Thư của Tướng Giáp gửi Hồ Chủ tịch và Chính trị Bộ về chủ trương tác chiến mới ở Điện Biên Phủ

THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỀ CHỦ TRƯƠNG TÁC CHIẾN MỚI Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ (1)

Kính gửi Hồ Chủ tịch,

Đồng chí Trường Chinh và Chính trị Bộ.

Chúng tôi đã nghiên cứu chủ trương tác chiến mới của ta ở Điện Biên Phủ và chủ trương quân sự của ta trên các chiến trường toàn quốc với đồng chí Quốc, nay xin phân bốn điểm báo cáo như sau:

I – Chủ trương tác chiến mới ở Điện Biên Phủ. Ngày 25, bộ đội ta đã đến đủ ở vị trí tập kết, phần lớn pháo binh cũng đã vào trận địa. Chúng tôi đã nghiên cứu lại lần cuối cùng tình hình địch ta để ra lệnh nổ súng thì nhận thấy:

a) Địch tăng đến 15 tiểu đoàn, một số pháo; sự bố trí ở phía Bắc và Tây đã mạnh hơn trước; vị trí Hang Cang ở phía Nam trước chỉ có 2 tiểu đoàn thì nay đã có 4 tiểu đoàn, thêm 12 khẩu lựu pháo, có trường bay mới làm, biến thành một tập đoàn cứ điểm thứ hai để yểm hộ cho Mường Thanh.

b) Lựu pháo và cao pháo của ta bố trí ở Bắc và Tây Bắc chỉ hợp với kế hoạch đánh nhanh, không hợp với kế hoạch đánh từng bước vì từ đường ôtô kéo vào phải dùng trên một đại đoàn bộ binh kéo trong 8 đêm, trước báo cáo là chỉ cần hai đêm, nếu chiến sự phát triển không thuận lợi thì tiến lui đều khó.

c) Việc chuẩn bị về mọi mặt phải tăng cường mới bảo đảm lâu được.

Chúng tôi nhận thấy đối với một kẻ địch đã tăng cường như ở Điện Biên Phủ thì phải dùng cách đánh tiêu diệt từng bước, trong giai đoạn đầu tiêu diệt sinh lực chúng ở ngoại vi, đồng thời tìm cách tiêu hao chúng, khống chế sân bay để hạn chế hoặc triệt đường tiếp tế của chúng trong một thời gian khá dài. Vì vậy chúng tôi quyết định:

a) Tạm định ngày nổ súng, điều chỉnh lại bộ đội cho hợp với kế hoạch mới. Vận chuyển các cao pháo và trọng pháo trở lại phía Đông để có thể sử dụng cơ động và đợi khi hệ thống đường kéo pháo phía Đông Điện Biên Phủ làm xong sẽ sử dụng. Lệnh chuyển pháo đã được thi hành trong đêm 26, cần phải bảy hôm mới hoàn thành.

b) Nghiên cứu kế hoạch tiếp tục chuẩn bị về các mặt tân binh, đạn dược, lương thực, đủ đánh cho đến cuối tháng 4. Đường sá từ Yên Bái đến Điện Biên Phủ phải bảo đảm cho xe chạy được trong cả thời gian đó. Làm thêm nhiều con đường cho xe kéo pháo chạy đến gần Điện Biên Phủ để có thể điều động pháo theo nhu cầu chiến đấu. Kế hoạch này chia từng bước để tiến hành, định đến 10-2 thì hoàn thành bước thứ nhất.

c) Trong lúc ở đây tích cực chuẩn bị thì nhanh chóng và bí mật điêu động toàn Đại đoàn 308 sang phía lưu vực sông Nậm hu, bao vây và tiêu diệt từ 4 đến 5 tiểu đoàn địch hiện đóng từ Mường Khoa đến Mường Ngòi. Chiều 26, trung đoàn đầu tiên của Đại đoàn 308 đã lập tức xuất phát, 27 toàn bộ xuất phát, dự liều vào khoảng 30 hay 31 thì hoàn thành bao vây địch. Nếu địch bỏ chạy thì truy kích. Nếu ta thắng ở mạn đó thì tình hình ở Điện Biên Phủ và ở Luông Phabăng có thể thay đổi ít nhiều.

Trên đây là chủ trương tác chiến mới hướng này. Chúng tôi sẽ điện những nhu cầu cụ thể về nhân lực, vật lực để phục vụ một trận chiến đấu rất lớn trong thời gian khá dài như trên đã nói, mong Trung ương phê chuẩn và cho chỉ thị.

II – Chủ trương quân sự của ta trên các chiến trường toàn quốc và Lào – Miên. Cuộc chiến đấu lớn của ta ở Điện Biên Phủ và Thượng Lào có liên quan rất mật thiết với tình hình toàn quốc. Ta tiêu diệt được nhanh chóng quân dịch ở Điện Biên Phủ hay chưa tiêu diệt được mà vẫn bao vây kiềm giữ chủ lực địch ở đây được thì đối với các chiến trường toàn quốc đều có một tác dụng rất lớn. Chúng tôi xin phân tích tình hình quân sự trước mắt và đề nghị chủ trương quân sự trong toàn quốc như sau:

1. Tình hình quân sự hiện nay có hai điểm đáng chú ý:

a) Từ khi ta bắt đầu kế hoạch Đông Xuân thì khắp các chiến trường đều thu được thắng lợi lớn: Lai Châu, Trung Lào, đồng bằng Bắc Bộ, Liên khu V, Nam Bộ.

b) Chủ lực địch trước tập trung phần lớn ở địch hậu Bắc Bộ thì nay đã phân tán đến Điện Biên Phủ và Xavanakhẹt. Không những thế, bộ phận chủ lực còn lại ở địch hậu Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ và Miên, nay cũng bị thu hút một phần lớn lên trung Lào và sa lầy vào cuộc tấn công không đúng lúc của Nava ra Tuy Hòa. Địch đã phải bị động đối phó với ta, khiến chủ lực phải phân tán vào những chiến trường không lợi cho chúng như Điện Biên Phủ, khiến các chiến trường địch hậu sơ hở hơn trước nhiều.

2. Căn cứ vào tình hình địch, ta nói trên, chủ trương quân sự của ta là tiếp tục hoạt động Đông Xuân theo những phương châm sau đây:

a) Sự hoạt động ở chiến trường chính diện và sự hoạt động ở chiến trường địch hậu toàn quốc phải kết hợp chặt chẽ với nhau: chiến trường chính diện ra sức kiềm chế, giam giữ địch để tất cả các chiến trường địch hâu đẩy mạnh chiến tranh du kích và tiêu diệt sinh lực dịch. Sự phối hợp chính diện và địch hậu trước đây đã được thực hiện chặt chẽ ở Bắc Bộ trong chiến dịch Hòa Bình, nay phải được thực hiện trên chiến trường toàn quốc. Sự phối hợp toàn quốc và giữa các chiến trường Việt – Miên – Lào bắt đầu thực hiện trong một tháng nay, nay phải đẩy mạnh lên nữa. Đặc điểm của hoạt động Đông Xuân là bao gồm chiến trường toàn quốc và Việt – Miên – Lào, chứ không phải hạn chế trong một chiến trường nào.

