhằm ngụy trang cho mục đích xâm lược của họ. Cũng theo Từ điểm Bách khoa Việt Nam nói trên, “Ngụy quyền” là chính quyền do các thế lực nước ngoài xâm lược lập ra để chống đối lại chính quyền hợp pháp, hợp hiến của nhân dân nước sở tại chống xâm lược.

Đối chiếu với những điều kiện trên đây, chính quyền Sài Gòn từ năm 1950 đến năm 1975 là chính quyền ngụy, chính quyền bù nhìn do thực dân Pháp (1949 – 1954) và đế quốc Mỹ (1954 – 1975) dựng lên cũng là chính quyền ngụy để chống lại chính quyền hợp pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đang lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành hai cuộc kháng chiến nhằm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Cũng đối chiếu với những điều kiện ấy, quân đội Sài Gòn hoàn toàn là một quân đội bù nhìn do thực dân Pháp (1949-1954) và đế quốc Mỹ (1954 – 1975) tổ chức, trang bị, nuôi dưỡng và chỉ huy để thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”.

Ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn không có tư cách gì để được gọi là một chính quyền hợp pháp, hợp hiến, đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Ngụy quân Sài Gòn lại càng không thể có bất cứ một điều kiện nào để có thể được coi là một quân đội chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ Quốc. Mà ngược lại, đó là quân đội và chính quyền tay sai cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chống lại nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam.

Thế mà nay, trong bộ sách Lịch sử Việt Nam (tái bản) dài 15 tập, tập thể tác giả của bộ sách này do PGS. TS. Trần Đức Cường chủ biên đã bỏ cách gọi “ngụy quân Sài Gòn” và “ngụy quyền Sài Gòn”. Vậy các giáo sư, tiến sĩ sử học đã soạn bộ sách này hãy xem lại chính mình và hãy đọc lại, nhóa lại bài thơ “Chúc Tết Xuân Kỷ Dậu 1969” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

PGS. TS Trần Đức Cường cho rằng: “Chính quyền Việt Nam cộng hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong gần 21 năm. Năm 1954 còn có một thể chế nữa gọi là Quốc gia Việt Nam. Sau đó đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế Bảo Đại để làm quốc trưởng, sau đó trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống”. Vậy tôi xin hỏi:

1- Cái gọi là Quốc gia Việt Nam do ai dựng lên nếu không phải là thực dân Pháp ? Bảo Đại đã thoái vị vào năm 1945 thì có còn đại diện cho nhân dân Việt Nam được nữa hay không ? Và ai đã móc cái “thây ma chính trị” Bảo Đại ấy lên để phong làm “Quốc trưởng” nếu không phải là thực dân Pháp ?

2- Ngô Đình Diệm và chính quyền bù nhìn của ông ta do ai dựng lên nếu không phải là đế quốc Mỹ ? Quân đội ngụy Sài Gòn phục vụ cho lợi ích của ai nếu không phải ;là lợi ích của đế quốc Mỹ ? Quân đội ngụy Sài Gòn bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam hay phục vụ cho âm mưu chia cắt lâu dài đối với Việt Nam của đế quốc Mỹ và một số thế lực khác ?

3- Chính quyền ngụy Sài Gòn, quân đội ngụy Sài Gòn đã bị quét sạch khỏi miền Nam Việt Nam trong Chiến thắng mùa Xuân 1975 đánh dấu thắng lợi của các lược lượng yêu nước, yêu hòa bình, độc lập, dân chủ ở Việt Nam. Chính quyền bù nhìn ấy, quân đội bù nhìn đã đi ngược lại lợi ích của dân tộc Việt Nam có tư cách gì để được coi là một chính thể ?

Hơn 1.500.000 quân nhân Quân đội Nhân dân Việt Nam và hơn 3.000.000 người dân Việt Nam đã đổ xương máu và hy sinh trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam. Thế những xương máu của họ đã bị mấy nhà sử học soạn lên bộ sử này phản bội. Hương hồn họ sẽ về hỏi tội các ông khi các ông đã đặt bọn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn ngang hàng với họ với những lập luận xảo ngôn.

Cho dù ông PGS. TS Trần Đức Cường cũng có đặt vấn đề rằng “Nhưng vấn đề phải nghiên cứu cho rõ nguyên tắc vận hành của chính quyền này là gì ? Đó là một thực thể trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam” thì đây là một sự ngụy biện. Bản chất của một chính quyền là mục tiêu chính trị của nó, bản chất của một quân đội là phục vụ mục đích chính trị của chính quyền mà nó bảo vệ cho dù nó vận hành ở bất kỳ đâu, trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam. Không có chuyện một chính quyền chung chung, không có chuyện một quân đội lại không có bản chất chính trị. Thậm chí, kể cả quân đội đánh thuê cũng bị chi phối bởi lợi ích chính trị của kẻ đã thuê chúng.

Vì những lý do trên, chúng tôi, những cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, Công an Nhân dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ và cực lực phản đối việc thay đổi cách gọi đối với “ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn”. Thực chất chúng chỉ là quân đội bù nhìn đánh thuê cho Pháp và Mỹ, là chính quyền bù nhìn do Pháp rồi đến Mỹ giật dây để cai trị nhân dân Việt Nam, đem lại lợi ích cho ngoại bang.

Chúng tôi cũng khẩn thiết đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo Trung ương và Hội đồng lý luận Trung ương xem xét lại bộ sách “Lịch sử Việt Nam (tái bản)” khi bộ sách nói trên và những người đã soạn ra nó bắt đầu có những biểu hiện nghiêm trọng của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, của sự tự diễn biến, tự chuyển hóa, xóa nhòa ranh giới đúng – sai, đánh lộn sòng phải – trái và phản bội lại sự hy sinh của hàng chục triệu đồng bào, chiến sĩ ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam./.

Nguyễn Minh Tâm

9 điểm khác biệt lớn về cuộc chiến tranh ở Việt Nam và cuộc chiến tranh của Triều Tiên

Lâu nay có nhiều người cho rằng cuộc chiến tranh của Triều Tiên (Korean War) không khác bao nhiêu với cuộc chiến tranh Việt Nam (Vietnam War), rằng đều là chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc, nếu có khác chăng thì chỉ là tiểu tiết. Trong bài viết “Ẩn số Triều Tiên, quá khứ – hiện tại – tương lai“, tôi đã viết một phần nói về các diễn biến và tính chất khác biệt giữa hai cuộc chiến này, nhưng do quá “ôm đồm”, không muốn bỏ sót một chi tiết nhỏ nào, nên tôi đã liệt kê cả những tiểu tiết khác biệt. Trong bài này, tôi đã gạn lọc ra những khác biệt quan trọng, chính yếu, rút gọn lại và làm rõ hơn những sự khác biệt đó. Đó đều là những khác biệt lớn chứ không hề là tiểu tiết.

1. Quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng và liên quân Anh – Pháp đi vào giải giáp quân Nhật là đi vào một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã độc lập, là đi vào một quốc gia có chủ quyền. Quân Liên Xô và quân Hoa Kỳ đi vào giải giáp quân Nhật là đi vào một bán đảo Triều Tiên chưa có độc lập chủ quyền.

Sở dĩ như vậy là vì uy danh của Kim Nhật Thành và Đảng Lao động Triều Tiên không mang tính chất toàn quốc, thế và lực của họ không lan rộng ra được cả nước. Khi phát xít Nhật thua Đồng minh thì lực lượng Kim Nhật Thành vẫn còn rất yếu, chỉ được lòng dân một cách hạn chế, mang tính chất khu vực, địa phương, cục bộ, vì vậy họ không có đủ thế và lực để tuyên bố độc lập như chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Việt Minh và Quân đội Nhân dân Việt Nam đã làm ở Việt Nam. Họ không đủ sức để làm nên được một cuộc Cách mạng tháng Tám giành chính quyền từ tay Nhật như ở Việt Nam.

