Những cuộc chiến dưới tay 5 đời tổng thống Mỹ gần đây nhất

Vào thời điểm “cuộc tấn công của Mỹ vào Syria chỉ còn tính bằng giờ”, hãng Associate Press đã khái quát về những cuộc xâm lược của Mỹ từ vài thập kỷ qua.

Trong vòng 30 năm, trải qua 5 đời tổng thống, nước Mỹ đã phát động hàng loạt cuộc tấn công quân sự vào các nước khác. Dưới đây là những nét khái quát về các cuộc tấn công này và mức độ ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

– Beirut (Năm 1982-83): Binh sỹ Mỹ triển khai ở Lebanon trong thành phần lực lượng gìn giữ hòa bình 3 quốc gia. Cùng với Pháp, Tổng thống Reagan hạ lệnh mở các cuộc không kích có giới hạn để trả đũa cho vụ đánh bom vào các trại lính làm 299 lính Mỹ và Pháp thiệt mạng.

– Grenada (1983): Cuộc xâm lược của khoảng 7.000 quân Mỹ cùng 300 lính trong Tổ chức các nước Châu Mỹ (OAS) sau khi nổ ra cuộc đảo chính tại quốc đảo vùng Caribe. Cuộc tấn công này bị Anh và Liên hợp quốc lên án nhưng nhận được sự ủng hộ của 6 quốc đảo vùng Caribe, nhóm cho rằng hành động này là chính đáng theo hiến chương OAS.

– Libya (1986): Các trận không kích nhằm trừng phạt chế độ của nhà lãnh đạo Moammar sau vụ nổ tại một sàn disco ở Berlin (Đức) làm 79 người Mỹ bị thương và 2 người thiệt mạng. Nước Anh ủng hộ các vụ tấn công này nhưng Đại Hội đồng Liên hợp quốc lại lên án.

George H.W.Bush

– Panama (1989): Cuộc xâm lược của hơn 26.000 lính Mỹ xảy ra sau khi nhà độc tài Manuel Noriega tuyên chiến với các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với chính phủ Panama bị cáo buộc buôn lậu ma túy. Một lính thủy đánh bộ Mỹ thiệt mạng sau khi ông Noriega tuyên chiến, nhưng từ trước khi cuộc xâm lược bắt đầu.

– Iraq (1991): Cuộc xâm lược Iraq với sự tham gia của 33 nước khác đã hối thúc Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ra nghị quyết buộc Tổng thống Iraq khi đó là Saddam Hussein phải rút quân khỏi Kuwait.

– Somalia (1992): Người Mỹ triển khai quân sang quốc gia châu Phi này với chiêu bài gìn giữ hòa bình và viện trợ nhân đạo theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Bill Clinton

– Iraq (1993): Những cơn mưa tên lửa hành trình đã trút xuống thủ đô Baghdad, đánh trúng các trụ sở tình báo Iraq, để trả đũa một âm mưu ám sát Tổng thống George H.W. Bush

– Somalia (1993): Các đơn vị lĩnh Mỹ được triển khai đồng loạt cùng 35 nước khác để thực hiện sứ mệnh an ninh và ổn định theo một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

– Haiti (1994): Mỹ triển khai nhiều quân tham gia sứ mệnh gìn giữ hào bình và ổn định quốc đảo này theo một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

– Bosnia (1994-96): Trong vòng 18 tháng, Mỹ và các đồng minh NATO đồng loạt mở nhiều đợt oanh kích mà cao điểm là các trận ném bom, pháo kích và bắn tên lửa hành trình nhằm vào lực lượng người Serbia tại Bosnia. Hành động này được thực hiện theo đề nghị của Tổng thư ký Liên hợp quốc Boutrous Boutrous-Ghali và áp đặt các vùng cấm bay theo ít nhất là 3 nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Binh sĩ nhiều nước được triển khai suốt một năm tại đây trong sứ mệnh gìn giữ hòa bình của NATO.

– Iraq (1996): Nhiều đợt tấn công bằng tên lửa hành trình nhằm vào các mục tiêu ở miền Nam Iraq để trả đũa cho các vụ tấn công máy bay chiến đấu Mỹ đang thực hiện vùng cấm bay để bảo vệ các sắc tộc thiểu số ở Iraq. Vùng cấm bay được áp đặt theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

– Sudan, Afghanistan (1998): Các trại huấn luyện khủng bố tại Sudan và Afghanistan bị tấn công bằng tên lửa hành trình để trả đũa vụ đánh bom Đại sứ quán Mỹ ở Kenya và Tanzania làm hơn 220 người thiệt mạng, trong đó có 12 công dân Mỹ.

– Iraq (1998): Một loạt các mục tiêu ở Baghdad đã bị nã tên lửa hành trình để trừng phạt chế độ Saddam Hussein không tuân thủ các cuộc thanh sát vũ khí hóa học của Liên hợp quốc theo các yêu cầu trong nghị quyết của Hội đồng Bảo an.

– Kosovo: (1999): Các mục tiêu quân sự của Nam Tư cũ bị không kích và trúng tên lửa hành trình trong suốt 3 tháng tấn công. Ngoài ra, nhiều trạm điện, cầu cống và cơ sở hạ tầng khác của Nam Tư cũng bị phá hủy trong chiến dịch này của NATO.

George W. Bush

– Afghanistan (2001): Cuộc xâm lược diễn ra trong khuôn khổ chiến dịch quân sự của NATO sau khi xảy ra vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001. Đã có khoảng 100.000 quân từ 48 nước tiến vào Afghanistan trong thành phần lực lượng Hỗ trợ an ninh quốc tế (ISAF) do Mỹ cầm đầu. Trong số này, có 60.000 lính Mỹ. Vào cuối năm 2013, các binh sĩ NATO trong thành phần ISAF sẽ giảm còn một nửa và toàn bộ các lính chiến đấu nước ngoài sẽ rời khỏi mảnh đất Afghanistan vào cuối năm sau.

– Iraq (2003): Cuộc xâm lược diễn ra với chiêu bài “nguyện vọng của liên minh” 48 nước nhằm lật đổ chế độ Saddam Hussein. Khoảng 160.000 binh sỹ Mỹ đã có mặt tại Iraq vào lúc cao điểm của cuộc chiến và toàn bộ các lực lượng này đã rút đi vào tháng 12/2011 theo một thỏa thuận an ninh giữa chính phủ Iraq và Mỹ.

Barack Obama

– Libya (2011): Mỹ đã bắn hàng loạt tên lửa hành trình và chỉ huy một chiến dịch quân sự quốc tế ban đầu để thực hiện một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, theo đó kêu gọi một lệnh ngừng bắn trong cuộc nội chiến tại Libya và thiết lập một vùng cấm bay.

– Osama bin Laden (2011): Dù không hẳn là một cuộc tấn công xâm lược từ nước ngoài thì vụ đột kích tiêu diệt thủ lĩnh Al-Qaeda lại được coi là một trong những thành công của giới quân đội và tình báo chóp bu Mỹ. Tất cả đều được thực hiện mà không có sự cho phép của Pakistan, quốc gia mà Bin Laden đã ẩn nấp.

Ngoài ra, cũng nên lưu ý về hàng trăm vụ tấn công đẫm máu bằng máy bay không người lái được Mỹ thực hiện nhằm vào các mục tiêu là những thủ lĩnh Al-Qaeda trong các nhiệm kỳ của Tổng thống Obama và Tổng thống George W. Bush. Đa số các vụ tấn công này diễn ra tại Pakistan, Afghanistan và Yemen. Nó luôn gây tranh cãi về việc liệu chính phủ của những quốc gia này có cho phép Mỹ thực hiện các vụ tấn công.

Theo Vietnam+

Advertisements

Biệt đội ‘Chồn hoang’ Mỹ và ám ảnh Việt Nam

Chồn hoang” là các biệt đội diệt radar và hệ thống phòng không khét tiếng của Mỹ nhưng đã từng bại trận tại Việt Nam.

Việt Nam khiến Mỹ lập “Chồn hoang”

“Chồn hoang” là tên gọi của các phân đội đặc biệt trong thành phần Không quân Mỹ. Các biệt đội này có nhiệm vụ tiêu diệt các tổ hợp tên lửa phòng không và radar của đối phương.

Lần đầu tiên, dữ liệu về các đơn vị này được tiết lộ trong Chiến tranh Việt Nam. Trên thực tế, kể từ đó đến nay, không có bất kỳ chiến dịch quân sự quy mô nào lại không có sự tham gia của các đơn vị này.

Điều này không có gì lạ bởi việc tiêu diệt hoặc buộc các trạm radar mặt đất của đối phương phải “im lặng” sẽ bảo đảm sự thống trị trên không và an toàn cho các chuyến bay.