b) Hoạt động Đông Xuân của ta cần phải liên tục từ nay cho đến mùa hè, chứ không phải hạn chế trong một thời gian ngắn; càng kéo dài thì càng khơi sâu nhược điểm của địch, càng tiêu diệt được nhiều địch và buộc địch càng phải phân tâm lúng túng. Ngay đến trong mùa hè cũng cần phải nghiên cứu tiếp tục hoạt động một phần nào, thay đổi quy luât mới nắm. Đặc biệt ở Điện Biên Phủ nếu trước Hè chưa tiêu diệt toàn bộ quân địch thì phải kiên trì chiến đấu ngay trong mùa Hè.

c) Trong kế hoạch hoạt động Đông Xuân, vì ta sẽ giải phóng được nhiều địa phương mới, vì tác chiến kéo dài, nên cần kết hợp nhiệm vụ tác chiến với nhiệm vụ củng cố vùng giải phóng, kết hợp nhiệm vụ tác chiến với nhiệm vụ chấn chỉnh xây dựng bộ đội. Nếu đợi tác chiến xong rồi mới xây dựng bộ đội, mới củng cố địa phương, thì sẽ không duy trì được sự hoạt động bền bỉ và không củng cố được thắng lợi.

III – Phương châm hoạt động trên từng chiến trường. Trên cơ sở những phương châm chung cho toàn quốc, phương pháp tác chiến cụ thể cho mỗi chiến trường thì tùy điều kiện mỗi chiến trường mà định.

a) Ở Điện Biên Phủ thì bao vây kiềm giữ địch, tiêu diệt từng bộ phận, tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ. Trường hợp địch tình biến hóa có lợi thì có thể dùng cách đánh nhanh để tiêu diệt địch. Trường hợp địch tăng cường thì có thể dùng một bộ phận chủ lực tiến về phía Luông Phabăng, Phongxalỳ tiêu diệt địch và giải phóng địa phương, cô lập địch ở Điện Biên Phủ.

b) Ở Trung và Hạ Lào: hiện đã giải phóng phần lớn tỉnh Thà Khẹt, cần nắm vững phương châm đánh nhỏ ăn chắc, đẩy mạnh hoạt động ở Hà Lào, mở rộng vùng giải phóng ở đó, liên lạc với Liên khu V, buộc địch từ chỗ chiếm đóng thành điểm đi vào chỗ bố trí tuyến trên đường số 13 và đường số 9. Đẩy mạnh công tác vùng giải phóng và tiến hành gấp rút tổ chức con đường từ Banafao đi đến đường số 9.

c) Liên Khu V: hiện chiến dịch miền Tây đã thắng lợi bước đầu, cần hoàn thành chiến dịch, giải phóng cả miền Bắc Kon Tum, liên lạc với Hạ Lào và bắt đầu công tác củng cố vùng mới giải phóng. Sau đó sẽ dùng một bộ phận chủ lực mà phát triển về hướng địch yếu giữa Kon Tum và Pleiku hoặc giữa Pleiku và An Khê. Ở vùng địch đánh ra thì phát triển chiến tranh du kích. Ở toàn địch hậu liên khu cũng vậy.

d) Ở đồng bằng Bắc Bộ, cần tiếp tục thực hiện kế hoạch Xuân – Hè nhằm đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch khinh quân, mở rộng căn cứ du kích, phát triển vào vùng tạm chiếm, nhất là Sơn Tây, cần đẩy hoạt động các chiến trường lên cho đều. Cần tích cực hoạt động, nhưng đề phòng khắc phục tư tưởng ham ăn to đánh lớn, bỏ mất cơ hội diệt địch, cần chú trong việc xây dựng lực lượng.

e) Nam Bộ: đẩy mạnh chiến tranh du kích có trọng điểm, mở lại những căn cứ du kích ở vùng địch hậu một cách có trọng điểm, tranh thủ xây dựng bộ đội địa phương vầ dân quân du kích, kiện toàn các tiểu đoàn chủ lực trong tác chiến.

f) Cao Miên: cần đẩy mạnh hoạt động có trọng điểm chú trọng gây cơ sở ở Đông Miên và Đông Bắc Miên (Stungtreng và Kompongthom) để liên lạc với Hạ Lào. Tranh thủ khuếch trương lực lượng vũ trang.

IV. Triển vọng: Nếu chúng ta thực hiện được kế hoạch trên thì không những trên chiến trường chính diện sẽ tiêu diệt được sinh lực địch, không những ở địch hậu Bắc Bộ sẽ thu được nhiều thắng lợi mà khắp chiến trường miền Nam và Lào – Miên ta sẽ thu được nhiều thắng lợi mới. Chúng ta có thể giải phóng được toàn Tây Bắc và một phần quan trọng của Thượng Lào, mở được con đường vào Nam đi qua Trung và Hạ Lào, giải phóng miền Bắc Kon Tum, uy hiếp Tây Nguyên, mở những căn cứ du kích mới ở Miên, ở Nam Bộ, tạo được điều kiện để thực hiện việc tiến quân vào Nam. Địch sẽ bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng, khó thực hiện âm mưu khuếch trương ngụy quân, buộc phải phân tán chủ lực và ngày càng đi vào bị động. Chúng cũng ít có khả năng đánh ra vùng tự do của ta, do đó cuộc cải cách ruộng đất của ta được bảo đảm. Đứng về mặt quốc tế thì lại càng có lợi cho ta. Nói tóm lại, chúng ta sẽ phá được kế hoạch Nava.

Chúng ta cần thấy trước bọn Pháp – Mỹ còn ra sức cố gắng mang thêm viện binh, tăng thêm vũ khí; hoặc điều chỉnh lực lượng thay đổi bố trí để mưu củng cố địch hậu, củng cố và đánh rộng ra ở miền Nam, nhưng chúng khó cứu vãn được cục diện khắp toàn quốc và cả ở Lào – Miên.

Nhưng, muốn tranh thủ được những thắng lợi trên thì toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải có một cố gắng rất lớn, rất tích cực và bền bỉ:

a) Các cấp chỉ đạo trong quân đội và cấp ủy của Đảng cần nhận rõ tình hình và thấu triệt chủ trương quân sự của Trung ương.

b) Các cấp ủy cần nắm vững nhiệm vụ đánh giặc là công tác trung tâm thứ nhất, là có quyết tâm huy động nhân vật lực đầy đủ để phục vụ tiền tuyến, đồng thời chú trọng đúng mức đến công tác củng cố vùng giải phóng về mọi mặt (cán bộ, lực lượng võ trang, đường sá, dân sinh).

V. Đề nghị Hồ Chủ tịch và Chính trị Bộ cho chỉ thị về sự nhận định tình hình và chủ trương quân sự nói trên.

30-1-1954

Hưng

(1) Đây là một tư liệu còn giữ ở Kho lưu trữ Trung ương Đảng (phòng số 11, mục lục số 2, đơn vị bảo quản số 742) được xác định là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc đó lấy bí danh là “Hưng”. Thư được gửi hỏa tốc ngày 30-1`-1954 từ tiền tuyến Điện Biên Phủ đến các đồng chí lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ là Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Bộ Chính trị. Đây là một minh chứng cho thấy quyết định sáng suốt của Đại tướng, chuyển từ phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, tr.18-20.