Theo đó, khi Liên Xô đem quân vào Bắc Triều Tiên, Hoa Kỳ đem quân vào Nam Triều Tiên thì bán đảo Triều Tiên khi đó vẫn chưa có một nước, chưa có một quốc gia có chủ quyền. Còn Việt Nam thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc tuyên ngôn độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi quân Đồng minh tiến vào.

Việt Nam thành lập Nhà nước, bầu cử Quốc hội, hoàn thành Hiến pháp, thành lập Chính phủ, khẳng định chủ quyền độc lập và thống nhất trên khắp 3 miền Bắc – Trung – Nam trong thời gian 1945-1946, trong lúc “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng hòa” của Pháp – Mỹ chưa hề tồn tại, và mãi về sau mới được Pháp – Mỹ dựng lên.

Trong kháng chiến chống Pháp, ban đầu tự tin với sức mạnh của một đội quân nhà nghề có trình độ phát triển, cấp độ văn minh khoa học kỹ thuật cao hơn Việt Nam nhiều thế kỷ, thực dân Pháp tưởng rằng chỉ cần vài tuần, hay lâu lắm thì cũng chỉ vài tháng là sẽ “làm cỏ” Việt Minh, Đảng, và chính phủ Hồ Chí Minh, thôn tính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy lại thuộc địa Đông Dương. Nhưng sau khi Việt – Pháp giao tranh với nhau đã 4 năm thì Pháp bắt đầu thấy không ổn, tới năm 1949, Pháp bắt đầu chiến lược “Da vàng hóa chiến tranh”, dựng lên “Nam Kỳ quốc” (Nguyễn Văn Thinh đứng đầu), “Quốc gia Việt Nam” (tự xưng là “chính phủ Quốc gia”, do Bảo Đại và Nguyễn Văn Xuân đứng đầu), tiền thân của “nước Việt Nam Cộng hòa”.

Trên bán đảo Triều Tiên thì Lý Thừa Vãn ở Nam Triều Tiên thành lập nước Đại Hàn Dân Quốc (Còn gọi là Cộng hòa Triều Tiên) vào ngày 15 tháng 8 năm 1948. Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vào ngày 9 tháng 9 năm 1948.

Như vậy, ở Việt Nam năm 1949 là giặc xâm lược Pháp đã dựng lên những “quốc gia” lên trên một quốc gia có chủ quyền, đã độc lập từ năm 1945, vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và luật pháp Việt Nam đã ban hành và có hiệu lực từ năm 1946. Càng lộ liễu hơn khi thực dân Pháp đã làm những điều đó ngay trong lúc họ đang xâm lược Việt Nam và hai nước đang giao tranh với nhau.

Còn ở Triều Tiên thì cả hai phe đều lập quốc rất trễ và xấp xỉ cùng thời gian với nhau, và Đại Hàn Dân Quốc đã được thành lập trước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên gần 1 tháng.

Như vậy là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tiền thân của nước CHXHCN Việt Nam ngày nay) và CHDCND Triều Tiên có sự khác nhau về tính chính danh. Danh có chính thì ngôn mới thuận. Sự chính danh đưa tới sự chính ngôn để có được lòng dân và có sự danh chính ngôn thuận, làm sáng tỏ chính nghĩa của mình. Đó là một trong những sự khác biệt to lớn giữa hai bên, không hề là tiểu tiết.

2. Ý chí quốc gia và tính nhất quán của chính phủ quốc gia đó trong vấn đề ngoại giao cũng nói lên được bản chất của sự việc. Ở đây chúng ta thấy ý chí của Việt Nam và sự nhất quán của chính phủ và Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam chưa bao giờ công nhận các ngụy quyền ở Sài Gòn và nói chuyện gì với họ, chưa bao giờ xem họ có tư cách của một quốc gia, nhà nước, chính phủ thật sự. Thật sự chưa bao giờ coi họ ra gì. Việt Nam muốn nói chuyện, muốn giải quyết vấn đề gì, muốn đề xuất việc gì thì tìm hai nhân vật chính Pháp – Mỹ, những người có quyền thật sự mà nói.

Trong khi đó, trên bán đảo Triều Tiên vào thập niên 1970 quan hệ hai nước dần được cải thiện, và hai bên bán đảo Triều Tiên cùng công nhận sự hợp pháp của nhau. Năm 1976, Bình Nhưỡng đã chấp nhận lời đề nghị của Hán Thành thành lập Ủy ban Hỗn hợp Nam Bắc để giải quyết vấn đề tái hợp hai nước, thống nhất bán đảo Triều Tiên bằng biện pháp hòa bình. Đại biểu, lãnh đạo, quan chức của hai quốc gia, kể cả Kim Nhật Thành và các tổng thống Hàn Quốc đã gặp gỡ nhiều lần tại thủ đô của hai bên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam chưa bao giờ có ý gặp gỡ hay đối thoại với các công cụ chính trị, công cụ chiến tranh của Pháp – Mỹ. Trong các bài nói chuyện, các bài tham luận, các phỏng vấn với báo chí trong và ngoài nước, chủ tịch Hồ Chí Minh lên án họ là những kẻ bán nước, phản bội Tổ quốc.

Đến năm 1991 thì cả CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc đã chính thức công nhận lẫn nhau để chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc cùng một lúc. Mặc dù năm 1948 Liên Hiệp Quốc đã ra nghị quyết công nhận Đại Hàn Dân Quốc ngay sau khi Lý Thừa Vãn tuyên bố lập quốc, nhưng ngày 17 tháng 9 năm 1991 Hàn Quốc mới chính thức được kết nạp trở thành thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc, cùng ngày với CHDCND Triều Tiên. Việc này cho thấy Kim Nhật Thành (lúc này vẫn còn cầm quyền) và CHDCND Triều Tiên đã chính thức thừa nhận sự chính danh của Đại Hàn Dân Quốc.

Như vậy là Việt Nam và CHDCND Triều Tiên khác nhau ở tính chính danh và ý chí nhất quán, trước sau như một làm sáng tỏ sự chính danh đó. Cũng như Hàn Quốc và các ngụy quyền ở Sài Gòn khác nhau về tính hợp pháp, cả về luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế.

Hàn Quốc lập quốc cùng thời điểm với CHDCND Triều Tiên và sau này được Kim Nhật Thành và CHDCND Triều Tiên nhiều lần công nhận gián tiếp và trực tiếp, và năm 1991 đã công nhận chính thức. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chưa bao giờ công nhận “Nam Kỳ quốc”, “Quốc gia Việt Nam”, “Việt Nam Cộng hòa” là một quốc gia, nhà nước.

3. Khác nhau về tính chất cuộc chiến và thành phần tham chiến. Chiến tranh Triều Tiên có 2 giai đoạn, giai đoạn 1 là cuộc chiến giữa quân đội Kim Nhật Thành từ phía Bắc đánh thẳng vào phía Nam và quân phòng thủ của Lý Thừa Vãn. Quân đội ngoại bang không có nhiều vai trò trong giai đoạn 1 này. Trong thời gian này quân Liên Xô và quân Mỹ đều đã rút khỏi.

Giai đoạn 2 là gần 1 triệu quân Trung Quốc chống nhau với các lực lượng Liên Hiệp Quốc do Mỹ làm tổng chỉ huy. Lúc này các nguyên thủ quốc gia CHDCND Triều Tiên đều không ở trong nước mà đang lưu vong ở Mãn Châu, Trung Quốc. Còn quân đội Triều Tiên về cơ bản đã tan rã. Quân đội Hàn Quốc trong giai đoạn 1 cũng đã không còn bao nhiêu thực lực, do đó không có vai trò gì nổi bật trong giai đoạn 2.