Một chiếc F-105G mang theo tên lửa diệt radar AGM-45 Shrike và AGM-78B Standard trên bầu trời Việt Nam năm 1968
Một chiếc F-105G mang theo tên lửa diệt radar AGM-45 Shrike và AGM-78B Standard

Chiến tranh Việt Nam chính là cuộc chiến đầu tiên mà Không quân Mỹ phải đối đầu với hệ thống phòng không nhiều tầng được xây dựng trên cơ sở các tổ hợp tên lửa phòng không. Đặc biệt, việc Việt Nam sở hữu rất số lượng lớn các tổ hợp tên lửa phòng không của Liên Xô là một bất ngờ khó chịu và buộc người Mỹ phải tìm cách vượt qua.

Các biện pháp khả thi của Không quân Mỹ khi đó là chuyển sang bay thấp và cực thấp (nhưng ở độ cao này pháo phòng không lại hoạt động rất mạnh) và gây nhiễu ồ ạt. Để gây nhiễu, Mỹ đã sử dụng những máy bay chuyên dụng để vượt qua hệ thống phòng không của Việt Nam.

Chương trình chế tạo máy bay vượt hệ thống phòng không mà Mỹ thực hiện mang tên Wild Weasel (Chồn hoang). Sau đó, cái tên này đã được đặt cho chính các máy bay được cải tiến trong khuôn khổ chương trình này.

Trong giai đoạn một, được khởi động từ năm 1965, người Mỹ đã sử dụng loại tiêm kích F-100 Super Sabre vốn được chế tạo trước đó 10 năm. Đây cũng là mẫu máy bay siêu thanh đầu tiên của Không quân Mỹ. Phiên bản F-100F hai chỗ ngồi đã trở thành nòng cốt của lực lượng “Chồn hoang” khi mới thành lập.

Máy bay này có thể phát hiện trạm radar của đối phương nhờ các cảm biến bức xạ đặc biệt (QRC-380). Sau khi bắt được radar đối phương, sĩ quan kỹ thuật sẽ chỉ thị vị trí và phi công sẽ tấn công khi tổ hợp tên lửa phòng không đối phương xuất hiện trong tầm nhìn.

Tuy nhiên, F-100F không đủ tốc độ để theo kịp các máy bay hiện đại thời bấy giờ là F-4 Phantom II và F-105 Thunderchief. Chính vì vậy trong giai đoạn hai, người Mỹ đã sử dụng máy bay “Chồn hoang” được cải tiến trên cơ sở F-105.

123
Một chiếc F-105G trên bầu trời Việt Nam năm 1968

Các máy bay chuyên dụng EF-105F bắt đầu xuất hiện từ năm 1966 và sau đó chúng được thay thế bằng những chiếc F-105G hiện đại hơn. Tuy nhiên, việc Mỹ ngừng sản xuất F-105 từ năm 1964 đã khiến việc cải tiến loại máy bay này thành “sát thủ” hệ thống phòng không của đối phương đã bị hạn chế. Một nguyên nhân khác phải kể đến là số lượng loại máy bay này bị Việt Nam “bắn rụng” quá cao.

Theo các số liệu công khai, có tổng số 382 chiếc F-105 các loại của Mỹ bị Việt Nam bắn rơi (chiếm gần một nửa trong tổng số 833 chiếc được Mỹ sản xuất).

Trong các giai đoạn tiếp theo (4 và 5), Mỹ chuyển sang sử dụng tiêm kích F-4 Phantom II với các phiên bản EF-4C Wild Weasel IV và F-4G Wild Weasel V.

Phương thức “săn mồi”

Trong Chiến tranh Việt Nam, các biệt đội “Chồn hoang” hoạt động với 2 phương thức: đi cùng cụm tấn công của không quân Mỹ hoặc hoạt động “săn mồi” tự do.

Khi đi cùng cụm tấn công, các máy bay “Chồn hoang” sẽ là những chiếc đầu tiên xâm nhập vùng phòng không của Việt Nam và lưu lại trong thời gian diễn ra đòn tấn công chủ lực nhằm chế áp toàn bộ các vị trí của các tổ hợp tên lửa phòng không mặt đất. Những máy bay này chỉ bay khỏi khu vực sau khi các máy bay tấn công đã “chuồn” trước. Phương châm của các biệt đội “Chồn hoang” chính là “đến trước, về sau”.

Khi “đi săn” tự do, “Chồn hoang” hoạt động theo nhóm “thợ săn-sát thủ”.

Ví dụ, một chiếc F-105F (thợ săn) có thể tách ra tương đối xa khỏi cụm 3-4 chiếc F-105D hoặc F-4 (sát thủ) để hoạt động đơn lẻ. Đôi khi, Mỹ sử dụng một nhóm 2 “thợ săn” và 2 “sát thủ”. Chiếc máy bay đi đầu sẽ tìm kiếm vị trí các tổ hợp tên lửa phòng không của đối phương và tấn công, đánh dấu vị trí cho các máy bay còn lại và sau đó đồng loạt tấn công tiêu diệt.

F-4C Wild Weasel IV tại căn cứ không quân Korat ở Thái Lan năm 1972
F-4C Wild Weasel IV tại căn cứ không quân Korat ở Thái Lan năm 1972

Trong mỗi giai đoạn, “Chồn hoang” lại được trang bị các loại vũ khí và thiết bị hiện đại hơn như tên lửa có điều khiển tấn công theo bức xạ radar. Sau Chiến tranh Việt Nam, các biệt đội “Chồn hoang” tiếp tục phục vụ tại Tây Âu và Viễn Đông, nơi Mỹ “có việc” với hệ thống phòng không của Liên Xô.

Trong những năm 1990, những chiếc “Chồn hoang” cuối cùng đã bị loại khỏi biên chế. Sau đó, Mỹ quyết định sử dụng những chiếc tiêm kích đa năng F-16C cải tiến cho nhiện vụ của “Chồn hoang” với tên gọi F-16CJ Wild Weasel. Đây là mẫu cải tiến từ những chiếc F-16C Block 50 (50D/52D) và được sử dụng để thay thế những chiếc F-4G Wild Weasel.

Đặc biệt, F-16CJ có khả năng sử dụng tên lửa có điều khiển AGM-88 HARM và hệ thống AN/ASQ-213 HARM (HTS) để tiêu diệt và chế áp hệ thống phòng không đối phương. Những chiếc F-16CJ đã được Mỹ sử dụng trong cuộc chiến Nam Tư năm 1999.

Máy bay F-16CJ của Mỹ
Máy bay F-16CJ của Mỹ

Người Mỹ đã sử dụng nhiều loại máy bay khác nhau cho nhiệm vụ chế áp hệ thống phòng không của đối phương, từ EF-10D Skyknight cho tới EA-6A và EA-6B Prowler. Hiện nay, Hải quân Mỹ vẫn chủ yếu “trồng chờ” vào những chiếc EA-18G Growler (thay thế những chiếc EA-6B) được cải tiến từ những chiếc F/A-18F Super Hornet phiên bản 2 chỗ ngồi.

Lựa chọn cho Việt Nam

Nhiệm vụ chính của Không quân Việt Nam là bảo vệ chủ quyền đất nước trước mọi kẻ thù. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phát triển các máy bay có khả năng chế áp hệ thống phòng không của đối phương trong các trường hợp cần thiết. Một trong những bài học mà Việt Nam có thể học tập và rút kinh nghiệm là đường đi của người Nga.

Cho tới trước năm 2008, Không quân nga vẫn chưa phải “đụng độ” với đối phương được trang bị các phương tiện phòng không mạnh khi chỉ dừng lại ở những hệ thống tên lửa phòng không vác vai và pháo phòng không cỡ nòng nhỏ. Chính vì vậy, trong cuộc chiến kéo dài 5 ngày với Gruzia, Không quân Nga đã bộc lộ nhiều điểm yếu.

Ngày nay, để chế áp hệ thống phòng không đối phương, Nga sử dụng các máy bay tấn công tiêu chuẩn là Su-24 và Su-34 được trang bị các loại tên lửa diệt radar.

Tuy nhiên, khả năng của các loại máy bay nay vẫn được đánh giá là hạn chế. Để bổ sung, Nga cũng có thể sử dụng các máy bay cường kích-trinh sát siêu thanh MiG-25RB. Tuy nhiên, loại máy bay này lại quá “già” và trong vòng 10-15 năm tới sẽ bị loại hoàn toàn khỏi biên chế Không quân Nga.

Máy bay cường kích Su-25
Máy bay cường kích Su-25

Việc Nga lựa chọn loại cường kích Su-25 cải tiến để thực hiện nhiệm vụ chế áp phòng không đối phương đã khiến không ít chuyên gia ngạc nhiên.

Theo kế hoạch, những chiếc Su-25 này sẽ được trang bị cho Không quân Nga từ năm 2014. Theo báo chí Nga, Su-25 sau khi cải tiến có thể phát hiện và tiêu diệt cả những tổ hợp tên lửa phòng không mạnh như Patriot của Mỹ.

Tuy vậy, đặc điểm nổi bật là Su-25 vốn chỉ có thể đi cùng một nhóm với những chiếc Su-25 khác. Su-25 không đủ tốc độ và tầm bay để có thể tác chiến trong đội hình những chiếc tiêm kích đa năng và máy bay ném bom tầm xa.