Nguồn: Tạp chí Xưa và Nay / Quân sử Việt Nam

Lời kêu gọi nguỵ binh quay về với Tổ quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lời kêu gọi nguỵ binh quay về với Tổ quốc (15-11-1951)

Hỡi các người đi lính cho Pháp và bù nhìn!

Giặc Pháp muốn cướp nước ta lần nữa. Chúng bày ra một thứ độc lập giả hiệu để lừa bịp dân ta và bắt các người đi lính cho chúng.

Bọn bù nhìn Bảo Đại bán nước cho Pháp cũng như tổ tiên nó đã hàng Pháp suốt 80 nǎm. Chúng bắt buộc đồng bào ta đi lính để chết thay cho Pháp.

Đi lính cho giặc Pháp, cho bù nhìn tức là giúp giặc giết hại đồng bào, chống lại Tổ quốc.

Chính phủ và nhân dân ta kháng chiến để tranh lại độc lập thực sự cho Tổ quốc, tự do thực sự cho đồng bào. Vì vậy, sức kháng chiến ngày càng tǎng, và kháng chiến nhất định thắng lợi.

Tôi biết rằng: các người đều là con dân nước Việt, song vì bị Pháp bắt buộc, hoặc bị chúng lừa gạt, cho nên đi lính cho chúng. Chứ thật không ai muốn “cõng rắn bắt gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng Việt gian.

Trong các trận vừa qua, nhiều nguỵ binh đã chạy về với Chính phủ.

Những người mang súng đạn về đã được Chính phủ thưởng.

Những người muốn được về quê quán đã được Chính phủ giúp cho về.

Những người muốn đánh giặc lập công đã được Chính phủ cho vào bộ đội.

Tôi thiết tha kêu gọi các người mau mau quay về với Tổ quốc, các người sẽ được đối đãi tử tế.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Con Hồng cháu Lạc phải thương nhau cùng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 32, ngày 15-11-1951.

Thư gửi các nguỵ binh – Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thư gửi các nguỵ binh (28-9-1951)

Tôi đã nhận được thư 300 nguỵ binh công giáo bị bắt trước mặt trận, xin tha.

Tôi cũng đã nhận được thư của những nhóm nguỵ binh khác, hứa hẹn.

Tôi trả lời như sau:

– Một mặt, vì các người chưa hiểu rằng: giặc Pháp đương mưu mô cướp nước ta, bù nhìn Bảo Đại đang mưu bán nước ta. Kháng chiến là cốt làm cho nước ta được độc lập thực sự, cho nhân dân được tự do, đồng thời cho đồng bào công giáo được tự do thờ Chúa.

– Một mặt khác, các người hoặc bị giặc Pháp và bù nhìn ép buộc, hoặc bị chúng lừa phỉnh mà đi lính cho chúng, chống lại Tổ quốc. Nhưng các người cũng là máu đỏ da vàng, khi đã hiểu thì chắc không ai nỡ lòng làm nanh vuốt cho giặc, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng xấu muôn đời.

Tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ quốc, song Chính phủ kháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các người như những đứa con lầm đường, cho nên nặng về giáo dục nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các người bỏ đường tà, theo đường chính.

Vì lẽ đó, đối với những nguỵ binh đã bị bắt và đã biết tội, thì Chính phủ sẽ dần dần tha thứ cho về với cha mẹ, vợ con.

Đối với những nhóm nguỵ binh có thư hứa hẹn, thì tôi có lời khuyên rǎn và dặn dò: anh em phải cẩn thận, sẽ có cán bộ kháng chiến liên lạc và hướng dẫn anh em.

Đối với tất cả nguỵ binh, thì Chính phủ sẽ khoan hồng những người sớm quay về với Tổ quốc, sẽ trọng thưởng những người và những nhóm đái tội lập công lớn (1) .

Nguỵ binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đình kháng chiến.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1915,
ngày 28-9-1951.

Những nước cờ cao của Tướng Giáp trên chiến trường

Ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại.

Chưa từng học qua trường võ bị nào nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng 10 đại tướng Mỹ, Pháp bằng những tư duy quân sự độc đáo của mình.

Lãnh đạo một đội quân từ những khẩu súng kíp ban đầu với những người lính xuất thân nông dân ít được học hành, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng cả 2 cường quốc quân sự của thế giới.

Trong 30 năm cầm quân ấy, hẳn có vô số sự kiện chứng minh phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng. Tuy nhiên, ở đây, chỉ xin điểm lại một vài quyết định của Đại tướng ở những thời điểm quan trọng trước mỗi chiến dịch, trận đánh mà có ảnh hưởng quyết định tới thắng lợi.

Đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung

Mùa đông năm 1947, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc với mục tiêu lùng bắt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh để kết thúc chiến tranh. Địch chia quân 2 cánh hòng tạo ra 2 gọng kìm vây lấy quân ta.

So sánh mọi mặt, lúc này quân ta ở thế yếu hơn địch, từ quân số đến vũ khí trang bị. Cần phải có phương án tác chiến thích hợp để đập tan được cuộc tấn công của địch, mà vẫn bảo toàn được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài.

Trong đợt toàn quốc kháng chiến năm 1946, có lúc ta tổ chức đánh lớn, dàn quân ra đánh với địch như ở Hà Đông, nhưng không hiệu quả do trang bị của ta thô sơ, bất lợi khi giao chiến theo hình thức chiến tranh quy ước với địch.

Trong tình thế nguy hiểm đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nghe báo cáo có 1 đại đội bị lạc đơn vị đã nương tựa vào dân ở Hà Bắc, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng. Câu chuyện đã lóe lên trong đầu vị tướng tài một câu trả lời mà bấy lâu ông đang tìm kiếm. Ta sẽ phân tán lực lượng ra, kẻ địch sẽ không thể tìm thấy thứ chúng muốn tìm (chủ lực ta) và chúng sẽ bị nhấn chìm trong núi rừng Việt Bắc.

Và thế là ngay sau đó, Đại tướng liền trình kế hoạch lên Trung ương Đảng và Bác Hồ. Trong cuộc họp ngày 14/101947, Trung ương và Bác đã nhất trí thông qua kế hoạch, cho tổ chức quân đội ta thành những đại đội độc lập đi vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm để biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.

Nhờ công thức “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, quân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động chiến trường đẩy quân Pháp vào thế bị động đối phó. Sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp ngày càng phải lo lắng nhiều đến việc giữ gìn vùng chiếm đóng vì các đại đội chủ lực của ta đã đi vào hoạt động thúc đẩy phong trào đấu tranh của du kích và nhân dân lên một bước mới, không cho chúng rảnh tay tập trung quân càn quét.

Đòn điểm huyệt “rúng động” biên giới

Chiến dịch Biên Giới 1950 mở ra với mục đích khai thông biên giới Việt – Trung để nối liền vùng giải phóng của ta với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Xã hội Chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến của ta. Vì ý nghĩa đó, đây là một chiến dịch quan trọng phải đảm bảo chắc thắng.

Đây cũng là chiến dịch đầu tiên ta tập trung lực lượng bộ đội lớn gồm 5 trung đoàn chủ lực của Bộ, 3 tiểu đoàn của Liên khu Việt Bắc và các lực lượng vũ trang 2 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Về phía địch, lực lượng cũng xấp xỉ quân ta và phần lớn là lính Âu Phi thiện chiến lại được trang bị tốt hơn ta rất nhiều.