Như vậy giai đoạn 1 là quân trong nhà chống nhau và mang tính chất cục bộ. Giai đoạn 2 là quân bên ngoài đánh nhau trên bán đảo Triều Tiên. Chính vì vậy mà các trang web của chính phủ CHDCND Triều Tiên hiện nay trong phần lịch sử, họ không viết gì cặn kẽ, rõ ràng, cụ thể về cuộc chiến Triều Tiên mà viết rất ngắn gọn rồi lập tức đi đến kết luận vội vàng theo lợi ích của họ, hoàn toàn không nhắc đến vai trò chiến đấu trực tiếp của đại quân Trung Quốc, vai trò tổng chỉ huy của nguyên soái Bành Đức Hoài, vai trò chỉ đạo chiến tranh của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phần “lịch sử” của họ về cuộc chiến này rất khác với những quan điểm chung của các chính phủ và giới sử học quốc tế, kể cả đồng minh Trung Quốc và giới sử học nước này.

Trường hợp ở Việt Nam thì khác, cuộc chiến ngay từ đầu đã diễn ra chủ yếu bằng lực lượng tại chỗ ở miền Nam là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thực chất chính là Quân đội Nhân dân Việt Nam của miền Nam Việt Nam. Thành phần của quân đội này bao gồm lực lượng quân sự, vũ trang chống Pháp của miền Nam “trốn” không tập kết ra Bắc, mà bí mật ở lại quê quán sau hiệp nghị Genève 1954, kết hợp bộ phận tăng viện từ miền Bắc (mà trong số này phần lớn chính là những người miền Nam đã tập kết ra Bắc và bây giờ trở về quê hương đánh Mỹ, những người này đã quen thuộc, thông thạo địa hình, đường xá quê nhà, có sẵn các mối quan hệ thân thiết, quen thuộc, do đó sẽ tác chiến du kích thuận lợi hơn) và lực lượng chiêu mộ tại chỗ ở miền Nam, trở thành lực lượng quân sự của Mặt trận (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) thực hiện mục tiêu chống Mỹ của Đảng và Nhà nước Việt Nam ở miền Nam Việt Nam.

Như vậy, trường hợp ở Việt Nam không mang tính cục bộ như ở Triều Tiên, không phải là quân đội ở phía Bắc giao tranh với quân đội ở phía Nam như giai đoạn 1 trên bán đảo Triều Tiên.

Chiến cuộc ở VN ngay từ ban đầu đã mang bản chất toàn quốc, với sự tham chiến chống Mỹ của cả nước. Thực tế chiến cuộc đã cho thấy là miền Nam đánh Mỹ trực tiếp, miền Bắc chi viện và bổ sung. Lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, đảng viên cấp cao thì có cả người Nam và người Bắc.

Trong những bộ phim tài liệu, chương trình kỷ niệm về thương binh, liệt sĩ, cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mỹ đã cho thấy rằng đa số họ là những người quê quán ở miền Nam, nói giọng Nam rặc. Ngay cả lực lượng bổ sung từ miền Bắc cũng thường là những người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954, họ chỉ là về lại quê hương miền Nam hoạt động và chiến đấu chống ngoại xâm. Do đó cuộc chiến này do lực lượng tại chỗ ở miền Nam chiến đấu trực tiếp, do nhiều người miền Nam chỉ huy, miền Nam trực tiếp chống Mỹ và tổn thất nhiều nhất.

Thống kê đã cho thấy số phụ nữ được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (theo tiêu chuẩn có ít nhất 3 liệt sĩ là bản thân, chồng, hoặc con trai trong gia đình) ở miền Nam nhiều gần gấp đôi ở miền Bắc. Miền Nam có 29.220 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, miền Bắc có 15.033 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cho thấy một thực tế là quân đội, đảng viên, cán bộ miền Nam đã hy sinh nhiều hơn miền Bắc.

Nhiều cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, tướng lĩnh, quân nhân làm việc, công tác ở ngoài Bắc trong thời gian đó cũng chính là từ miền Nam. Nhiều trường miền Nam đã được xây dựng ở miền Bắc để nuôi dạy các “hạt giống đỏ” thiếu nhi miền Nam.

Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám diễn ra trên cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập trên cả nước. Quốc hội Việt Nam DCCH được bầu trên cả nước. Hiến pháp 1946 được ban hành cho cả nước. Cả nước chống Pháp – Mỹ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ 1945-1954, từ năm 1945 đến đại thắng Điện Biên Phủ.

Theo hiệp định Genève, Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam tập kết ra Bắc, tuy nhiên có một bộ phận rất lớn đã “trốn” tập kết mà bí mật ở lại nơi chôn nhau cắt rốn, hoạt động cách mạng. Đồng thời, ngụy quân miền Bắc của thực dân Pháp cũng tập kết vào Nam. Pháp đi, Mỹ ở lại và bổ sung thêm người ngày càng đông.

Sau đó là cả nước chống toàn Mỹ. Như vậy, cuộc chiến ở Việt Nam mang tính toàn quốc chứ không mang tính vùng miền như trên bán đảo Triều Tiên.


Nhân dân miền Nam giương cao cờ Mặt trận biểu tình chống Mỹ

4. Yếu tố lòng dân cũng là một sự khác nhau quan trọng. Trong đa số những cuộc biểu tình chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, giới trẻ, thanh niên, sinh viên Sài Gòn và cả miền Nam giương cao những băng rôn, biểu ngữ ủng hộ, ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Lao động Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, giương cao quốc kỳ, cờ Mặt trận, cờ Đảng (cờ búa liềm), giương cao hình Bác Hồ, hình đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Trong khi đó xưa nay chưa hề có một cuộc biểu tình nào ở Hàn Quốc mà có được 1 biểu ngữ, khẩu hiệu nào tỏ thái độ ủng hộ Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, gia tộc họ Kim, Đảng Lao động Triều Tiên hay CHDCND Triều Tiên, không thấy ai giơ cao quốc kỳ CHDCND Triều Tiên hay cờ Đảng Lao động Triều Tiên, cũng không ai giơ lên hình Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật.

Tại Hàn Quốc, một bộ phận tuy có thể là không ưa Mỹ, không ưa chính phủ Hàn Quốc, nhưng họ không theo Bắc Triều Tiên. Họ không đào hầm nuôi giấu các điệp viên từ Bình Nhưỡng, họ không cầm súng bạo động chống lại Hàn Quốc, Mỹ, Liên Hiệp Quốc.

Trong thập niên 1950, Kim Nhật Thành đã từng cho đào rất nhiều đường hầm xuyên qua vĩ tuyến 38 để đột nhập vào Nam. Trong đó có 3 đường hầm được khám phá vào năm 1974, 1975 và 1978. Nhiều cán binh Bắc Triều Tiên được đặc phái đến Hàn Quốc nằm vùng, đa số đều bị lực lượng cảnh sát, mật thám của Hàn Quốc và CIA tiêu diệt. Bắc Triều Tiên không len lỏi, trà trộn vào nổi, không xây dựng được căn cứ, cơ sở nào ở Nam Triều Tiên, đó là do họ không có nền tảng quần chúng, không có đủ lòng dân, không hội đủ yếu tố “nhân hòa” như ở miền Nam Việt Nam.

Người dân Hàn cũng không có gởi con em, con cháu đi theo CHDCND Triều Tiên. Tại miền Nam VN thì đa số người dân miền Nam có cảm tình với Mặt trận, ủng hộ Đảng, tin vào Bác Hồ, bà mẹ miền Nam gởi con ra Bắc đã dặn: “Con ra thưa với cụ Hồ, Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao”. Người dân Nam VN đào hầm nuôi giấu cách mạng và cho con em, con cháu mình ra bưng biền, ra chiến khu, ra những vùng giải phóng đi theo kháng chiến.