Các chuyên gia Nga đề xuất (Việt Nam có thể tham khảo) nên cải tiến những chiếc Su-30 để thực hiện nhiệm vụ chế áp hệ thống phòng không đối phương bởi chúng có đủ tiêu chuẩn về tốc độ và tầm bay cũng như khả năng sử dụng đa dạng các loại vũ khí.

Nếu không phải là Su-30 thì chí ít cũng phải chế tạo các thiết bị và vũ khí cho nhiệm vụ này và có thể tích hợp khi cần thiết trên các loại máy bay tiêm kích tiêu chuẩn khác của không quân.

Theo Soha

Báo Nga: Trung bình mỗi năm Mỹ gây ra 1 cuộc chiến tranh

Thất bại lớn nhất trong lịch sử Mỹ là ở Việt Nam, nơi 60.000 người Mỹ đã chết và hơn 30.000 người bị thương. Sau chiến tranh, hàng chục ngàn cựu chiến binh tự tử.

Tờ Pravda (Nga) đã cáo buộc rằng Mỹ gây chiến trên khắp thế giới chỉ vì lợi ích kinh tế và rằng lãnh đạo Mỹ tất cả các thời kì đều là tội phạm chiến tranh. Nội dung bài báo như sau:

“Nước Mỹ, điển hình về trật tự xã hội và công cộng cho các quốc gia phương Tây, có một lịch sử độc đáo. Trong suốt lịch sử 237 năm tồn tại của mình, Mỹ luôn trong tình trạng chiến tranh, hoặc chuẩn bị cho một cuộc tấn công mới, hoặc tìm kiếm “nạn nhân”. Từ năm 1798 – 2012, Washington đã sử dụng vũ lực ở nước ngoài khoảng 240 lần, tức là trung bình, chưa đến 1 năm, Mỹ lại gây chiến ở đâu đó 1 lần.

Kết quả của sự phát triển hung hăng về quân sự này rất ấn tượng. Theo nhiều ước tính, 5% dân số thế giới, những người có may mắn là công dân Mỹ, đã tiêu thụ từ 25 – 30% tài nguyên của hành tinh này.

Trước khi hoàn thành việc thành lập chính phủ và các tổ chức công cộng, Mỹ đã bắt đầu tiến hành các cuộc chiến tranh và xung đột, hết lần này đến lần khác, kiểm soát các thuộc địa ở Bắc Mỹ của Pháp, chiến tranh Tripoli đầu tiên hay Barbary tại Địa Trung Hải với Algeria, Tunisia, Tripolitania (Libya hiện nay).

Cuộc chiến này có thể được gọi là cuộc chiến đầu tiên của chính sách “cây gậy lớn” mà theo đó Washington, bất chấp luật pháp quốc tế, tiến hành để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình. Cuộc chiến Barbary không mang lại kết cục tốt đẹp cho Mỹ. Họ buộc phải chuộc 300 lính Mỹ mà không đạt được mục đích: sử dụng tuyến đường thương mại ở Địa Trung Hải.

Lính Mỹ tham chiến tại Afghanistan

Lính Mỹ tham chiến tại Afghanistan

Suốt thế kỉ 19, Mỹ đã chiến tranh với Anh, Mexico, Nhật Bản, Nicaragua, Hawaii, Philippines – đó là chưa kể tới hàng chục các hoạt động quân sự tại khu vực. Kết quả là, Mỹ đã thu phục được các vùng đất mà nay là các bang California, New Mexico, Arizona, Nevada, Utah. Chế độ bảo hộ từng được thiết lập ở Hawaii, chính phủ quân sự Mỹ cũng xuất hiện ở Cuba và một chế độ thực dân được thiết lập tại Philippines.

Trong thế kỉ 20, các hoạt động hung hăng của Mỹ ngày càng lan rộng. Hầu như toàn bộ Trung Mỹ và phần lớn châu Mỹ Latinh bị đặt dưới sự kiểm soát của Mỹ. Mỹ và Nga cũng xảy ra chiến sự, và Mỹ đã điều quân tới Archagelsk và Vladivostok. Giờ đây, không chỉ ở Trung Mỹ và Địa Trung Hải, mà khắp thế giới đều có bộ máy quân sự Mỹ.

Lính Mỹ đã từng chiến đấu ở Trung Quốc (1925 và 1958), Triều Tiên (1950), Lebanon (1958). Thất bại lớn nhất trong lịch sử Mỹ là ở Việt Nam, nơi 60.000 người Mỹ đã chết và hơn 30.000 người bị thương. Sau chiến tranh, khoảng hàng chục ngàn cựu chiến binh tự tử. Song song với đó, Mỹ đã tiến hành các hoạt động vũ trang ở châu Mỹ Latinh – Panama, Brazil (lật đổ Tổng thống Joao Goulart năm 1964), Cuba, Bolivia, cộng hoà Dominica và Chile – và châu Phi cũng không nằm ngoài danh sách này. Năm 1960, Mỹ đã tổ chức một cuộc đảo chính mà sau đó, Thủ tướng Patrice Lumumba bị giết, nhà độc tài Mobutu lên nắm quyền.

Những thành tựu mới đây của chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn còn hiển hiện – từ vụ đánh bom Nam Tư tới vụ xâm lược Iraq, chiến tranh ở Afghanistan và sự thất bại của Libya. Syria đã tránh được việc trở thành đối tượng tiếp theo của hoạt động xuất khẩu nền dân chủ kiểu Mỹ, song tình hình có thể thay đổi bất cứ lúc nào.

Không thể liệt kê được tất cả số liệu về cuộc chiến và các cuộc xâm lược vũ trang mà Mỹ tiến hành. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là các nhà lãnh đạo Mỹ ở tất cả các thời kì đều bị cáo buộc là tội phạm chiến tranh lớn trong lịch sử hiện đại và đương đại.

Nếu áp dụng các tiêu chuẩn của Toà án Nurnberg (nơi xét xử tội phạm chiến tranh Đức quốc xã) cho chính sách đối ngoại Mỹ, thì họ (những nhà lãnh đạo Mỹ) đều có tội. Đương nhiên, Mỹ gây chiến tranh với gần như với cả thế giới không phải bởi vì đặc trưng tâm lý của các đời Tổng thống và chính trị gia của mình.

Mỹ có được những lợi ích kinh tế lớn và rõ ràng nhưng lại phân bố nó một cách không đồng đều, những tầng lớp thấp cổ bé họng bị buộc phải phục vụ trong quân đội Mỹ gần như không nhận được bất cứ thứ gì. Công thức cho sự thịnh vượng về kinh tế và dân chủ kiểu mẫu ở Mỹ rất đơn giản: tấn công và cướp bóc.”

Theo: Pravda / Trí Thức Trẻ / Soha

Lính Mỹ sử dụng trẻ em trẻ em châu Phi làm bia đỡ đạn giá rẻ

Những cậu bé này, vốn không hề được đào tạo gì ngoài kỹ năng giết chóc là lựa chọn sáng giá cho các công ty an ninh tư nhân Mỹ. Họ có thể mạo hiểm cuộc sống của mình tại một nơi xa lạ chỉ để kiếm vài đồng USD cho bản thân, nhưng mang lại những khoản tiền cực lớn cho các công ty này.

Bia đỡ đạn giá rẻMỹ đang tăng cường việc sử dụng lực lượng của các công ty cung cấp lính đánh thuê tư nhân nhằm duy trì sự chiếm đóng tại các quốc gia như Afghanistan, Iraq sau khi đã rút bớt lính chính quy của quân đội. Đã có hàng ngàn lính đánh thuê của hàng chục công ty được Mỹ sử dụng tại hai quốc gia trên.

 

Phương pháp duy trì chiến tranh bằng cách sử dụng lực lượng quân sự tư nhân của Washington đã được phản ánh rất trực quan qua bộ phim tài liệu của Đức có tên Weltspiegel.

 

Trong phim này, người xem có thể thấy được cách các công ty quân sự tư nhân của Mỹ thu nạp những chiến binh trẻ em từ Uganda, huấn luyện chúng liều chết chiến đấu tại Iraq và các khu vực chiến sự khác với cái giá rẻ mạt.

 

Hai nhà báo Marcel Kolvenbach và Daniel Satra đã lần theo con đường các công ty an ninh tư nhân Uganda thuê những thanh thiếu niên trẻ tuổi ở đất nước này, sau đó giao họ cho các công ty Mỹ và điều họ đi làm các nhiệm vụ như gác trại lính Mỹ ở Iraq và một số vùng có quân Mỹ tham chiến khác trên thế giới.

 

Trong nhiều trường hợp, những thanh niên được tuyển từng là các chiến binh trẻ em chiến đấu trong các nhóm nổi loạn theo Thiên chúa giáo của thủ lĩnh Joseph Kony chống lại quân chính phủ của tổng thống Museveni ở Uganda.

 

Trong những cuộc chiến tại đây, những chiến binh này đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tham gia không ít những cuộc thảm sát.