Ban đầu cơ quan tham mưu xác định lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch. Tuy nhiên, khi thị sát chiến trường, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp lại nhận thấy tấn công vị trí này có nhiều bất lợi.

Trong hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ”, Đại tướng Tổng tư lệnh viết: “Lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch có phải là sự lựa chọn đúng không? Cao Bằng là một vị trí đột xuất nằm sâu trong hậu phương ta ở phía bắc. Ở đây, địch có 2 tiểu đoàn. Nếu đánh thắng, ta sẽ giải phóng được một thị xã quan trọng ở biên giới, ảnh hưởng chính trị sẽ rất lớn. Nhưng bộ đội ta chưa hề đánh một vị trí 2 tiểu đoàn Âu-Phi. Cao Bằng như tôi đã biết, nằm giữa hai con sông, và có ngôi thành cổ rất vững chắc. Đánh Cao Bằng sẽ thực sự là một trận công kiên lớn mà chúng ta còn chưa có kinh nghiệm”.

“Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê. Ở đây địch đóng 1 tiểu đoàn, nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Mất Đông Khê, Cao Bằng sẽ trở nên hoàn toàn cô lập. Địch nhất định phải chiếm lại Đông Khê. Bộ đội ta sẽ có điều kiện tiêu diệt bộ binh địch trên địa hình rừng núi. Tôi đã nói với Bộ Tổng tham mưu, tạm thời chưa đụng vào những vị trí địch trên đường số 4, chưa đánh động chúng”, hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng viết.

Những suy tính này cùng với quá trình thị sát Cao Bằng sau đó, Đại tướng đã quyết định thay đổi điểm đột phá. Thay vì đánh vào Cao Bằng, ta chọn đánh cứ điểm Đông Khê để cô lập Cao Bằng rồi bố trí phục binh đánh địch cứu viện bên ngoài công sự và khi chúng rút chạy.

Thực tế chiến sự sau đó đã diễn ra hoàn toàn theo suy tính của Đại tướng. Điều đó thể hiện một tư duy quân sự sắc sảo, linh hoạt và thiên bẩm của vị Đại tướng chưa một ngày học qua trường lớp võ bị nào.

Lối đánh điểm diệt viện này về sau trở thành một lối đánh quen thuộc và lợi hại của quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, đến mức tướng Westmoreland phải để tâm nghiên cứu và đưa ra những “cẩm nang” cho thuộc cấp Mỹ và quân đội Sài Gòn để ứng phó. Tuy nhiên, tác dụng của những cẩm nang đó không được bao nhiêu vì chiến thuật ấy, quân ta đã vận dụng thành nghệ thuật. Bởi vậy, quân Mỹ vẫn thua những trận đau như ở Sa Thầy, Pleime…

Buôn Ma Thuột hay Đông Nam Bộ

Từ cuối năm 1973, khi những dấu hiệu vi phạm Hiệp định Paris của quân đội Sài Gòn đã rõ ràng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng bắt đầu nghiên cứu đề án quân sự. Trong đó, vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất là chọn hướng tiến công chính ở đâu khi bắt đầu một kế hoạch quân sự mới.

Bộ Tổng tham mưu đưa ra mấy hướng để lựa chọn là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Quảng Đà, Trị Thiên. Các cuộc thảo luận còn tiếp tục trong nhiều ngày tháng nhưng cá nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp ủng hộ hướng đánh vào Tây Nguyên vì khu vực này tiện cho ta tiếp tế hậu cần mà địch lại phòng thủ sơ hở. Thêm nữa, Tây Nguyên là nóc nhà Đông Dương – là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong quân sự. Chiếm được Tây Nguyên sẽ cắt đôi thế phòng thủ hiện tại của quân đội Sài Gòn ở miền Nam.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng nếu đánh Tây Nguyên sẽ động, địch sẽ ra sức đối phó ở Sài Gòn và đồng bằng Nam Bộ, sau này ta đánh sẽ khó khăn. Vì vậy nên chọn Nam Bộ là hướng chính, phía Tây Nguyên chỉ đánh Đức Lập để mở đường và đồng bằng Nam Bộ. Cuộc trao đổi vẫn chưa ngã ngũ.

Khoảng cuối năm 1974, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghỉ ở Đồ Sơn và trực tiếp làm kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Bản kế hoạch này đã sửa chữa đến lần thứ 6. Trong bản này, về hướng tiến công chủ yếu chỉ còn để lại 2 hướng là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Tháng 12/1974, đoàn cán bộ B2 và khu 5 ra Hà Nội họp với Bộ Tổng tham mưu. Trong vấn đề chọn hướng chiến lược, các đồng chí B2 muốn chọn Đông Nam Bộ làm hướng tiến công chiến lược. Tuy nhiên, ngay trong hướng Đông Nam Bộ, giữa Bộ Tổng tham mưu và đoàn cán bộ B2 cũng có sự khác biệt về địa điểm đột phá. Bộ Tổng muốn đánh Bù Đăng, Bù Na để có thêm đạn pháo chiến lợi phẩm đánh Đồng Xoài trong khi các đồng chí B2 muốn trước hết đánh Đồng Xoài vì nó là quận lỵ quan trọng của Phước Long. Cuối cùng kế hoạch tiến công chọn cả Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài và cả Phước Long.

Trong hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp ngày 18/12/1974, trước những thông tin mới nhất của tình hình bố phòng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại nêu ý kiến: “Kế hoạch phải nêu rõ diệt địch ở Tây Nguyên, mở đầu bằng đánh Buôn Ma Thuột. Có thể sau khi ta tiêu diệt Buôn Ma Thuột, địch sẽ dao động, rối loạn, lúc đó ta phải chớp lấy thời cơ giải phóng Huế. Nếu lúc đó ta chậm chân, mỏi mệt, để mùa mưa đến thì lỡ mất thời cơ. Cho nên phải có kế hoạch bao vây chia cắt ngay từ bây giờ, không để cho địch co cụm chiến lược, rút về miền Đông Nam Bộ hay rút về phía đông dọc theo bờ biển Trung Bộ…. Chúng ta phải chủ động tạo ra thời cơ, chứ không thể bị động ngồi chờ. Khi thời cơ đến thì phải kiên quyết, kịp thời chớp lấy thời cơ”.

Càng ngày hướng Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột càng được nhiều người ủng hộ qua các cuộc họp, thảo luận và cuối cùng đã được lựa chọn làm hướng mở màn chiến dịch Tây Nguyên và cũng là mở màn cho kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Như sau này nhiều người nói, đòn đánh vào Buôn Ma Thuột thực sự là một đòn điểm huyệt vào toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch đưa chúng đến chỗ tan rã nhanh chóng.

Quyết định đánh tan 10 vạn quân trong 3 ngày

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch “rúng động” và tan rã cũng là lúc quân ta mở chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng. Mất Quảng Trị rồi Huế, lực lượng địch dồn về Đà Nẵng tới 100.000 tên với đủ các sắc lính và hô hào tử thủ.

Ngày 26/3 tại Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp với tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh mặt trận Quảng Đà vừa được chỉ định và một số tướng lĩnh khác để bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng. Tướng Tấn đã chuẩn bị sẵn một phương án tác chiến trong 5 ngày gồm các việc họp đảng ủy, tập kết bộ đội và tổ chức hiệp đồng chiến đấu.