Đó là những sự khác biệt thấy rõ về lòng dân, lòng dân ở Nam Việt Nam và Nam Triều Tiên!

5. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hồ Chí Minh có cơ sở lịch sử và nhiều chứng cứ, văn kiện pháp lý cho thấy tính chính danh, chính thống không thể tranh cãi của mình. Còn Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Chính phủ Kim Nhật Thành thì không có cơ sở lịch sử đủ mạnh (như đã phân tích ở trên) và họ không có bất kỳ một chứng cứ, văn kiện pháp lý nào cho thấy tính chính thống, chính danh của họ.

Năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, Việt Nam giành lại được độc lập, với quốc hiệu chính thức là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1946, cả nước tổng tuyển cử Quốc hội, bầu ra Quốc hội khóa I và hoạt động liên tục một cách hợp hiến, hợp pháp cho tới ngày nay.

Các văn bản, văn kiện có giá trị pháp lý sau đó như: Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946, sắc lệnh 229/SL của chủ tịch Hồ Chí Minh quy định các cơ quan quân sự trên toàn cõi Việt Nam (bao gồm ở miền Nam Việt Nam) đều trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam DCCH vào tháng 11 năm 1946, tuyên cáo 12 khu hành chính của Việt Nam DCCH (trong phạm vi cả nước) cũng vào tháng 11 năm 1946, và hiệp định Genève 1954. Tất cả những văn kiện pháp lý đó đều minh định một nguyên tắc cơ bản: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước độc lập và thống nhất từ Bắc chí Nam.

Những dấu ấn lịch sử đó, những vật chứng lịch sử đó đã xuất hiện trong lúc trên đất Việt không hề tồn tại bất kỳ một quốc gia, nhà nước, chính thể, chính quyền, ngụy quyền nào khác, và cả sau này cũng không có một quốc gia, nhà nước, chính thể nào khác được bầu ra theo một thể thức như vậy, mà mang tính đại chúng, mang tính quốc gia trên cả nước, và đậm đặc ý chí toàn dân đến như vậy.

Ngay cả hiệp định Genève về Đông Dương cũng chỉ công nhận làn ranh giới tuyến quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử, tạm chia làm 2 vùng tập trung quân sự cho 2 bên tập kết chứ không nói gì đến vấn đề thay đổi lãnh thổ hay phân chia khu vực đất đai này 2 nhà nước, quốc gia.

Theo hiệp định này, vĩ tuyến 17 không phải là làn ranh có ý nghĩa về lãnh thổ, chính trị. Hiệp nghị này không có ý nghĩa chia đôi đất nước về lãnh thổ và chính trị.

Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 có hai phần: Phần “Thỏa hiệp” và phần “Tuyên bố Cuối cùng” (Final Declaration).

Phần “Thỏa hiệp”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng quốc phòng Việt Nam. Phần này có những điều khoản chính như sau:

– Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (military zone) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp (French Union), bao gồm lính Pháp và lính ngụy ở dưới vĩ tuyến 17.

– Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn cõi Việt Nam vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam trong 2 năm.

Bản “Tuyên bố cuối cùng” gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của Việt – Miên – Lào, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng:

Đoạn (6) (Paragraph (6)) nguyên văn như sau:

“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY LÃNH THỔ. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”.

(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau:

“Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín.” [Được ấn định vào tháng 7, 1956].

(The Conference declares that, so far as Vietnam is concerned, the settlement of political problems, effected on the basis of respect for the principles of independence, unity and territorial integrity, shall permit the Vietnamese people to enjoy the fundamental freedoms, guaranteed by democratic institutions established as a result of free general elections by secret ballot..)

Sau đó, như mọi người đã biết, Mỹ đã từ hậu trường nhảy ra sân khấu, không còn nấp sau người Pháp, họ tuyên truyền xuyên tạc nội dung và phủ nhận hiệp định Genève về Đông Dương, ngăn cản việc thi hành các điều khoản quan trọng trong hiệp định này, bao gồm cuộc tổng tuyển cử tự do, ai có hành động tổ chức tổng tuyển cử là bắn bỏ, thậm chí ai nói gì về việc tổng tuyển cử, thống nhất đất nước là bị vu cáo là “cộng sản”, là “Việt Cộng”, là đang tuyên truyền tiếp tay cho “Bắc Việt” và trấn áp, bắt bớ, giam cầm, tra khảo, tra tấn.

Họ ngu dân hóa, ém nhẹm, xuyên tạc những nội dung chính của hiệp định, phá hoại các điều khoản chính trong hiệp định, và nghiêm trọng nhất là điều khoản: “ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY LÃNH THỔ”. Đây là những dữ kiện lịch sử khách quan không thể nào chối bỏ.

Hiến pháp năm 1959 cũng nhắc lại và nhấn mạnh những nguyên tắc trên. Như vậy, bất kỳ thế lực bên ngoài nào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam và tạo ra những “quốc gia” lên trên một quốc gia đã tồn tại hàng ngàn năm, dựng lên những “nhà nước” lên trên một nhà nước đã thành lập từ năm 1945, lập ra những “quốc hội” lên trên Quốc hội khóa I đã bầu cử toàn quốc từ năm 1946 thì đều là vi phạm luật pháp Việt Nam, xâm phạm và chà đạp lên chủ quyền của Việt Nam.

Hãy hình dung nếu bây giờ Trung Quốc chiếm đóng miền Bắc Việt Nam rồi dựng lên một “nước Cộng hòa Nhân dân Việt Nam”, đưa một hậu duệ nào đó của Hoàng Văn Hoan lên làm “chủ tịch anh minh”, “thủ tướng anh minh”. Hay Hoa Kỳ chiếm đóng miền Nam Việt Nam rồi tái lập một “nước Việt Nam Cộng hòa”, hoặc giả thành lập một “nước Dân chủ Việt Nam”, “nước Việt Nam Tự do” nào đó, đưa Đỗ Hoàng Điềm, Hoàng Cơ Định, Nguyễn Hữu Chánh, Lý Tống… về làm “tổng thống anh minh” trên đất Việt Nam, thì có phải là vi phạm luật pháp Việt Nam, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam hay không, thì có phải các tổ chức, các băng nhóm vũ lực được nước ngoài trang bị súng đạn và được ngụy xưng là “quốc gia”, “nhà nước” đó được đưa vào danh sách khủng bố hay không?

6. Việt Nam chủ động đấu tranh để thi hành tổng tuyển cử, Mỹ không dám để cho tổng tuyển cử được diễn ra, trái lại còn dùng bạo lực phản động đàn áp, bắt giữ, thảm sát và gây ra nhiều tội ác để chống tổng tuyển cử. CHDCND Triều Tiên thì tránh né vấn đề tổng tuyển cử và từ chối tổng tuyển cử, Lý Thừa Vãn thì đề nghị tổng tuyển cử.

Tại Việt Nam, Mỹ bác bỏ tổng tuyển cử theo hiệp định Genève 1954 vì CIA biết chắc Hồ Chí Minh sẽ thắng. Tại bán đảo Triều Tiên, vào tháng 11 năm 1947, Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng tuyển cử tại Hàn Quốc dưới sự hỗ trợ của một ủy ban của LHQ. Lý Thừa Vãn yêu cầu tổng tuyển cử vì thấy Kim Nhật Thành cũng không có được lòng dân bao nhiêu và nghĩ rằng mình sẽ thắng do Nam Triều Tiên dân số gần gấp đôi Bắc Triều Tiên. Nhưng Liên Xô và Kim Nhật Thành đã từ chối.