 

Trên thực tế, những chiến binh trẻ em vô phương hướng trong lực lượng của Kony đang được sử dụng như một loại bia đỡ đạn rẻ tiền cho Quân đội Mỹ tại Iraq. Các công ty an ninh tư nhân Uganda và đối tác Mỹ của họ đã có sự chuẩn bị rất kỹ để khai thác nguồn “tài nguyên” đáng giá này.

 

Theo nhà báo Uganda, Rosario Achola, hầu hết những chiến binh trẻ em này không biết làm thế nào để tiếp tục sống khi cuộc chiến tại Uganda kết thúc, chúng không tìm được việc làm và sống rất bấp bênh. Do đó, việc làm nhân viên an ninh tại Iraq gần như là lựa chọn duy nhất đối với đa số.

 

Hứa suông khi “đàm phán” và đe dọa lúc “hậu mãi”

Achola cho biết: “Thật hài hước là một quốc gia có vẻ phẫn nộ nhất về thực trạng trẻ em bị bắt đi lính của Kony như Mỹ lại sử dụng chính những trẻ em này để chiến đấu trong cuộc chiến của họ, bảo vệ binh sĩ họ trong một cuộc chiến chẳng liên quan đến Uganda”.

 

Những cậu bé này, vốn không hề được đào tạo gì ngoài kỹ năng giết chóc là lựa chọn sáng giá cho các công ty an ninh tư nhân Mỹ. Họ có thể mạo hiểm cuộc sống của mình tại một nơi xa lạ chỉ để kiếm vài đồng USD cho bản thân, nhưng mang lại những khoản tiền cực lớn cho các công ty này. Dù được hứa hẹn về những công việc an toàn, tuy nhiên, rất nhiều trong số này trở về đã bị thương rất nặng.

 

Trong phim Weltspiegel, Rosario Achola đã phỏng vấn Ssali Twaha, một lính đánh thuê đã từng được nhận vào “một nhiệm vụ an toàn tại Iraq trong vùng Xanh”. Twaha kể lại: “Một viên đạn đã rơi trúng trại của tôi. Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng thở nặng nhọc của đồng đội ở giường tầng phía trên và máu anh ta thấm nhỏ xuống qua tấm đệm. Trời thì tối đen nên lúc đầu tôi tưởng anh ta đi tiểu ra giường và đã cố gắng đánh thức, tuy nhiên, khi tôi chạm vào anh ta thì người anh ta đã phủ đầy máu và miệng thì sùi bọt mép.”

 

Ghi chép của một luật sư Mỹ cũng nói về trường hợp một chiến binh Uganda, đã bị liệt nửa người và bị tống về quê nhà và không được hưởng bất kỳ chế độ nào. Vụ việc được đưa ra tòa, một luật sư cho biết: “Khi gặp tôi, anh ta không hề nhận được bất kỳ một sự trợ cấp nào cả về tiền bạc hay thuốc men y tế. Anh ta đơn thuần bị thải bỏ như rác”. Cùng với chiến binh này, 60 nạn nhân khác của cuộc chiến cũng tham gia vụ kiện.

 

Tuy nhiên, các công ty tư nhân, vốn nhận được khoản tài chính rất lớn từ Chính phủ Mỹ đã từ chối trả tiền. Tồi tệ hơn, ba trong số các thân chủ của vị luật sư này đã nhận được những lời đe dọa giết chết. Họ nhận được các cuộc điện thoại với nội dung như: “Nếu anh không rút khỏi vụ kiện, chúng tôi sẽ giết anh”.

 

Vị luật sư này cũng cho biết, một công ty an ninh đã nói thẳng với binh sĩ bị thương của họ “Nếu các anh báo cáo về chuyện này, các anh sẽ được về nhà bằng túi đựng xác.”

 

Dù đối mặt với sự nguy hiểm lớn hơn, nhưng các chiến binh chỉ nhận được những đồng lương rất rẻ. Nếu một công ty an ninh trả cho một binh sĩ chi phí 1.000 USD/tháng, họ sẽ dễ dàng bị đánh bại bởi công ty khác với mức lương 400/tháng.

 

Một thanh niên từng là chiến binh trẻ em khác là Dibya Moses đã phải rời Iraq bởi lý do bệnh tật mà không được trả một xu trợ cấp hay bảo hiểm nào.

 

Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Achola, anh ta giải thích: “Mọi người ở đây rất liều lĩnh để có một công việc ở Iraq vì họ nhìn thấy đó là một cơ hội để kiếm tiềm. Tuy nhiên, đến cuối cùng thì công việc này chẳng khác gì làm nô lệ”.

 

Cả Chính phủ và Bộ Quốc phòng Mỹ đều từ chối bình luận về sự kiện này. Theo họ, những công ty Uganda không được phép liên hệ với các cơ quan Chính phủ Mỹ.

 

Một công ty an ninh tư nhân Uganda giải thích: “Đây chỉ là những hợp đồng thầu phụ. Nếu các công ty an ninh tư nhân Mỹ phát hiện công ty của Uganda có liên lạc gì với Bộ Quốc phòng hay chính phủ Mỹ, hợp đồng của họ sẽ bị hủy tức thì”. Rất nhiều công ty Uganda đang lo ngại cho công việc kinh doanh của họ vì hiện giờ các công ty an ninh Mỹ dần chuyển hướng nhắm đến các chiến binh đến từ Pakistan.

 

Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ an ninh, kinh doanh lính đánh thuê là những thương vụ đáng giá hàng tỷ USD. Chính quyền Mỹ sẵn sàng chi trả một lượng tiền khổng lồ để có thể giảm được con số bị thương và chết trong quân đội chính quy của họ. Theo nhà báo Sarah Stillman, hiện tại ở Afghanistan, số lính đánh thuê bị giết còn nhiều hơn lính chính quy quân đội Mỹ.

NGUYỄN LINH (ĐẤT VIỆT ONLINE) / WSWS

Gửi những kẻ đã đánh mất cội rễ

Dòng nước óng ánh, êm ả trôi dưới những dòng sông, con suối đâu chỉ là những giọt nước, mà còn là máu của tổ tiên chúng tôi. Nếu chúng tôi bán mảnh đất này cho Ngài, Ngài phải nhớ rằng, Ngài phải dạy bảo con cháu rằng mảnh đất này là thiêng liêng…

Trích thư của một thủ lĩnh da đỏ gửi tổng thống thứ 14 của nước Mỹ, Franklin Pierce.

“[…] Đối với đồng bào tôi, mỗi tấc đất là thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thì thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức và kinh nghiệm của đồng bào tôi. Những dòng nhựa chảy trong cây cối cũng mang trong đó kí ức của người da đỏ.

Khi người da trắng chết đi, họ thường dạo chơi giữa các vì sao và quên đi đất nước họ sinh ra. Còn chúng tôi, chúng tôi chẳng thể quên được mảnh đất tươi đẹp này. Bởi lẽ mảnh đất này là bà mẹ của người da đỏ. Chúng tôi là một phần của mẹ và mẹ cũng là một phần của chúng tôi. Những bông hoa ngát hương là người chị, người em của chúng tôi. Những mỏm đá, những vũng nước trên đồng cỏ, hơi ấm của chú ngựa con và của con người, tất cả đều cùng chung một gia đình.

[…] Dòng nước óng ánh, êm ả trôi dưới những dòng sông, con suối đâu chỉ là những giọt nước, mà còn là máu của tổ tiên chúng tôi. Nếu chúng tôi bán mảnh đất này cho Ngài, Ngài phải nhớ rằng, Ngài phải dạy bảo con cháu rằng mảnh đất này là thiêng liêng và những tia sáng chói chang phản chiếu từ mặt hồ trong vắt sẽ nói lên cái gì đó về kí ức của người da đỏ. Tiếng thì thầm của dòng nước chính là tiếng nói của cha ông chúng tôi.

[…] Tôi biết người da trắng không hiểu cách sống của chúng tôi. Đối với họ mảnh đất này cũng như mảnh đất khác, bởi lẽ họ là kẻ xa lạ, trong đêm tối, họ lấy đi từ đất những gì họ cần. Mảnh đất này đâu phải là những người anh em của họ, mảnh đất này là kẻ thù của họ và khi đã chinh phục được, thì họ sẽ lấn tới. Mồ mả tổ tiên của họ, họ còn quên và họ cũng chẳng cần tới dòng tộc của họ. Họ cư xử với mẹ đất và anh em bầu trời như những vật mua được, tước đoạt được, rồi bán đi như những con cừu và những hạt kim cương sáng ngời. Lòng thèm khát của họ sẽ ngấu nghiến đất đai, rồi để lại đằng sau những bãi hoang mạc.


Tôi biết, cách sống của chúng tôi khác với cách sống của Ngài. Cảnh đẹp nơi thành phố của Ngài làm nhức nhối con mắt người da đỏ. Có lẽ, người da đỏ hoang dã và tối tăm chăng?