Tuy nhiên, Đại tướng Tổng tư lệnh lại nghĩ khác. Địch kêu gào tử thủ trong khi nhuệ khí đã không còn, hệ thống phòng thủ sau khi mất Tây Nguyên đã không còn căn cứ nào để tử thủ. Tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch tháo chạy vẫn tồn tại. Nếu đánh chuẩn bị đánh trong 5 ngày địch rút được thì sẽ hỏng việc lớn. Do vậy Đại tướng ra lệnh cho Cục Quân báo về nghiên cứu thời gian nhanh nhất địch có thể rút khỏi Đà Nẵng và hẹn sáng hôm sau trả lời.

Sáng hôm sau, Cục Quân báo trả lời địch có thể rút nhanh nhất trong 3 ngày. Đại tướng liền nêu ý kiến cần chuẩn bị phương án đánh trong 3 ngày nhưng tướng Tấn vẫn giữ ý kiến và trình bày là “Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp”.

Tướng Giáp viết trong hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng: “Không thể đồng ý với đề nghị của anh Tấn chuẩn bị chiến đấu 5 ngày cũng như cách tính toán của anh Thanh, tôi phân tích ngắn, gọn, nêu rõ trong tình huống địch “tử thủ”, ta có thể chuẩn bị 5 ngày, 7 ngày hoặc hơn nữa. Nhưng phải dự kiến tình hình đột biến, cần có kế hoạch đánh thật nhanh. Tôi chỉ thị làm kế hoạch đánh địch theo tình huống chúng rút trong 3 ngày”.

Anh Tấn vẫn giữ ý kiến, và trình bày: Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp. Tôi nói, giọng có phần gay gắt: “Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị 3 ngày. Nếu chuẩn bị 5 ngày, địch rút mất cả thì sao? Huế đã giải phóng rồi. Mặc dầu pháo binh và hải quân địch có thể bắn phá, cứ cho bộ đội hành quân theo đường số 1 tiến công thẳng vào Đà Nẵng. Từ phía nam cũng theo đường số 1 tiến công lên. Không họp đảng uỷ, chỉ trao đổi bằng điện”.

Sau đó tướng Tấn đã chấp hành nghiêm lệnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chỉ trong 3 ngày đã đưa một quân đoàn đánh tan 100.000 quân địch, giải phóng Đà Nẵng.

Một vài mẩu chuyện không thể nói hết được những phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng nó cũng cho thấy, ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại.

VŨ TIẾN ĐỨC (KIẾN THỨC)

Ngụy binh giác ngộ – Chủ tịch Hồ Chí Minh (bút hiệu C.B.)

Nguỵ binh giác ngộ (3-3-1952)

Gần đây, vì địch thất bại nhiều, ta thắng lợi luôn, nên từ Nam đến Bắc, nhiều nguỵ binh đã giác ngộ quay về với kháng chiến. Vài thí dụ:

Đêm 21-12-1951, anh Lê Vǎn Mơ, nguỵ binh đóng ở một tháp canh trong tỉnh Biên Hoà (Nam Bộ) đã diệt 4 tên quan Pháp, rồi mang 4 khẩu súng ra theo bộ đội ta.

Đêm 23-12-1951, bộ đội ta bao vây đồn Mạc Thượng (huyện Lý Nhân, Hà Nam). Chiến sĩ ta và một vị linh mục kêu gọi giải thích. Cả trung đội nguỵ binh đem súng ra hàng.

Đại đa số nguỵ binh là những thanh niên bị bắt buộc hoặc bị lừa bịp mà đi lính cho giặc. Nhưng họ vốn cũng có lòng yêu nước và ghét giặc. Ta giải thích rõ cho họ, khoan hồng với họ, thì họ sẽ giác ngộ và quay về với Tổ quốc. Nhiều lần, sự thực đã chứng tỏ như vậy. Cho nên cán bộ, bộ đội và nhân dân ta phải thi đua địch vận, nguỵ vận, xem đó là một nhiệm vụ kháng chiến, thì ta sẽ không tốn đạn hao binh, mà được cả người lẫn súng. Và do đó, ta sẽ phá tan mưu mô của địch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

C.B.

Báo Nhân dân, số 47-48, ngày 3-3-1952.

Vận động ngụy binh – Chủ tịch Hồ Chí Minh (bút hiệu Đ.X.)

Vận động nguỵ binh (30-6-1951)

Trên chiến trường Liên khu III vừa rồi, nhiều nguỵ binh đã bỏ Pháp mà quay về với Tổ quốc. Có những nơi như đồn Bến Xanh anh em nguỵ binh giết tên chỉ huy Pháp và trói 3 tên lính Pháp rồi đưa cả giặc cả súng sang hàng ngũ ta. Như vậy nên bộ đội ta lấy được mấy vị trí mà không mất một viên đạn, không tốn một giọt máu.

Có kết quả đó là vì:

– Bộ đội ta có chính sách ưu đãi nguỵ binh đã giác ngộ.

– Chính phủ ta có chính sách khoan hồng với những người ấy.

– Đồng bào và cán bộ địa phương khéo vận động nguỵ binh.

Hồ Chủ tịch thường nói: “Trừ bọn đại Việt gian ra thì người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc. Đại đa số nguỵ binh đều vì giặc áp bức lừa gạt mà theo giặc. Chúng ta chịu khó và khôn khéo khêu gợi lòng ái quốc của họ thì nhất định họ sẽ quay về với kháng chiến”.

Thật vậy. Ai chẳng biết kháng chiến là vì dân vì nước. Ai cũng biết Tây là ác và theo Tây là cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ. Cho nên bổn phận của mỗi một đồng bào ở vùng tạm bị chiếm là chịu khó gần gũi nguỵ binh. Giải thích cho họ rồi kéo họ về với ta. Đó là một cách tham gia kháng chiến rất thiết thực.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1851, ngày 30-6-1951.

Bi kịch của biệt kích dù Pháp ở Điện Biên Phủ

Quân đội Pháp đã mất gần như toàn bộ lực lượng biệt kích dù tinh nhuệ nhất của họ tại Điện Biên Phủ.

Bán đảo Đông Dương vào cuối năm 1945, người Pháp đã phải đối mặt với tình hình khác hoàn toàn trước kia. Việt Minh đã tổ chức được một đội quân lớn có khả năng chiến đấu cao và tổ chức các chiến dịch tấn công thường xuyên.

Tình hình quân sự bắt đầu có vẻ như là thành công đối với người Pháp. Giữa năm 1945 và 1946 các đơn vị quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Tướng Leclerc dễ dàng đẩy lui lực lượng vũ trang Việt Minh và chiếm quyền kiểm soát các vị trí chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, chiến thắng dễ dàng lại là phần mở màn cho cuộc chiến khó khăn kéo dài.

Binh lính Pháp mệt mỏi truy đuổi đối phương trong các khu rừng rậm dày đặc, trong khi đó, bộ tham mưu đi đến kết luận, đối phương không có khả năng đấu tranh mạnh mẽ hơn. Đó là một sai lầm chết người.

Đến năm 1951 phía Việt Nam đã có hơn 120.000 quân nhân chính quy và có sự hỗ trợ của một số lượng gấp đôi con số đó đến từ các lực lượng địa phương. Cũng trong năm này, đội quân viễn chinh Pháp có khoảng 152.000 người và khoảng 120.000 lính thuộc địa.