Thất bại trong đề xuất tổng tuyển cử đưa tới việc hai bên tự thành lập quốc gia ở hai đầu Nam – Bắc vào năm 1948. Điều này nói lên sự không đủ chính danh, kém về chính nghĩa, và phần nào nói lên yếu tố lòng dân của CHDCND Triều Tiên.

7. Bản chất, lai lịch của những lãnh đạo chính quyền và sĩ quan quân đội của Hàn Quốc và của ngụy Sài Gòn cũng khác nhau. Các tướng tá, sĩ quan Hàn Quốc ít có người nào từng phục vụ cho đế quốc Nhật trong lúc người Nhật đô hộ bán đảo Triều Tiên. Đa số họ cũng là những người kháng Nhật, từng phục vụ trong Quân Giải phóng Triều Tiên (Hàn Quốc Quang phục quân). Còn các chóp bu, tướng tá, sĩ quan của ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn đa phần đã từng phục vụ cho thực dân Pháp trong thời Pháp thuộc.

Họ có Pháp tịch, nói tiếng Pháp, đeo huân chương Pháp, học ở Pháp, được Pháp phong chức, trả lương, đào tạo, bảo bọc. Nhiều gia đình có “thành tích” làm việc cho thực dân Pháp nhiều đời, đàn áp nghĩa quân rất dã man.

Có cả những kẻ nói tiếng Pháp thạo hơn cả tiếng Việt (như tướng Nguyễn Văn Hinh). Có cả những kẻ chỉ huy ngụy quân trong trận Điện Biên Phủ bên cạnh chủ Pháp, phất cờ Tam tài, hát quốc ca Pháp (như tướng Phạm Văn Phú).

Quân đội “Việt Nam Cộng hòa” được xây dựng và phát triển từ quân đội “Quốc gia Việt Nam” thời Pháp, từ lực lượng ngụy quân nòng cốt và những tay sai đắc lực của thực dân Pháp.

Gs. Nguyễn Mạnh Quang, là giáo sư khoa Sử – địa ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, hiện nay là giảng viên khoa Lịch sử Hoa Kỳ tại Sở Học Chánh Tacoma, bang Washington, Hoa Kỳ, đã nhìn nhận:

“Thật tình mà nói, giới lãnh đạo quân sự và chính trị của hai chế độ đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng hòa là một lũ tay sai của Pháp đào tạo để phục vụ cho thực dân Pháp cho nên trong máu họ mang tính tay sai lúc nào cũng nhìn trước ngó sau ông chủ có vừa lòng hay phật ý cho nên khi nắm quyền lãnh đạo ở Sàigòn nhưng mắt cứ để ý ở Washington, Paris, Rome. Trong số này cũng có nhưng rất hiếm người có lòng với quốc gia dân tộc thì lại bị tập đoàn Ngô Đình Diệm loại bỏ bằng nhiều hình thức. Trong quân đội và hành chánh có nhiều người trẻ được đào tạo sau khi thực dân Pháp cáo chung, họ có tài có tâm huyết song không phải là cấp chỉ đạo mà là những kẻ thừa hành thì làm được gì vì quyền cao chức trọng nằm trong tay đám tay sai của thực dân Pháp đào tạo quyết định.”

Yếu tố con người cũng rất quan trọng. Bản chất của từng con người trong bộ máy đó, chế độ đó nói lên nhiều điều.

8. Rất nhiều lãnh đạo Hoa Kỳ, trong đó cả tổng thống đã chủ động thừa nhận (như Ts. Daniel Ellsberg, sĩ quan Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, chuyên viên phân tích của Lầu Năm Góc) hoặc vô tình lỡ lời (như Tổng thống Johnson, Đại tướng Taylor, TT. Nixon) nói lên bản chất bù nhìn của ngụy Sài Gòn và thực tế ai là chủ trong mối quan hệ Mỹ-ngụy.

Nixon hù dọa sẽ cắt đầu Thiệu nếu cần (Cut off his head if necessary), “cố vấn” Mỹ cười cợt đòi bắn bỏ Thiệu, Nixon ví ngụy quyền như cái đuôi của mình v.v. Ngoài giới chính trị, quân sự Hoa Kỳ thừa nhận bản chất tay sai của ngụy quyền Sài Gòn thì những người dân thường Mỹ cũng coi ngụy quyền Sài Gòn chỉ là bù nhìn của chính phủ họ. Điều này thể hiện trên các băng rôn trong phong trào phản chiến khắp nơi trên đất Mỹ và cả thế giới.

 

Và rất nhiều chóp bu ngụy, trong đó có cả “tổng thống”, “phó tổng thống”, “thủ tướng”, tướng tá sĩ quan ngụy đã chủ động thừa nhận hoặc sơ ý lỡ lời nói lên bản chất bù nhìn của chế độ mình, quân đội mình. Trong đó có những người sau này đã không còn chống đối nữa (Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh, Đỗ Mậu, Trần Chung Ngọc v.v.) và cả những người chống cả đời hoặc vẫn đang chống đối (Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Đôn, Đặng Văn Nhâm, Trần Viết Đại Hưng, Cao Văn Viên v.v.).

Trong giai đoạn đấu tranh giằng co với Việt Nam trong hội nghị Paris, khi “tổng thống” Nguyễn Văn Thiệu xin cho mình khỏi phải ký tên vào Hiệp định Paris 1973 vì ông ta bảo rằng đây là hiệp định “bán đứng miền Nam cho cộng sản”, thì có một lần Nixon đã nói với Kissinger: “Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được.”

Và sau đó Thiệu vẫn phải nhịn nhục ký vào hiệp định và ông ta thừa biết dù không ký thì ông ta vẫn sẽ bị gạt ra và hiệp định vẫn sẽ được thông qua, thậm chí ông ta có thể bị gì đó, gương Ngô Đình Diệm vẫn còn ngay đó.

Theo Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của chế độ Sài Gòn, giáo sư đại học Harvard tại Mỹ trong cuốn “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” (The Palace File) xuất bản năm 1986 thì trong thời điểm đó Mỹ đã nhiều lần gởi thơ yêu cầu, bắt buộc, và đe dọa (thậm chí đe dọa tính mạng) Thiệu phải ký vào hiệp định.

Theo sách “Vietnam, a History” của nhà sử học Stanley Karnow, do NXB Edition King Press xuất bản năm 1983, khi phóng viên hỏi tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson tại sao lại chọn Diệm mà không phải là một nhân tuyển khác, thì Johnson đã trả lời: “Diệm là thằng con trai duy nhất mà chúng ta có ở đó.” (Diem is the only boy we’ve got out there). Lưu ý ông Diệm là một người trung niên đã lớn tuổi.

Tuy nhiều câu nói của các tổng thống Mỹ đôi lúc chỉ là sự lỡ lời, nhưng điều đó cũng nói lên rằng họ không hề tôn trọng và không coi ngụy quyền Sài Gòn ra gì.

Cựu sĩ quan Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, chuyên gia phân tích của Lầu Năm Góc, Ts. Daniel Ellsberg trong cuốn sách “Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers”, NXB Viking xuất bản năm 2002, đã cho biết:

“Không làm gì có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, mà chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: Mới đầu là Pháp – Mỹ (1945-1954), sau đến toàn là Mỹ (1954-1975). Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.

Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến.”

(There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.

In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American. In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of them but enough to persist – against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.

It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest. A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the nature of the local regime in its own interest – was not a civil war.)