Ở thành phố của người da trắng, chẳng có nơi nào yên tĩnh cả, chẳng có nơi nào là nghe thấy tiếng lá cây lay động vào mùa xuân hay tiếng vỗ cánh của con côn trùng. Nếu có nghe thấy thì đó cũng chỉ là những tiếng ồn ào lăng mạ trong tai. Và cái gì sẽ xảy ra đối với cuộc sống nếu con người không nghe được âm thanh lẻ loi của chú ếch đớp mồi hay tiếng tranh cãi của những chú ếch ban đêm bên hồ? Tôi là người da đỏ, tôi thật không thể hiểu nổi điều đó. Người Anh-điêng chúng tôi ưa những âm thanh êm ái của những cơn gió thoảng qua trên mặt hồ, được nước mưa gội rửa và thấm đượm hương thơm của phấn thông.

Không khí quả là quý giá đối với người da đỏ, bởi lẽ bầu không khí này là của chung, muông thú, cây cối và con người cùng nhau hít thở. Người da trắng cũng cùng chia sẻ hít thở bầu không khí đó. Nhưng hình như người da trắng chẳng để ý gì đến nó. Nếu chúng tôi bán mảnh đất này cho Ngài, Ngài phải nhớ rằng không khí đối với chúng tôi là vô cùng quý giá và phải chia sẻ linh hồn với tất cả cuộc sống mà không khí ban cho. Ngọn gió mang lại hơi thở đầu tiên của cha ông chúng tôi và cũng nhận lại hơi thở cuối cùng của họ. Nếu có bán cho Ngài mảnh đất này, Ngài phải giữ gìn và làm cho nó thành một nơi thiêng liêng cho ngay cả người da trắng cũng có thể thưởng thức được những làn gió thấm đượm hương hoa đồng cỏ.

Như vậy, chúng tôi mới cân nhắc những ý muốn mua mảnh đất này của Ngài. Nếu có quyết định chấp nhận yêu cầu của Ngài chúng tôi phải đưa ra một số điều kiện – đó là, người da trắng phải đối xử với các muông thú sống trên mảnh đất này như những người anh em.

Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu bất cứ một cách sống nào khác. Tôi đã chứng kiến cả ngàn con trâu rừng bị chết dần chết mòn trên những cánh đồng trơ trọi vì bị người da trắng bắn mỗi khi có đoàn tàu chạy qua. Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu nổi tại sao một con ngựa sắt nhả khói lại quan trọng hơn nhiều con trâu rừng mà chúng tôi chỉ giết để duy trì cuộc sống. Con người là gì, nếu cuộc sống thiếu những con thú? Và nếu chúng ra đi, thì con người cũng sẽ chết dần chết mòn vì mỗi buồn cô đơn về tinh thần, bởi lẽ điều gì xảy đến với con thú thì cũng xảy ra đối với con người. Mọi vật trên đời đều có sự ràng buộc.

Ngài phải dạy con cháu rằng mảnh đất dưới chân chúng là những nắm tro tàn của cha ông chúng tôi, và vì thế, chúng phải kính trọng đất đai. Ngài phải bảo chúng rằng đất đai giàu có được là do nhiều mạng sống của chủng tộc chúng tôi bồi đắp nên. Hãy khuyên bảo chúng như chúng tôi thường dạy con cháu mình: Đất là Mẹ. Điều gì xảy ra với đất đai tức là xảy ra đối với những đứa con của Đất. Con người chưa biết làm tổ để sống, con người giản đơn là một sợi tơ trong cái tổ sống ấy thôi. Điều gì con người làm cho tổ sống đó, tức là làm cho chính mình…

Theo NXB Đà Nẵng

Quân đội Mỹ thử vũ khí hóa học trên người nghèo

Quân đội Mỹ thử vũ khí hóa học trên người nghèo

Các tài liệu quân đội cách đây nửa thế kỷ được giải mật ở Mỹ đã gây ra một scandal. Chúng cho thấy, trong thập kỷ 1950-1960, quân đội Mỹ đã thử nghiệm vũ khí hóa học trên chính công dân của mình bằng cách phun vũ khí hóa học trên các khu dân nghèo.

Các hóa chất tác động hẹp đã được phun trên thành phố St. Louis, bang Missouri. Tác động của các thuốc thử đã được làm suy yếu bởi vì những người tổ chức thử nghiệm không muốn gây tổn hại cho dân chúng. Nhưng theo tìm hiểu của báo chí Mỹ, các hóa chất được phun từ nóc các tòa nhà trong thành phố và các ô tô quân sự lại là chất phóng xạ. Ví dụ, chúng chứa Cadmium sulfide độc tính cao, nguy hiểm với sức khỏe con người và cả môi trường xung quanh.

Dân chúng địa phương thì cứ nghĩ cái họ nhìn thấy là các thử nghiệm nhằm tạo màn khói hiệu quả cho thành phố trong trường hợp quân đội Liên Xô tấn công. Quân đội Mỹ cũng đã nói với họ như vậy. Màn khói này có tác dụng che kín thành phố trước quân xâm lược.

Năm 1994, Chính phủ Mỹ mới tiết lộ cho công chúng về chương trình mật phát triển vũ khí sinh-hóa. St. Louis đã được chọn làm con thỏ thí nghiệm vì quy hoạch và công trình xây dựng của thành phố này giống với một thành phố Liên Xô điển hình nhất.

Trước đó, Lầu Năm góc đã bác bỏ việc phun chất phóng xạ, nhưng báo giới đã thu hút sự hậu thuẫn của giới khoa học. Vài ngày trước, báo cáo của nữ giáo sư xã hội học Đại học tổng hợp St. Loius, bà Lisa Martino-Taylor đã được giới thiệu. Khi nghiên cứu hậu quả tác động của vũ khí hóa học đối với cư dân thành phố, nhà khoa học này cho rằng, những khẳng định của Bộ Quốc phòng Mỹ là không đúng sự thật.

Dân cư các khu phố nghèo của St. Louis cũng liên hệ các vấn đề về sức khỏe của họ với các thí nghiệm quân sự cách đây 50 năm. Nhiều thị dân bị các bệnh ung thư với tỷ lệ cực cao ở thành phố này. Ung thư đang là một trong những nguyên nhân tử vong chủ yếu của cư dân St. Louis. Các thượng nghị sĩ bang Missouri là Claire McCaskill và Roy Blunt, sau khi đọc báo cáo của nhà khoa học, đã yêu cầu Lầu Năm góc giải trình.

VP (VIETNAMDEFENCE)

10 cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ

10 cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ

Chiến tranh đã xuất hiện từ thời cổ đại và nó có thể nổ ra vì rất nhiều lý do. Đôi khi là bởi ai đó muốn thống trị thế giới như Hitler, hay chính nhu cầu thúc đẩy kinh tế, mà cụ thể là mặt hàng vũ khí đã dẫn đến những cuộc chiến.

Dĩ nhiên, thiệt hại về con người, môi trường hay xã hội của chiến tranh là không thể đong đếm, nhưng thiệt hại vật chất cũng là những con số khổng lồ. Sau đây là 10 cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ theo thống kê của trang The Richest.

1. Chiến tranh thế giới thứ II (1941-1945) – 4,1 nghìn tỷ USD

Thế chiến II chính thức nổ ra năm 1939 khi Đức quốc xã phát động cuộc chiến chớp nhoáng với Ba Lan và nhanh chóng lan rộng ra toàn châu Âu, khi Anh và Pháp tuyên chiến với Đức và Italy. Trong khi ấy, Mỹ vẫn đứng ngoài cuộc và chỉ về phe đồng minh năm 1941 sau khi Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng. Cuối cùng, chiến thắng đã thuộc về phe đồng minh và bom nguyên tử đã lần đầu tiên được sử dụng.

2. Hậu 11/9 (2001-2010) – 1,1 nghìn tỷ USD

Vụ khủng bố đẫm máu ngày 11/9/2001 đã dẫn đến sự phẫn nộ của cả thế giới. Mỹ đã nhanh chóng trả thù khi truy lùng al Qaeda và trùm khủng bố Osama bin Laden – những người bị cáo buộc đứng đằng sau vụ tấn công. Đồng thời, siêu cường thế giới cũng thực hiện cuộc chiến chống Iraq của Saddam Hussein năm 2006 với lý do nghi ngờ quốc gia này sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt, mặc dù bằng chứng chưa bao giờ được tìm thấy.

3. Chiến tranh tại Việt Nam (1965-1975) – 738 tỷ USD

Đó là đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh và Mỹ có vẻ như không thể chấp nhận bất kỳ nhà nước Cộng sản nào tồn tại. Cuối cùng, đế quốc số 1 thời bấy giờ đã thua trong một cuộc chiến khó tin, cho dù họ đã khôn khéo rút bớt các lực lượng quân sự của mình trước khi thất bại hoàn toàn.

4. Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) – 341 tỷ USD

Vào thời kỳ bắt đầu Chiến tranh Lạnh, Triều Tiên chính là chiến trường đầu tiên. Hai miền của quốc gia này được chia đôi ở vĩ tuyến 38 với nửa phía bắc có sự ủng hộ của Nga, Trung Quốc, trong khi phía nam đứng đằng sau bởi Mỹ và đồng minh. Trong giai đoạn cao trào của cuộc chiến, Tướng Douglas MacArthur thậm chí đã cân nhắc có nên sử dụng bom nguyên tử hay không.