Như vậy, Việt Minh vượt trội quân viễn chinh Pháp về quân số và ý chí chiến đấu, ngay cả với vũ khí pháo binh Việt Minh cũng có ưu thế hơn nhờ nguồn viện trợ quốc tế. Người Pháp có lợi thế duy nhất trong lĩnh vực hàng không, không quân, nhưng con át chủ bài này không được sử dụng thành công trong thực tế.

Các đơn vị lính dù không chuyên

Nhớ lại hồi tháng 10/1947, trong chiến dịch Việt Bắc, các phi đội Ju-52 cũ của quân Đức (máy bay vận tải duy nhất ở Đông Dương), đã được sử dụng trong chiến dịch tấn công chớp nhoáng quân đội Việt Minh tại Bắc Cạn và thả xuống đây 3 đại đội biệt kích dù.

Tận dụng yếu tố bất ngờ, người Pháp dễ dàng chiếm ưu thế trước Việt Minh. Pháp bắt giữ một số quan chức cao cấp của Việt Minh, tuy nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp rời khỏi nơi làm việc an toàn.

Bắc Cạn trở thành bài học đối với cả hai bên. Người Pháp đã không thành công trong mục tiêu tiêu diệt đầu não của Việt Minh, dù biệt kích đã tới rất gần mục tiêu. Nguyên nhân được giải thích là lực lượng biệt kích dù như hiện tại là không đủ. Cần phải tăng số lượng của họ để có thể giải quyết được các nhiệm vụ khó khăn, trong khi Hiến pháp của nước Pháp ngăn cấm tuyển quân cho chiến trường Đông Dương.

Do đó, giải pháp là tăng cường các đơn vị biệt kích dù thông qua việc tổ chức lại lực lượng lính lê dương. Lính lê dương đã tán thành nhiệt tình ý tưởng này.

Tiểu đoàn biệt kích dù lê dương số 1 được thành lập với sự hỗ trợ huấn luyện của các sĩ quan biệt kích dù cao cấp người Anh. Sau đó, Tiểu đoàn này nhanh chóng được đưa vào tham chiến vào năm 1948 dưới sự chỉ huy của Đại úy Segretena.

Đến năm 1950, Pháp đã có bốn tiểu đoàn biệt kích dù lê dương, được tổ chức thành hai trung đoàn. Trong thành phần đội lính lê dương, đặc biệt là sau năm 1945, chủ yếu là người Đức. Thời gian đầu họ chiếm hơn 2/3 quân số Tiểu đoàn biệt kích dù lê dương số 1, và trong số họ có nhiều cựu lính dù của Tướng Shtudent (Trung tướng và là người sáng lập lực lượng biệt kích dù của quân đội Đức quốc xã).

Các phương pháp huấn luyện hà khắc được áp dụng với các lực lượng này đã biến các đơn vị biệt kích dù lê dương thành một lực lượng có sức mạnh ghê ghớm. Một tình nguyện viên người Anh từng tham gia lực lượng này, đã viết: “Lính lê dương nổi tiếng với hai nghệ thuật: thu gom và giết. Đó là những gì mà lính lê dương thường làm và làm rất ấn tượng”.

Dù biệt kích dù lê dương đã thành công trong một số chiến dịch kiểu như: Eben Emael, Arnhem và Corregidor, họ không thích hợp để trấn áp cuộc chiến tranh du kích mà được tiến hành bởi phong trào đấu tranh vì độc lập của Việt Nam.

Khi họ bắn phá làng mạc, họ dọn sạch tất cả những gì xung quanh, cứ mỗi một lính dù lê dương bị chết thì họ giết chết 10 người Việt Nam. Lính lê dương không hiểu, hoặc không muốn hiểu những mục tiêu của các nhà lãnh đạo Việt Minh. Lính dù lê dương không ngu ngốc, nhưng chiến lược thiết lập hòa bình của họ thông qua sự sợ hãi đã mang lại kết quả ngược lại với những gì họ mong đợi. Sợ hãi thường kèm theo sự không phục tùng và thù hận.

Cùng với lính biệt kích dù lê dương ở bán đảo Đông Dương còn có các đơn vị lính lê dương khác, mà dẫn đầu là thành viên ưu tú của các lực lượng vũ trang tự do Pháp – bán lữ đoàn số 13 lừng danh.

Từ lực lượng này người ta chọn ra hai nhóm lính đặc biệt với quân số 24 người mỗi nhóm. Được trang bị vũ khí, phương tiện thông tin và một ít thực phẩm họ ẩn náu hàng tuần lễ trong rừng rậm và theo dõi các chuyển động của Quân đội Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động của họ trở nên vô ích vì các tướng lĩnh Pháp ở Hà Nội không thèm đọc các báo cáo họ gửi về.

Thảm họa tại Điện Biên Phủ, 1954

Lính biệt kích dù Pháp và lính lê dương tạo thành lực lượng tinh nhuệ của đoàn quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, nhưng các chiến dịch với sự tham gia của họ thường kết thúc bằng những thành tích mà không ai có thể sử dụng được.

Dù là đội quân tinh nhuệ, nhưng cũng không ít lần lực lượng này gặp trường hợp tổn thất nặng nề. Tháng 10/1950 Tiểu đoàn lính dù lê dương số 1 hầu như bị xóa sổ trong quá trình giải cứu đoàn xe cơ giới Pháp, bị bao vây khi rút lui trên đường số 4 ở phía Tây Bắc Hà Nội. Mỗi cuộc hành quân đều biến biến thành các cuộc giao tranh bất tận.

Trong số đó, trận đánh nổi tiếng nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu ngày 20/10/1953 bằng cuộc đổ bộ và chiếm giữ một sân bay cũ do người Nhật xây dựng trong thung lũng Điện Biên Phủ, trên tuyến biên giới Việt – Lào.

Chỉ huy Pháp, Đại tá Christian de la Croix de Castries đã bắt đầu xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm phòng thủ kiên cố, mệnh danh là “pháo đài bất khả xâm phạm”. Ông này chia khu vực này thành những vị trí phòng thủ vững chắc như một pháo đài, bao quanh quanh sân bay trung tâm, và đặt cho mỗi vị trí đó một cái tên của một người phụ nữ: Claudine, Ellen và Dominic, Beatrice, Gabrielle, Anna Maria, và Isabel Hyuget… Những người ác ngôn nói rằng, đây là cách ngài Đại tá de Castries tưởng nhớ những người phụ nữ của mình.

Tập đoàn cứ điểm phòng thủ này nằm ở trung tâm lãnh thổ của đối phương rõ ràng là một việc làm đáng ngờ, đặc biệt, nếu như tính đến việc cung cấp hậu cần chỉ có thể thực hiện được bằng đường hàng không.

Khi lập kế hoạch vành đai phòng thủ và triển khai pháo binh đã phạm phải nhiều lỗi nghiêm trọng, chẳng hạn như có những ngọn đồi có khả năng không chế toàn bộ long chảo Điện Biên Phủ đã không được kiểm soát. Bộ Tham mưu Pháp tin rằng Quân đội Việt Nam hiện tại không thể để đặt các vũ khí hạng nặng trong khu vực này. Họ đánh giá thấp chỉ huy Việt Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã hóa giải thành công vấn đề này và chỉ trong năm tuần đầu năm 1954 đã đưa vào đây 200 khẩu pháo và bố trí bốn sư đoàn chính quy trên các ngọn đồi xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ.