Tướng Đỗ Mậu (từng là “Phó thủ tướng” ngụy) đã viết về Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu trong phần “Lời Mở Đầu” của hồi ký “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, do nhà xuất bản Hương Quê xuất bản năm 1986 ở Mỹ và sau này nhà xuất bản Văn Nghệ tái bản lại cũng ở Mỹ như sau: “Người thì muốn nối dài biên giới Hoa Kỳ từ Alaska đến sông Bến Hải, người thì đào nhiệm bỏ ngũ khi Hoa Kỳ ngưng viện trợ ‘chống Cộng'”.

Sử gia Jacques Dalloz cũng ghi nhận trong quyển “The War in Indochina 1945-1954” câu nói của Diệm: “Biên giới của Mỹ không ngừng ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, mà kéo dài, ở Đông Nam Á, tới sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17 của Việt Nam, hình thành một biên giới của ‘thế giới tự do’, cái mà chúng ta đều trân quý.” (The frontiers of the United States do not stop at the Atlantic and Pacific Coasts, but extend, in South East Asia, to the Ben Hai river, which partitions Viet-Nam at the 17th parallel, and forms the threatened border of the Free World, which we all cherish.”)

Trong phim tài liệu “Vietnam: A Television History” do đài PBS, NBC, và ABC hợp tác sản xuất, có đoạn phóng viên phỏng vấn Nguyễn Cao Kỳ. Ông Kỳ kể lại sau khi ông ra lệnh đàn áp cuộc đấu tranh của Phật giáo và muốn hạ bệ tướng Nguyễn Chánh Thi trong một cuộc chiến quyền lực, vào đầu năm 1965. Sau đó ông và các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Khánh, và Nguyễn Chánh Thi bị “đại sứ” Mỹ triệu tập vào và đập bàn ghế chửi mắng thậm tệ. Cựu “phó tổng thống” Nguyễn Cao Kỳ thật thà thú nhận rằng từ nhỏ tới lớn ông chưa bao giờ bị chửi mắng thậm tệ như thế, ngay cả cha ruột của ông cũng chưa bao giờ chửi mắng ông ta nặng và lâu đến như vậy. Sau đó, Nguyễn Khánh bị Mỹ lưu đày, và năm 1966, Nguyễn Chánh Thi cũng chịu chung số phận.

Theo quan hệ thông thường giữa các quốc gia, chỉ có chính quyền sở tại triệu đại sứ đến nói chuyện, đằng này ngược lại, mà còn bị chửi mắng, xúc phạm, sỉ nhục. Đây là một trong những điều cho thấy bản chất thật của chế độ Sài Gòn và quân đội Sài Gòn là gì.

Ngoài ra, phim tài liệu “Heart & Mind” của đạo diễn Peter Davis, do đài BBC Anh quốc sản xuất năm 1974 và đoạt giải Oscar cho phim tài liệu hay nhất năm 1975 cũng cho thấy cảnh Nguyễn Khánh cho biết Nhà ngoại giao, Đại tướng Maxwell D. Taylor của Mỹ đã đích thân ra lệnh cho ông ta phải rời khỏi nước Việt Nam. Thậm chí, Nguyễn Khánh còn lén ghi âm lại lệnh lưu đày của Taylor.

Theo các tướng tá cũ của quân đội Sài Gòn như Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, và cựu “dân biểu” Lý Quý Chung thì sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Francois Vunuxem đã tới gặp “tổng thống” Dương Văn Minh và đề nghị kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu ngụy quyền Sài Gòn đang trong cơn nguy kịch. Tướng Minh vốn đã được Ban Binh vận Trung ương cục miền Nam thông qua em trai Dương Thanh Nhựt (bí danh Mười Ty, đại tá QĐNDVN) và gia đình đã thuyết phục từ trước, nên ông đã từ khước và nói: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Cộng.”

Tướng Cao Văn Viên là 1 trong 5 đại tướng trong quân đội Sài Gòn. Ông ta giữ chức Tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy lâu nhất, từ năm 1965 đến 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Cao Văn Viên chạy theo người Mỹ sống luôn bên Mỹ, qua đời ở tiểu bang Virginia vào năm 2008. Trong hồi ký để lại, ông viết: “Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm về cuộc chiến ở đây là của người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi!”. Và còn nhiều câu khác gián tiếp cho thấy tính chất “tầm gửi” của ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cựu phụ tá Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, là một trong 16 nhân vật chức lớn nhất trong chế độ ngụy quyền còn ở lại khi Sài Gòn được giải phóng tháng 4/1975, đã trả lời phóng viên của đài BBC Việt ngữ vào năm 2010:

“Pháp đã ở Việt Nam 100 năm. Pháp đi sau Hiệp định Genève thì Mỹ lại nhảy vô.

Tôi nói thật, trong tất cả các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị hất đổ ngay. Ở miền Nam này đã xảy ra không biết bao nhiêu cuộc đảo chánh – mười mấy lần chứ có ít đâu.

Tụi tôi trong quân đội, học ở Mỹ, học tiếng Mỹ, đi thăm Mỹ… đủ hết. Rồi tụi tôi cũng có nhiều bạn Mỹ rất tốt bụng, nhưng với Mỹ thì tôi vẫn không có bằng lòng. Thậm chí lần đi thăm đại bản doanh Cục Tình báo Trung ương (CIA) bên đó, thấy sợ hơn là thấy thích.

Người Mỹ họ có đường lối của họ: đó là họ phải nắm chỉ huy ở miền Nam này. Họ chỉ huy trong mọi lãnh vực, từ chính trị, kinh tế tới ngoại giao… Mỹ nắm hết. Rồi chính Mỹ đã bỏ miền Nam Việt Nam.”

Trong bài chính luận “Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam Năm 1975” của tác giả Trần Viết Đại Hưng, một cựu sĩ quan ngụy, bạn thân của tướng ngụy Nguyễn Chánh Thi, và hiện đang hoạt động chống cộng sản ở Lawndale, Mỹ:

“Trong thời Chiến tranh Việt Nam, báo chí Mỹ phanh phui là Thiệu cùng với đàn em là Trung tướng Đặng văn Quang, đã buôn bán Bạch phiến làm giàu. Thứ trùm ma túy như Thiệu thì làm gì mà có chuyện yêu nước thương dân. Gặp thời loạn lạc, làm cai thầu chống Cộng, Thiệu chỉ có một việc duy nhất là vơ vét cho đầy túi tham mà thôi. Đến khi quốc gia hưng vong thì lòi ngay ra bản chất ti tiện hèn nhát, đúng là ” có cháy nhà ” mới ” lòi mặt chuột ” Nguyễn văn Thiệu.

Phó tổng thống Nguyễn cao Kỳ cũng chẳng có gì khá hơn, trong cuốn hồi ký ” Việt Nam máu lửa quê hương tôi” , cựu thiếu tướng Đỗ Mậu đã chỉ ra rằng ông Kỳ và bà chị ruột là Nguyễn thị Lý đã buôn lậu thuốc phiện từ Lào về bán. Đúng là hai gương mặt cai thầu chống Cộng do Mỹ dựng lên là Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kỳ chẵng có tay nào sáng sủa, toàn là thứ buôn lậu ma túy. Phải đợi tới những ngày cuối tháng 4 năm 1975 mới thấy rõ tư cách hèn kém của hai tay này. Bỏ quân leo phi cơ mà chạy không một chút liêm sỉ và danh dự của người lãnh đạo.