5. Chiến tranh thế giới thứ I (1917-1921) – 334 tỷ USD

Trên thực tế, cuộc chiến này diễn ra từ năm 1914 nhưng Mỹ chỉ tham dự vào năm 1917. Trước đó, châu Âu chia làm hai phe gồm Anh, Pháp và các đồng minh, chống lại phe Đức, Bulgaria, Áo-Hung và Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, sau khi tàu của Đức bắn hạ tàu hành khách của Mỹ, quốc gia này đã kết thúc thời kỳ thu lợi khổng lồ từ giao dịch vũ khí cho cả hai bên mà về phe đồng minh.

6. Chiến tranh vùng Vịnh (1990-1991) – 102 tỷ USD

Iraq dưới thời Saddam Hussein đã tấn công Kuwait năm 1990 với lý do đây là một phần lãnh thổ của quốc gia này thay vì nằm dưới quyền cai trị của Anh. Điều này đã de dọa nguồn cung dầu của phương Tây, đặc biệt là khi Hussein đe dọa cả Ả-rập Xê-út. Mỹ đã nhanh chóng đưa ra chiến dịch Lá chắn sa mạc nhằm ngăn Iraq tấn công Ả-rập Xê-út, sau đó chuyển thành Bão táp sa mạc.

7. Nội chiến Mỹ (1861-1865) – 79,7 tỷ USD

Đây là cuộc chiến giữa những người Mỹ khi các bang phản đối chế độ nô lệ chống lại các bang ủng hộ chế độ này. Mặc dù nó khiến xứ cờ hoa phải trả giá nặng nề, song đây là điều cần thiết để giải phóng những người Mỹ gốc Phi khỏi cuộc sống tăm tối.

8. Cuộc chiến Tây Ban Nha – Mỹ (1898-1899) – 9 tỷ USD

Khi Tây Ban Nha kiểm soát Cuba – vốn rất gần Florida, Mỹ đã yêu cầu nước này chuyển quyền kiểm soát cho mình và sự từ chối của quốc gia châu Âu đã dẫn đến cuộc chiến đầy tốn kém lúc bấy giờ. Đây cũng là khởi nguồn cho chính sách bành trướng của Mỹ, khi nước này vươn tay đến cả Puerto Rico, Guam và Philippines.

9. Cuộc cách mạng Mỹ (1775-1783) – 2,4 tỷ USD

Đó là cuộc chiến giữa 13 thuộc địa và Vương quốc Anh, khi những người Mỹ đòi hỏi sự bình đẳng cho mình. Sau tám năm, cuộc chiến kết thúc với Hiệp ước Paris năm 1783 và kể từ đó, Mỹ là một quốc gia độc lập.

10. Chiến tranh Mỹ – Mexico (1846-1849) – 2,37 tỷ USD

Cuộc chiến nổ ra khi Mỹ sát nhập Texas năm 1845. Sau nó, Mỹ xâm lấn New Mexico và California trước khi chiếm giữ Mexico City. Cuộc chiến kết thúc và Mexico buộc phải dâng Alta California và New Mexico cho Mỹ để đổi lấy 15 triệu USD, đồng thời gánh khoản nợ 3,25 triệu USD mà Mỹ cho rằng Chính phủ nước này nợ những công dân Mỹ.

Theo THE RICHEST

Góc nhìn của thổ dân Mỹ: Một ngày không Tạ Ơn

Góc nhìn của thổ dân Mỹ: Một ngày không Tạ Ơn
In The Indian View: A Day Of “No Thanks”

Tác giả: Ward Churchill
Professor of Ethic Studies, University of Colorado
(Sacramento Bee, 11-23-2000)

Trần Chung Ngọc dịch.

Ngày Lễ Tạ Ơn là ngày mà Hiệp Chủng Quốc ăn mừng sự kiện là những người Anh đầu tiên ở thuộc địa Plymouth thoát được nạn đói qua mùa Đông 1620-21. Nhưng theo quan điểm của người thổ dân Mỹ, các người muốn chúng tôi phải tạ ơn cái gì?

Có người nào thực sự mong muốn chúng tôi phải tạ ơn sự kiện là, ngay sau khi những người da trắng đầu tiên đến Plymouth hồi phục được sức lực, họ bắt đầu tận diệt chính những người thổ dân đã nuôi sống họ trong mùa Đông đầu tiên này? Chúng tôi có phải biểu lộ lòng biết ơn của chúng tôi đối với những tên thực dân đã tàn sát những người da đỏ Pequots ở Mystic, Connecticut, hay sự khoa trương của họ để biện minh cho cuộc tàn sát bằng luận điệu coi người thổ dân như là đàn chuột hay rận, chấy?

Hay là chúng tôi phải vui mừng trước những cuộc tàn sát vô tận tiếp theo ở St Francis (1759), Horseshoe Bend (1814), Bad Axe (1833), Blue Water (1854), Sand Creek (1864), Marias River (1870), Camp Robinson (1878) và Wounded Knee (1890), đó là chỉ kể những cuộc tàn sát tàn khốc nhất..

Chúng tôi có phải tạ ơn chính sách của mọi thuộc địa Anh (ở Đông Bắc nước Mỹ), cũng như của 48 tiểu bang khác ở miền Nam, thưởng tiền cho những kẻ đi săn, lột da đầu người thổ dân làm chứng cớ đã giết được những người thổ dân, kể cả đàn bà và trẻ con?

Chúng tôi phải tạ ơn như thế nào trước lệnh của Lord Jeffrey Amherst năm 1763, mang những vật nhiễm bệnh đậu mùa làm quà tặng cho dân Ottawas để cho “chúng ta có thể diệt trừ cái giống dân xấu xa đáng ghét này”? (How might we best show our appreciation of the order issued by Lord Jeffrey Amherst in 1763 requiring smallpox-infested items be given as gifts to the Ottawas so that “we might extirpate this execrable race?”)

Có hợp lý không khi muốn chúng tôi phải hân hoan vì dân tộc chúng tôi, vào khoảng 15 triệu khi người Tây phương bắt đầu xâm lăng, chỉ còn lại chưa đầy 250 ngàn vào năm 1890? Có thể chúng tôi nên vui mừng vì những người “định cư hiền hòa” (peaceful settlers) tới đây đã không giết hết chúng tôi.

Nhưng thực ra họ không cần phải làm thế. Tới năm 1900, họ đã chiếm 98% đất đai của chúng tôi. Số thổ dân còn lại đơn giản được ném vào những miền đất khô cằn không ai muốn, tin tưởng rằng chẳng bao lâu chúng tôi sẽ bị tuyệt chủng cho khuất mắt và không còn làm bận tâm những nguời trong xã hội những người định cư.

Chúng tôi chưa có chết hết, nhưng chúng tôi trở thành đám người nghèo khổ, thiếu dinh dưỡng, và nhiều bệnh tật nhất trên lục địa ngày nay. Tuổi thọ của chúng tôi trung bình là 50 trong khi của những người Mỹ gốc Âu Châu là 75.

Chúng tôi còn phải chịu đựng chính sách diệt chủng văn hóa (cultural genocide) trong thế kỷ 20. Nhiều thế hệ con cái chúng tôi học trong các trường công lập đã bị cấy vào đầu óc ý niệm “giết dân da đỏ” và thay thế những truyền thống dân tộc địa phương bằng những tập hợp giá trị và hiểu biết Âu-Mỹ văn minh hơn.

Chúng tôi có nên biết ơn về những phim ảnh “cao bồi giết dân da đỏ” [Hollywood Westerns] của Hollywood, chiếu đi chiếu lại trên những đài truyền hình, và những đoạn phim chế diễu người thổ dân Mỹ như là không phải giống người?

…Vào khoảng ba phần tư thổ dân trưởng thành trở thành nghiện rượu hay các chất độc hại khác.. Đây không phải là một trạng thái di truyền. Đây là một toan tính tuyệt vọng tập thể để trốn khỏi thực tế hãi hùng của chúng tôi từ cuộc chiến thắng vinh quang của Mỹ.

Không có gì là khó hiểu khi người thổ dân ở đây không ăn mừng ngày lễ tạ ơn. Vấn đề thật sự là tại sao lại có người ăn mừng trong khi ngày đó phải là một ngày đau buồn và chuộc tội.

Nguồn: Sách Hiếm

Mỹ tốn kém ra sao trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam?

Nước Mỹ tốn kém như thế nào trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam?

(ANTĐ) – Nếu tính quá trình dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam, thì bắt đầu từ ngày 8-5-1950, Tổng thống Mỹ đã ký quyết định chính thức viện trợ quân sự cho thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Ngày này được coi như một cột mốc đánh dấu sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã huy động hơn 6 triệu lượt người Mỹ, trong đó có 4.649.000 lượt người dưới 20 tuổi, 40% các nhà khoa học vật lý, 260 trường đại học, 22.000 xí nghiệp lớn với 5,5 triệu công nhân phục vụ cuộc chiến.