Ngày 13/3/1954 quân đội Việt Nam đã nổ súng tấn công Điện Biên Phủ và trong tám tuần sau đó những vụ đánh bom diễn ra liên tục. Bom đạn đã phá hủy sân bay, buộc người Pháp phải tiếp tế thực phẩm và đạn dược bằng dù. Đó là một hành động tuyệt vọng, vì các đơn vị phòng không Việt Nam đã bắn hạ và làm hư hỏng 169 máy bay – gần một nửa số máy bay của Không quân Pháp lúc bấy giờ.

Trong khi bị bao vây người Pháp đã thả xuống Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hết tiểu đoàn này đến tiểu đoàn khác, dù rõ ràng rằng cuộc chiến của họ đã bị bại. Những người lính thực hiện các mệnh lệnh một cách nhẫn nhục nhờ tinh thần đoàn kết đặc trưng của các đơn vị tinh nhuệ trong chiến đấu.

Đặc biệt, Tiểu đoàn lính dù lê dương số 1 đã đổ bộ được xuống Điện Biên Phủ trong làn đạn của Quân đội Việt Nam, và bị tổn thất phần lớn binh lực. Dù tổn thất nặng nề, Tiểu đoàn này ngày hôm sau đã phải tham gia cuộc phản công chiếm lại pháo đài Helen bị Việt Minh chiếm từ cuối tháng 3/1954.

Cuộc chiến đã diễn ra rất khốc liệt, khi hai bên đều quyết tâm chiếm và giữ cho bằng được cứ điểm này, và cuối cùng người Pháp đã chiếm giữ được.

Sau 2 tuần của tiểu đoàn thứ hai đã cố gắng chiếm lại pháo đài Hyuget, nhưng bị tổn thất mất 150 người và đã được sáp nhập thành một đơn vị duy nhất với những tàn quân còn lại của Tiểu đoàn số 1.

Đến ngày 7/5, Việt Minh tấn công trên quy mô lớn đã phá vỡ sự kháng cự của Điện Biên Phủ. Nhiều binh lính của Tập đoàn cứ điểm hơn 15.000 người đã thiệt mạng, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh, ngoại trừ 75 người trong Ban Tham mưu.

Hơn 4.000 binh lính và sĩ quan Pháp đã thiệt mạng trong trận chiến, 11.000 người bị bắt làm tù binh. Lính lê dương từ các nước Đông Âu được gửi đến Liên Xô . Hàng trăm người khác đã chết vì bị thương, đói, bệnh sốt xuất huyết, và rắn cắn.

Những mất mát này chẳng thấm tháp gì khi tính đến tổng quân số quân đội Pháp trên toàn Đông Dương (hơn 152000 quân chính quy), nhưng nó đã chạm đến màu sắc của quân đội. Những quyết định ngu ngốc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Pháp là một trong những nguyên nhân đã dẫn đến thảm họa ở Điện Biên Phủ, đặc biệt là tổn thất gần như hoàn toàn các đơn vị biệt kích dù tinh nhuệ nhất của quân đội Pháp. Tinh thần của quân Pháp đã bị mất hoàn toàn, và họ không thể thắng nổi nếu tiếp tục cuộc chiến tranh.

DANH NGUYỄN (ĐẤT VIỆT ONLINE)

 

Cơn ác mộng của người Pháp ở Điện Biên Phủ

Những khẩu pháo bắn chính xác như đặt và những chiến hào như vòi bạch tuộc quấn lấy cứ điểm là những điều mà người Pháp ám ảnh nhất ở Điện Biên.

 

 

 

Những khẩu pháo lợi hại

17h ngày 13/3/1954, pháo binh Việt Nam bắt đầu phát hỏa bắn vào cứ điểm Him Lam, mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. 40 khẩu pháo từ 75 đến 120 mm đồng loạt bắn vào cứ điểm Him Lam. Trận pháo kích kéo dài 2 giờ liền với 2.000 quả đạn. Đây là lần đầu tiên quân đội Việt Nam bắn nhiều pháo đến như vậy.

 

Trong cuốn sách Điện Biên Phủ 170 ngày đêm bị vây hãm, Erwan Bergot viết về cảm giác của lính Pháp dưới làn đạn pháo của đối phương: “Pháo chuẩn bị tiến công của Việt Minh bắn vào Beatrice lúc 17 giờ 15 phút, kéo dài suốt hai giờ. Lính lê dương không còn gì để mô tả ngoài từ “hỏa ngục”. Nhưng danh từ này vẫn chưa đủ mức nói hết…”. Tài liệu này cũng chứng thực rằng ngay trong loạt pháo bắn chuẩn bị đó, viên thiếu tá Pégot và ban tham mưu tiểu đoàn đóng ở Him Lam đã chết hết vì hầm chỉ huy trúng một viên đạn pháo.

 

Sau Him Lam, các cứ điểm còn lại ở phân khu Bắc tiếp tục bị tấn công và chịu chung số phận. Pháo binh Pháp cũng bắn trả mãnh liệt. Chỉ mới đến ngày 15/3, họ đã bắn trả lại hơn 10.000 quả đạn nhưng không gây được chút tổn thương nào cho các khẩu pháo của đối thủ. Ngược lại họ đã bị mất 2 khẩu 105 mm và 1 khẩu 155 mm.

 

Piroth bắt đầu hốt hoảng khi đã giở hết cách mà vẫn không tài nào bắt được pháo của Việt Minh “câm họng”. Viên chỉ huy pháo binh Pháp đã dành trọn một đêm để quan sát hỏa lực pháo binh của đối phương. Ông ta dần nhận ra rằng pháo của đối phương bắn chính xác kinh khủng nhưng không tài nào biết được các khẩu pháo ấy nằm ở đâu để bắn trả.

 

Sáng 15/3, Piroth đã tự tử trong hầm của mình. Viên đại tá Tơrăngca, chỉ huy phân khu Bắc, bạn thân của Piroth kể lại: sau trận Gabriel, Piroth khóc và nói: “Mình đã mất hết danh dự. Mình đã bảo đảm với De Castries và tổng chỉ huy sẽ không để pháo binh địch giành vai trò quyết định, và bây giờ, ta sẽ thua trận. Mình đi thôi”.

 

Piroth không thể ngờ rằng, lính pháo Việt Minh tuy kinh nghiệm còn ít nhưng vô cùng thông minh. Với vốn liếng ít ỏi, họ đã chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ pháo rất chu đáo. Biết rằng Pháp có máy bay trinh sát, có lực lượng pháo mạnh nên bộ đội Việt Nam đã đào hầm vào lòng núi để làm công sự cho pháo khi chiến đấu. Nóc hầm được ghép bằng các thân cây gỗ có đường kính từ 20 cm trở lên rồi đổ đất đá lên trên, đảm bảo chống được sức công phá của bom, pháo địch. Bên ngoài trận địa được ngụy trang kỹ lưỡng, không để lộ một dấu vết. Do đó, khi các khẩu pháo đã yên vị trong công sự, nòng hướng vào cứ điểm của Pháp trong thung lũng mà các máy bay Pháp không hề hay biết.