Thiệu và Kỳ sẽ còn bám víu quyền lực nếu ngày nào còn viện trợ của Mỹ mà thôi. Công tâm mà nói, đúng ra vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Nguyễn Cao Kỳ tính làm một cuộc đảo chánh chính phủ Dương văn Minh mới thành lập để đối đầu với Bắc quân. Dĩ nhiên là người Mỹ biết chuyện đó và trùm CIA ở Saigòn lúc đó là ông Polgar đã cảnh cáo Kỳ là không được lộn xộn, Kỳ nghe như thế thì riu ríu vâng lời vì đã nhiều năm làm việc với người Mỹ, Kỳ hiểu rằng nếu cứng đầu, bướng bỉnh cãi lại Mỹ thì chỉ mang họa vào thân. Trước đây khi ép buộc Tổng thống Thiệu ký Hiệp định Paris về Việt Nam vào tháng 1 năm 1973, Tổng thống Nixon cũng gửi nhiều bức thư cho Thiệu, cảnh cáo Thiệu là nên nghe lời Mỹ mà ký, chứ nếu không thì sẽ chịu số phận thê thảm của Tổng thống Diệm. Những lời hù dọa này đã có kết quả: Nguyễn văn Thiệu đồng ý ký vào Hiệp định Paris về Việt Nam dù bản thân Thiệu cũng biết đây là hiệp định bán đứng miền Nam cho Cộng sản. (Xin đọc kỹ cuốn sách Hồ sơ mật Dinh Độc Lập của tiến sĩ Nguyễn tiến Hưng để coi lại những bức thư mà Nixon viết cho Thiệu nhằm thuyết phục và hăm dọa Thiệu ký).”

“Việt Nam Cộng hòa chiến đấu chống Cộng sản trong suốt 21 năm (1954-1975). Miền nam được sự bảo trợ kinh tế và quân sự của Mỹ, tiếc rằng Mỹ không đóng vai trò một đồng minh tin cẩn, nhiệt thành mà Mỹ là hiện thân của một ông chủ thô bạo, tiền hậu bất nhất để rồi mới đưa đến thảm kịch 30 tháng 4.

Mỹ thất bại với Việt Cộng là vì đánh giá quá thấp khả năng chiến đấu của Việt Cộng, đã không làm tròn vai trò đồng minh với Việt Nam Cộng hòa mà chỉ độc đoán điều hành sắp đặt mọi việc. Người lính Mỹ mắt xanh mũi lõ có mặt trên đất nước Việt Nam cũng không khác gì hình ảnh của lính Pháp viễn chinh ngày xưa. Thêm vào đó, Mỹ không muốn tìm một người lãnh đạo quốc gia có tư cách để cùng chống Cộng vì những người này đôi khi xung khắc với đường lối của Mỹ, cho nên Mỹ chỉ muốn tìm tay sai để sai bảo cho dễ và những tên tay sai thì thường mất tư cách, tham nhũng, làm suy yếu tiềm năng chống Cộng. Viện trợ của Mỹ trước đây đổ vô miền Nam như đổ vô cái thùng không đáy vì tệ nạn tham nhũng mà đứng đầu là vua tham nhũng Nguyễn Văn Thiệu.”

Trong một số bài viết về lịch sử hiện đại Việt Nam, như bài “30 tháng tư, nhìn lại cuộc chiến ở Việt Nam”, “Tôi đọc bài của Phạm Cao Dương về Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, “Vài nét về Cụ Hồ” v.v. Giáo sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, cựu sĩ quan quân đội Sài Gòn, cựu giảng viên Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định, hiện đang sinh sống tại Grayslake, Illinois, Hoa Kỳ, đã viết:

“Nhìn cuộc chiến ở Việt Nam đơn giản chỉ là cuộc chiến giữa lý tưởng “tự do dân chủ” của “người Việt Quốc gia” đối với lý tưởng “độc tài sắt máu” của người Việt Cộng sản là không hiểu gì về cuộc chiến cả. Do đó kéo dài hận thù đối với Cộng sản là một hành động vô trí, bắt nguồn từ cái nhìn rất thiển cận của mình về cuộc chiến. Hiện nay chúng ta có rất nhiều tài liệu về cuộc Chiến tranh Việt Nam vừa qua, gồm cuộc chiến chống Pháp và cuộc chiến chống Mỹ, nhiều đến độ có lẽ không bao giờ chúng ta có thể biết hết và đọc hết. “Người Việt Quốc gia” thường cho Nam Việt Nam là “đồng minh” trước hết là của Pháp, rồi sau là của Mỹ, để chống Cộng cho họ. Nhưng sự thật khá đau lòng, trong cả hai cuộc chiến, “Nam Việt Nam” chỉ là tay sai, con cờ của Pháp và Mỹ. Pháp chưa bao giờ coi “thành phần quốc gia” là “đồng minh” của họ. Mỹ còn tệ hơn nữa vì là ông chủ chi tiền.”

“Đối với một thiểu số người Việt lưu vong, thì ngày 30/4/75 là ngày mà họ gọi là ngày “mất nước” làm như miền Nam là nước của riêng họ. Tuy rằng nước vẫn còn đó, và càng ngày càng phát triển, ngày nay đã vượt trội hẳn cái “nước” của họ khi xưa mà thực ra chỉ là cái “nước” nằm trong sự chi phối của những đồng đô la viện trợ và sự chỉ đạo của các quan Toàn Quyền như Nolting, Lodge, Martin.”

“Không phải là sau Hiệp định Genève về Đông Dương Mỹ mới can thiệp vào Việt Nam mà Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam từ trước đã lâu. Mỹ đã đồng lõa với thực dân Pháp trong mưu toan tái lập nền đô hộ của Pháp trên dân Việt Nam. Những người thực sự tin rằng Mỹ là “đồng minh” của Nam Việt Nam, muốn giúp dân Việt Nam để chống lại Cộng sản, để cho dân Việt Nam, hay ít ra là dân miền Nam, được tự do dân chủ, nên nhớ kỹ rằng chính Mỹ đã đài thọ hơn 80% chiến phí cho Pháp trong cuộc chiến tiền-Genève, từ 1945 đến 1954, để Pháp tái lập nền đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, đưa Việt Nam trở lại vòng nô lệ Pháp, trong khi Mỹ đã biết rõ chế độ thực dân Pháp đối với dân Việt Nam là như thế nào. Lịch sử Việt Nam sẽ lên án hành động đế quốc thực dân này. Nếu chúng ta coi Pháp là quân xâm lăng thì Mỹ cũng là kẻ xâm lăng không kém. Chỉ sau khi Pháp thất trận Mỹ mới đưa ra chiêu bài giúp Việt Nam, bảo vệ nền tự do (sic) của Nam Việt Nam trong khi, như chúng ta đã biết, theo Hiệp định Genève về Đông Dương, Nam Việt Nam không phải là một quốc gia độc lập mà chỉ là một vùng rút quân của Pháp và những lực lượng quân sự dưới quyền Pháp, trong đó có lực lượng “Quốc gia”, chờ ngày Tổng Tuyển Cử trên toàn thể đất nước vào năm 1956.”

“Ngày 30/4/1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể là họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam, một người Việt Nam không “Quốc gia” không Cộng sản, không Nam không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống xâm lăng của dân tộc. Khía cạnh tích cực nhất của ngày 30/4/75 là trên đất nước không còn cảnh bom đạn, cảnh đồng bào bắn giết nhau, và nhất là đất nước đã vắng bóng quân xâm lược.”

Trong bài viết gởi nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân trên trang phản động “Đàn chim Việt”, Đặng Văn Âu, cựu sĩ quan ngụy, một trong những tên tay sai đắc lực nhất, chó săn trung thành nhất của chủ Mỹ trước năm 1975, đã viết:

“Cần phải vận động Hoa Kỳ cho Việt Nam trở thành một tiểu bang của nước Mỹ. Chỉ còn có cách ấy, nhân dân ta mới có thể chống nổi tham vọng bành trướng của người Đại Hán. Mày nghĩ rằng tao đề nghị như thế là bán Tổ Quốc Việt Nam cho ngoại bang phải không? Cũng đành lòng thôi! Tao nhận thấy cái đường lối cai trị của Đảng Cộng Sản hiện nay, trước sau gì rồi Việt Nam cũng trở thành Giao Chỉ Quận. Thà làm một tiểu bang của Hoa Kỳ, người dân Việt Nam sẽ có đủ các quyền tự do, các giá trị làm người được Hiến Pháp do ông Jefferson viết ra bảo đảm. Còn Hiến Pháp Việt Nam (dù năm 1946) chỉ là thứ trang trí cho có vẻ huê dạng dân chủ mà thôi. “Thà làm công dân nước Mỹ; con hơn làm nô lệ nước Tầu”, không sướng sao?”