Riêng năm 1968, mỗi ngày Mỹ chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tới 100 triệu USD, gấp 10 lần chi phí cho cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ, và gấp 4 lần chi phí cho chương trình nghiên cứu vũ trụ của Mỹ, bằng một nửa số tiền mà Mỹ đã viện trợ cho nước ngoài trong 20 năm (1941-1960). Đặc biệt, suốt năm 1962 và qua năm 1963, đã có 18.000 “cố vấn” quân sự Mỹ vào miền Nam Việt Nam.

Trong tổng số trên 6 triệu người phục vụ trong các quân chủng của thời kỳ chiến tranh, thì gần 3 triệu người được đưa sang Việt Nam và sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đã trở thành tù binh.

Riêng những hậu quả về con người: Tính từ giữa năm 1961 đến năm 1974, đã có tổng số 57.259 người Mỹ đã mất mạng ở Việt Nam; trong số đó có 8.000 là da đen và 37.000 (chiếm 64%) không quá 21 tuổi. Lầu Năm góc ước tính trên 10.300 người Mỹ chết ở Việt Nam vì những lý do gọi là không gắn liền với cố gắng chiến tranh, kể cả những người chết vì tai nạn máy bay và tai nạn xe cộ, những người bị các lính Mỹ khác giết hoặc tự sát…

Theo con số của chính phủ Mỹ, có 3.731 người Mỹ phục vụ ở Việt Nam đã chết vì đạn của những người Mỹ khác. Những cái chết đó xảy ra khi máy bay Mỹ thả bom và bắn nhầm phải những đơn vị trên bộ của Mỹ, khi các tay bắn pháo lớn bắn nhầm những đội tuần tra Mỹ, khi những người lính gác nóng nảy hay hoảng sợ bắn vào đồng đội quanh nơi đóng quân. Nhiều năm sau chiến tranh, hàng triệu quân nhân và cố vấn Mỹ cũ bị ung thư do đã tiếp xúc với chất độc da cam.

Chính sau này, Lầu Năm góc đã thừa nhận là có đến 20.000 người Mỹ chắc chắn đã sử dụng chất độc da cam dioxin ở Việt Nam. Một số lớn cựu binh do đã trải qua chiến đấu nặng nề ở Việt Nam mà đã mắc phải cái gọi là bệnh “Rối loạn thần kinh sau chấn thương”. Triệu chứng của nó sẽ còn tồn tại từ 10 đến 15 năm sau khi những cựu binh đã hoàn thành quân dịch trở về nước Mỹ và gần một thập kỷ sau khi sự tham gia của Mỹ vào chiến tranh đã chấm dứt…”.

Theo tạp chí Lịch sử quân sự và tài liệu của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương đã thông báo, thì tháng 11-1982, chính quyền Mỹ đã khánh thành Đài tưởng niệm những người Mỹ đã chết ở Việt Nam, bản danh sách gồm 57.939 người (trong đó có 37 cấp tướng). Người lính Mỹ đầu tiên chết ở chiến trường Việt Nam là James Thomas Davis, chết ngày 22-12-1961.

Người lính Mỹ cuối cùng thiệt mạng ở Việt Nam là Darwin L. Judge, hạ sĩ lính thủy đánh bộ, chết ngày 29-4-1975 tại sân bay Tân Sơn Nhất trong cuộc rút chạy khỏi Việt Nam. Số máy bay Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam là 4.181 chiếc, có 68 máy bay B52. Tên giặc lái Mỹ đầu tiên bị bắt ở miền Bắc Việt Nam là Trung úy Everett Alvarez Jr., bị bắt tại Quảng Ninh ngày 5-8-1964…

Nếu đem so sánh giá của chiến tranh Việt Nam với các chương trình có tính chất tiêu biểu mà chính phủ nước Mỹ đã thực hiện, thì Việt Nam vẫn nổi lên một lần nữa là một trong những công cuộc đắt tiền nhất trong lịch sử nước Mỹ. Toàn bộ hệ thống đường sá giữa các bang đã tiêu tốn tới 53 tỷ USD (năm 1972).

Chương trình vũ trụ đưa người lên Mặt trăng của Mỹ cũng tốn 25 tỷ USD, chương trình xã hội vĩ đại cạnh tranh với chiến tranh ở Việt Nam sau năm 1964 tốn khoảng 200 tỷ USD. Nếu dùng theo cách ước tính của nhà kinh tế Mỹ Steven, thì chi tiêu cho cuộc chiến tranh của Mỹ cứ mỗi phút ngốn mất 32.000 USD.

Theo con số của Bộ Quốc phòng Mỹ thì chi tiêu trực tiếp của cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm tài chính 1965 đến năm tài chính 1974 cũng lên tới 141 tỷ USD. Nhưng Steven lại ước tính chi tiêu trực tiếp lên tới 171,5 tỷ USD và chi tiêu trực tiếp này chỉ mới là sự bắt đầu.

Một người Mỹ khác có tên là Tom Ryden lại ước tính chi tiêu cuối cùng sẽ lên tới 676 tỷ USD. Chi tiêu này là do cộng chung tất cả các chi tiêu phụ cho chính phủ liên bang và cho nền kinh tế Mỹ, trực tiếp và gián tiếp, kể cả phụ cấp của cựu binh, trả tiền lãi cho nợ quốc gia và ước tính số tiền thu nhập của nền kinh tế Mỹ. Mặt khác, nhà kinh tế Steven ước tính chỉ tiêu cuối cùng bằng đôla của cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ lên tới 925 tỷ USD…

Nguyễn Duy Cách

Hồ sơ tử thần SOA – trường đào tạo khủng bố của Mỹ

Hồ sơ tử thần SOA – trường đào tạo khủng bố của Mỹ

Để giữ Trung và Nam Mỹ trong vòng kiểm soát, Mỹ phải dập tắt những phong trào độc lập, dân chủ ở vùng này. Để làm điều đó, Mỹ đã lập một trường huấn luyện những quân nhân – sát thủ chuyên nghiệp và gởi về bản xứ để giết những người chống đối ở nước họ, bảo vệ những chế độ độc tài thân Mỹ.

Kể từ sự kiện 11/9/2001 đến nay, chính quyền Mỹ luôn ra rả kêu gọi thế giới ủng hộ “Cuộc Chiến Chống Khủng Bố”, và gây ra cuộc chiến ở Iraq làm chết hàng trăm ngàn người (theo họ) cũng là vì muốn chống vài tên khủng bố. Thêm vào đó, Mỹ tự cho mình cái quyền chỉ tay buộc tội những nước khác là “ủng hộ khủng bố”.

Nhưng chính ngay trên nước Mỹ từ lâu đã có một ngôi trường với cái tên hết sức ngây thơ là “School Of Americas” mà mục đích thực sự của nó là đào tạo ra những tên khủng bố.

Dưới đây là bài viết về “School Of Americas” trên trang THIRDWORLDTRAVELLER.COM, DIEHARDCAT biên dịch.

Thế Chiến II là một “cuộc chiến tốt”. Sau cuộc xung đột đó, phần lớn người Mỹ tin rằng những mục tiêu của Mỹ trên thế giới là cao thượng – Mỹ là người trừng phạt những kẻ hung hăng và một chiến sĩ cho tự do. Hình ảnh này đã trở thành mẫu mực cho nhiều thế hệ người Mỹ để đánh giá nước họ trong những việc xảy ra trên thế giới.

Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt cái ảo tưởng là nước Mỹ luôn ở bên “phía lẽ phải”. Ngày nay, hình ảnh nước Mỹ là người bảo vệ của dân chủ và công lý càng bị xói mòn thêm bởi cái “School of Americas” (SOA), nơi huấn luyện sĩ quan quân sự và binh lính Mỹ Latin và Caribbean để phá vỡ dân chủ và giết chết hy vọng trong chính nước họ.

Thành lập bởi Hoa Kỳ vào 1946, SOA lúc đầu ở Panama, nhưng vào 1984, nó bị đá ra theo những điều khoản của Hiệp Ước Kênh Đào Panama và di chuyển tới căn cứ lục quân ở Fort Benning, Georgia, Mỹ. Tổng Thống Panama lúc đó là Jorge Illueca gọi nó là “căn cứ lớn nhất cho sự bất ổn ở Mỹ Latin”, và một tờ báo lớn của Panama đã tặng cho nó cái tên “Trường của những Sát Thủ Chính Trị”.

Huấn luyện viên và học viên của SOA được tuyển mộ từ thành phần xuất sắc nhất của lực lượng quân sự các nước Mỹ Latin. Trường huấn luyện 700-2000 lính một năm, và từ ngày bắt đầu vào 1946, hơn 60.000 quân nhân đã tốt nghiệp từ SOA.

Nếu SOA tập trung vào huấn luyện việc bảo vệ biên giới quốc gia chống lại ngoại xâm hay bảo vệ người dân khỏi sự xâm lược bởi kẻ thù bên ngoài, thì nó có thể đuợc cho là một cơ quan gương mẫu, đáng giá cho những đồng tiền thuế của người Mỹ và uy tín nước Mỹ. Nhưng, SOA có những mục đích rất khác biệt. Giáo trình của nó bao gồm những khóa học về chiến tranh tâm lý, chống chiến tranh du kích, kỹ thuật tra hỏi, và chiến thuật bộ binh và biệt kích.