“Làm con chó ở Mỹ sướng lắm! Bất cứ chủ chó nào ngược đãi chó là bị hàng xóm gọi cảnh sát can thiệp ngay! Không như ở Việt Nam, Công An đánh chết người vô tội cũng chẳng bị pháp luật trừng trị.

Việt Nam trở thành tiểu bang Hoa Kỳ, người Việt Nam sẽ có hy vọng làm Tổng thống của đại cường, không có ai dám khinh dễ. Ông Obama bố sang Hoa Kỳ chơi một vòng rồi trở về Phi Châu, để lại một giọt máu – Barrack Hussein Obama – trở thành Tổng thống là một minh chứng hùng hồn nhất. Các đại gia lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã lo xa, đều đem tiền ăn cướp của dân, sang Mỹ mua nhà to cả rồi! Chỉ hiềm một nỗi Hoa Kỳ không chấp thuận cho làm một tiểu bang của họ thôi!”

Trong bài tuyên truyền “Thằng Mỹ đô hộ coi bộ khỏe hơn” trên trang phản động “Dân luận”, Nguyễn Ngọc Già, cựu “anh hùng mũ đỏ” của ngụy quân đã úp mở viết câu kết luận ngay cuối bài: “Thôi thì… cho thằng Mỹ nó đô hộ coi bộ khỏe hơn.”

Trong một số diễn đàn của các “hội ái hữu” cựu quân nhân quân ngụy Sài Gòn như diễn đàn Biệt Động Quân, diễn đàn Thủy quân Lục chiến, diễn đàn Sư đoàn Dù, diễn đàn Sư đoàn 1 Bộ Binh, diễn đàn “Mũ xanh”, “Mũ đỏ” v.v., khi đăng lại 2 bài trên, một số người chướng tai gai mắt đã vào phản đối thì nhiều thành viên từng là lính ngụy đã chống chế và hô hào kêu gọi bắt “CSVN” phải tổ chức trưng cầu dân ý một cách dân chủ về việc biến Việt Nam thành một tiểu bang thứ 51 của Mỹ, chính thức sát nhập Việt Nam vào nước Mỹ.

Họ xem đó là một “vinh dự”, “vinh hạnh” của dân tộc Việt Nam khi “được” làm một tiểu bang Hoa Kỳ. Thậm chí một số người còn cho rằng VN “không xứng đáng được làm một tiểu bang của Mỹ”, “VN tuổi gì mà được Mỹ cho phép như thế” v.v. Đúng như giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã nhận định, tư tưởng tay sai, nô lệ đã ăn sâu vào máu và đầu óc họ.

Ở trên là những quan điểm khác nhau của nhiều tầng lớp, chức vụ khác nhau trong chính phủ, quân đội Hoa Kỳ và ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn, dù gián tiếp hay trực tiếp, dù lỡ miệng hay thật thà thừa nhận, dù thiện hay ác, dù là quan điểm phá hoại hay quan điểm xây dựng v.v. cũng đều nói lên bản chất của ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn. Không gì rõ ràng hơn là chính họ nói về họ, chính họ nói về nhau, quân nhân Mỹ nói về bản thân họ và nói về “đồng minh” của họ, quân nhân ngụy nói về bản thân họ và nói về “đồng minh” của họ. Và họ nói những điều đó cả trong cuộc chiếnsau cuộc chiến.

Tóm lại, ngoài những vật chứng về pháp lý làm sáng tỏ sự chính danh, chính nghĩa rõ rệt của Việt Nam như đã trình bày ở những phần trên, thì còn có những nhân chứng nằm trong hàng ngũ Hoa Kỳ, bao gồm cả người Mỹ và người Việt, giúp làm rõ ràng, minh bạch hơn sự chính danh, chính nghĩa không thể tranh cãi của Việt Nam.

Nhưng xưa nay, cả trong chiến tranh Triều Tiên và sau chiến tranh Triều Tiên, chưa có 1 lãnh đạo Mỹ, sĩ quan Mỹ, người dân Mỹ nào nói gì về Hàn Quốc như vậy. Cũng chưa có 1 tổng thống, lãnh đạo Hàn Quốc nào “tự thú” như các “tổng thống”, chóp bu ngụy Sài Gòn đã làm.

9. Khác nhau về tính tiếp nối của cuộc chiến chống ngoại xâm. Mỹ là kẻ hậu thuẫn, giúp đỡ, viện trợ, và chi trả cho thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam từ năm 1954, một cuộc chiến mà tuyệt đại đa số các nhà sử học Pháp, Mỹ và quốc tế, và cả chính giới Pháp thú nhận rằng đó là một cuộc chiến nhằm tái chiếm thuộc địa.

Hơn 80% chiến phí mà quân đội Pháp sử dụng là của Mỹ, phần lớn vũ khí hiện đại mà quân Pháp sử dụng trong cuộc chiến Đông Dương là do Mỹ sản xuất và viện trợ. Như vậy cuộc chiến này là cuộc chiến của “quân đội Pháp – đô la Mỹ”. Mỹ ngụy biện rằng mình vì “sợ Cộng sản” nên mới giúp Pháp đánh Việt Nam, sự thật là Mỹ đã bỏ tiền cho Pháp xâm lược Việt Nam, tái chiếm thuộc địa Đông Dương và sau đó ăn chia với nhau lợi ích ở đây.

Như vậy, việc Mỹ thay Pháp nhảy vào Đông Dương là việc dễ hiểu, đơn giản là Mỹ không cam lòng, không chịu thua, không muốn nhả ra miếng mồi béo bở Đông Dương. Việt Nam và cả Đông Dương có tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người rất phong phú, nhân công rẻ và làm lụng cần cù, siêng năng, được việc. Và khống chế được VN thì coi như khống chế được bán đảo Đông Dương, Đông Nam Á, và toàn bộ khu vực.

Do đó nhiều nhà sử học Việt Nam và quốc tế đã nhận định: Cuộc chiến 1945-1954 là cuộc chiến Việt Nam chống Pháp – Mỹ, và cuộc chiến 1954-1975 là cuộc chiến Việt Nam chống toàn Mỹ, chỉ còn lại Mỹ. Tại bán đảo Triều Tiên, Mỹ không ủng hộ, hỗ trợ, viện trợ cho đế quốc Nhật xâm lược Triều Tiên, trái lại họ cũng chống Nhật. Nhật là kẻ đã đô hộ, nô dịch Triều Tiên gần nửa thế kỷ. Pháp là bọn đã đô hộ, nô dịch Việt Nam gần 1 thế kỷ.

oOo

Khách quan nhìn lại những dữ kiện thực tế lịch sử thì thấy rằng bản chất của chiến tranh Mỹ – Việt và chiến tranh liên Triều là không giống nhau. Bối cảnh lịch sử và các diễn biến lịch sử khách quan trên đất nước Việt Nam và trên bán đảo Triều Tiên cũng khác nhau, và những khác biệt đó là những khác biệt quan trọng về bản chất các bên, chứ không hề là những râu ria tiểu tiết.

Theo Blog Thiếu Long Texas

—————————————————————-

Bài liên quan:

* Nhìn lại sự thật lịch sử để hòa hợp dân tộc Việt Nam