Được trình bày với những kỹ thuật tối tân và cập nhật nhất bởi những huấn luyện viên giỏi nhất của Lục Quân Mỹ, những khóa học này dạy sĩ quan và binh lính của các nước thế giới thứ III cách loại bỏ sự thật, bịt miệng những lãnh đạo hội đoàn, nhà hoạt động tôn giáo, nhà báo, và gây chiến tranh với chính dân họ.

Nó chuẩn bị họ cho việc đàn áp tiếng nói chống đối và buộc người biểu tình phải chịu thua. Nó huấn luyện họ kỹ thuật loại người nghèo đói, và bị mất mát ra khỏi xã hội. Nó dạy họ cách dập tắt tự do và khủng bố chính người dân của họ. Nó huấn luyện họ phá hủy hy vọng cho dân chủ.

Trường của Các Nước Châu Mỹ đã được tặng nhiều tên khác nhau – “Trường cho những Độc Tài”, “Trường của những Sát Thủ Chính Trị”, và “Nhà Trẻ của những Nhóm Hành Quyết”. Và, những nước có hồ sơ nhân quyền tệ hại nhất gởi nhiều lính nhất tới trường này.

Quốc gia / Tốt nghiệp (từ 1946)
Argentina / 931
Bolivia / 4.049
Brazil / 355
Chile / 2.405
Colombia / 8679
Costa Rica / 2.376
Dominican Republic / 2.330
Ecuador / 2.356
El Salvador / 6.776
Guatemala / 1.676
Honduras / 3.691
Nicaragua / 4.693
Panama / 4.235
Paraguay / 1,084
Peru / 3.997
Uruguay / 931
Venezuela / 3,250

Khi họ trở về nước nhà, học viên tốt nghiệp của SOA có một cái nhìn khác biệt và kỳ cục về người nước họ. Họ xem tu sĩ, người làm việc xã hội, nhà báo, và trí thức cấp tiến, không phải là tài sản của xã hội, mà là những thành phần phá hoại nguy hiểm, đang làm việc chống lại cái hệ thống đang bảo đảm vị trí quyền lực của binh lính, sĩ quan, và những nhà bảo trợ của họ.

Học viên tốt nghiệp của SOA đã từng là những kẻ bạo ngược nặng tay đàn áp nhất ở Mỹ Latin, với những hành động dã man và bạo lực nhất. Ở El Salvador, vào 1989, một đội tuần tiễu Salvador hành quyết sáu tu sĩ Jesuit khi họ nằm úp mặt xuống đất ở Đại Học Trung Mỹ. Theo Báo Cáo Ủy Ban Sự Thật của Liên Hiệp Quốc về El Salvador năm 1993, 19 trên tổng số 26 nhân viên tham gia vụ hành quyết này đã được huấn luyện ở SOA.

Vào 1990, ở El Salvador, người nhận được nhiều sự ủng hộ của dân chúng, Tổng Giám Mục Oscar Romero đã bị ám sát. Ba phần tư nhân viên Salvador bị nghi ngờ trong vụ giết người này đã được huấn luyện ở SOA. Roberto D’Aubuison, người lãnh đạo sau này của Đội Hành Quyết El Salvador, bị ám chỉ có tham gia kế hoạch ám sát TGM Romero. Ông ta cũng đã góp phần trong nhiều vụ giết người khác, bao gồm một vụ thảm sát ở làng El Mazote, nơi mà hơn 900 đàn ông, phụ nữ, và trẻ em đã bị giết. Ông này cũng tốt nghiệp ở SOA.

Thống kê của Ủy Ban Sự Thật của LHQ cho thấy qui mô vai trò của trường SOA ở El Salvador:

– Vụ ám sát TGM Romero có 3 nhân viên bị cáo buộc – 2 người tốt nghiệp SOA
– Giết một số nũ tu người Mỹ có 5 nhân viên bị cáo buộc – 3 người tốt nghiệp SOA
– Thảm sát ở El Junquillo có 3 nhân viên bị cáo buộc – 2 người tốt nghiệp SOA
– Thảm sát ở El Mazote có 12 nhân viên bị cáo buộc – 10 người tốt nghiệp SOA
– Vụ giết nhà báo Hà Lan có 1 nhân viên bị cáo buộc – ông ta là một người tốt nghiệp SOA
– Thảm sát ở Las Hojas có 6 nhân viên bị cáo buộc – 3 người tốt nghiệp SOA
– Thảm sát ở San Sebastian có 7 nhân viên bị cáo buộc – 6 người tốt nghiệp SOA
– Thảm sát tu sĩ Jesuit có 26 nhân viên bị cáo buộc – 19 người tốt nghiệp SOA

Ở những nước Mỹ Latin khác, học viên tốt nghiệp SOA cũng là những kẻ thù nổi bật của nhân quyền.


Hãy cắt đứt vòi bạch tuộc của SOA!

Cựu độc tài Omar Torrijos của Panama, Guillermo Rodriguez của Ecuador, và Juan Velasco Alvarado của Peru, tất cả đều đã lật đổ những chính phủ được đắc cử theo hiến pháp nước họ.

Leopoldo Galtieri, cựu lãnh đạo của nhóm hành chính quân đội của Argentina bị thua trong Chiến Tranh Falklands (cuộc chiến với Anh giành một quần đảo gần Argentina), là người chịu trách nhiệm cho hàng ngàn công dân bị “biến mất”- những người ủng hộ tự do và dân chủ ở Argentina, và đã cái giá cao nhất là mạng sống của họ. Ông ta là một học viên tốt nghiệp ở SOA.

Ở Honduras, Tướng Humberto Ragalado Hernandez, được huấn luyện ở SOA vào cùng thời gian ông ta được nghi ngờ dính dáng với những trùm ma túy Colombia, và những nhân viên cao cấp nhất trong Đội Hành Quyết Honduras cũng là những người được huấn luyện ở SOA.

Ở Peru, nhân viên cao cấp nhất bị kết án về vụ giết chín sinh viên đại học và một giáo sư vào tháng 2, 1994, là người tốt nghiệp ở SOA.

Ở Colombia, một tòa án nhân quyền năm 1992 kiện 246 nhân viên về tội ác chống lại nhân dân Colombia. 105 trong số đó đã được huấn luyện ở SOA.

Ở Panama, cựu độc tài Manuel Noriega, từng làm việc cho CIA, tốt nghiệp từ SOA. Ông ta đang ở tù Mỹ, tội buôn ma túy.

Ở Guatemala, một nước có 10 triệu dân, người bản xứ da đỏ Mayan với dân số 6 triệu đã chịu đựng sự đau thương lớn nhất ở Mỹ Latin. Trong hơn 30 năm nội chiến, hàng chục ngàn người đã bị giết hại, với tổng số dự đoán hơn 200.000 người. Phần lớn những tướng lãnh có dính dáng đến nhiều vụ đảo chính và hành động khủng bố, giết người trong giai đoạn này đã được huấn luyện ở SOA.

Vào thập niên 1970 và đầu 1980, ở Guatemala, hàng ngàn nhà hoạt động chính trị và đối kháng với đường lối của chính phủ đã bị ám sát. Tướng Manuel Antonio Callejas y Callejas, Chỉ Huy Tình Báo Quân Đội lúc đó, đã bị LHQ tố cáo là cá nhân chịu trách nhiệm cho đại đa số những vụ giết người này. Ông này tốt nghiệp ở SOA.

Một trong những tên bạo chúa dữ dằn nhất trong lịch sử gần đây ở Guatemala là Jose Efrain Rios Montt. Là một viên tướng, nhà độc tài, và cựu tổng thống từ 1982-83, Rios Montt tự hào với triết lý chính trị của ông ta: “những hạt đậu cho những kẻ nghe lời; đầu đạn cho đám còn lại” (“beans for the obedient; bullets for the rest”). Ông ta cũng tốt nghiệp từ SOA.

Tác động của học viên tốt nghiệp SOA trên tự do của vùng Mỹ Latin thật khủng khiếp. Được trang bị với huấn luyện tinh vi, vũ khí hiện đại, kỹ thuật cập nhật về điều khiển và theo dõi, học viên của SOA đã khủng bố người dân của chính nước họ qua nhiều thế hệ.

Nhân danh người dân Mỹ và dùng tiền thuế của người Mỹ, Hoa Kỳ, nước “dân chủ nhất”, đã qua nhiều thập niên huấn luyện ra những lãnh đạo phản dân chủ nhất trên thế giới. trớ trêu thay, một chính quyền luôn lên án khủng bố trên thế giới, đã khuyến khích những tên khủng bố ngay trong nhà mình – ở SOA.

Đây là thời điểm mà chúng ta phải đòi hỏi đóng cửa School of the Americas.

Theo blog DIEHARDCAT