 

Thông thường các khẩu pháo được đặt theo từng cụm gồm vài khẩu đặt một chỗ thành một trận địa. Nhưng ở Điện Biên, quân ta đã đặt các khẩu pháo 105 mm rải rác khắp các ngọn núi xung quanh thung lũng. Việc đặt pháo phân tán và làm hầm cho pháo nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể có khi bị địch phản pháo.

 

Tuy pháo đặt phân tán nhưng pháo binh ta lại đo đạc các phần tử bắn rất cẩn thận cho từng khẩu để đảm bảo mỗi khi khai hỏa vào một mục tiêu, dù các khẩu pháo đặt ở vị trí khác nhau đều có thể bắn trúng mục tiêu đó. Lối đánh này được nêu thành phương châm “hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung”.

 

Bên cạnh đó, cùng lúc pháo bắn, tại các trận địa giả, quân ta cho nổ bộc phá tạo ra các ánh chớp khiến quân địch lầm tưởng là chớp lửa đầu nòng của pháo. Với những cách làm như thế, pháo binh Việt Nam đã đè bẹp được pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ mà không hề bị thiệt hại dù cho các chỉ huy pháo binh Pháp không phải những kẻ bất tài.

 

Chiến tranh chiến hào

 

Trong ký ức các cựu binh Pháp từng tham chiến ở Điện Biên, có lẽ những tiếng cuốc đất thình thịch của đối phương còn ám ảnh họ nhiều hơn cả những tiếng pháo. Sau đợt tiêu diệt các cứ điểm ở phân khu Bắc, quân ta phải vượt địa hình trống trải khi đánh vào các cứ điểm ở phân khu trung tâm. Để hạn chế hỏa lực của địch, tướng Giáp ra lệnh cho bộ đội đào hào để tiếp cận đồn địch.

 

Chiều dài chiến hào được vạch ra trên bản đồ ước tính khoảng 100 km. Trong thực tế chiến đấu sau đó, chiến hào còn tiếp tục kéo dài mãi ra. Quân ta đã đào một hào trục bao quanh toàn bộ các cứ điểm ở phân khu trung tâm của địch. Chiến hào này dùng để cơ động đội hình bộ đội lớn và các loại pháo, cối nên có đáy rộng 1,2m, cao 1,7m. Đường hào trục này đã cắt đứt sự liên lạc giữa phân khu Hồng Cúm với khu Mường Thanh. Bên cạnh đó là các đường hào của bộ binh chạy từ trong rừng ra, cắt ngang đường hào trục và đâm thẳng vào các căn cứ địch.

 

Binh lính Pháp đứng trước chiến thuật vây lấn bằng chiến hào của Việt Minh, tỏ ra rất sợ hãi bởi vì họ biết không còn đường chạy thoát. Ngày ngày, bộ đội Việt Minh từ các chiến hào dùng súng bắn tỉa khiến quân Pháp không dám đi lại trên mặt đất. Con đường xuống sông Nậm Rốn lấy nước cũng trở thành con đường chết chóc với mỗi thùng nước phải đổi bằng máu. Binh lính Pháp không có cách nào hơn là ngồi chờ bị tấn công.

 

Trong sách Võ Nguyên Giáp của Georges Boudarel, tác giả đã viết về sự nguy hiểm của chiến thuật đào hào vây lấn này: “Những đường hào tiến từ trên núi cao bao quanh xuống chia cắt lòng chảo Mường Thanh tạo nên những vùng song song đều đặn như những luống cày. Những hầm hào này tỏa ra rồi chụm lại tạo nên vòng vây nghiệt ngã Sở chỉ huy trung tâm chẳng khác nào chiếc kìm thứ 2 cơ động hơn ở thế tiến công đang bóp nghẹt chiếc thứ nhất… Lính Pháp ra sức chống trả nhưng vô ích. Họ bịt kín các đường hào ban ngày thì đêm bộ đội Việt Minh lại đào. Cứ thế trận địa chiến hào của bộ đội Việt Minh giống như cái dây thòng lọng mỗi ngày lại thít chặt vào cổ quân Pháp đồn trú ở Điện Biên Phủ”.

 

Trong lúc đó, tình hình lương thực ngày càng căng thẳng. Nguồn tiếp tế duy nhất của cứ điểm Điện Biên là bằng máy bay. Nhưng ngay từ đầu, đường băng đã nằm dưới sự khống chế của pháo binh ta. Trong khi đào hào vây lấn, quân ta đã đào một chiến hào cắt ngang qua sân bay Mường Thanh. Từ đây, đường băng hoàn toàn bị chấm dứt hoạt động. Việc tiếp tế hoàn toàn trông đợi vào việc thả dù. Nhưng với sự lợi hại của các trận địa chiến hào, phần lớn dù của Pháp thả xuống đều rơi vào tay quân ta.

 

Cuốn Nhật ký chiến sự của Jean Ponget ghi nhận: “ Ngày 1/4, hơn một nửa số hàng thả rơi ngoài vị trí. Ngày 6/4, hơn mười khẩu pháo không giật 75mm thả xuống Điện Biên, lính Pháp chỉ thu được hai khẩu, số còn lại coi như làm quà cho Việt Minh. Ngày 9/4, trong tổng số 195 tấn hàng tiếp tế đã thả chỉ thu được… 6 tấn”. Cứ như vậy, chiến hào càng vào sát bao nhiêu thì hiệu quả của việc thả dù tiếp tế càng thấp.

 

Đến lúc này, tướng Cogny – tư lệnh chiến trường Bắc Bộ đã phải thú nhận với một số nhà báo: “Điện Biên Phủ quả là một cái bẫy, nhưng không phải là cái bẫy với Việt Minh nữa, mà đã thành một cái bẫy đối với chúng ta”. Tuy nhiên, bây giờ, dù có mọc cánh, quân Pháp ở Điện Biên cũng không thể chạy thoát trước thế trận lợi hại của quân ta.

VŨ TIẾN ĐỨC (KIẾN THỨC)

 

Những nốt nhạc sinh ra từ chảo lửa Điện Biên

Trong chúng ta, mỗi dịp nhớ về chiến thắng Điện Biên Phủ, dường như không ai không vang lên trong mình những khúc hát: Hành quân xa, Trên đồi Him Lam, Chiến thắng Điện Biên… của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Nhưng để có những bài ca bất hủ này, người nhạc sĩ đã phải sống và sáng tác như thế nào?

Có một buổi trong chiến hào Him Lam, khi chính ủy Mạc Ninh, Trung đoàn trưởng Trần Tuyến, Chủ nhiệm chính trị Lê Nam… của Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 (đơn vị được giao nhiệm vụ đánh trận mở màn tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam) đang kiến thiết sở chỉ huy chiến đấu, có một người thấp đậm tay chống gậy, quần xắn tới đầu gối, lưng đeo chiếc đàn ghi ta bước vào: “Tôi, cán bộ văn công Tổng cục Chính trị được lệnh tới trung đoàn công tác”. Anh em chưa kịp tay bắt mặt mừng đón chào người nhạc sĩ nổi tiếng, Đỗ Nhuận liền đưa ngay yêu cầu: “Đề nghị ban chỉ huy cho 4 cái xẻng và cho chúng tôi lên vị trí xuất phát xung phong”.

Ngay lập tức, nhạc sĩ cùng tốp văn công của mình được các chiến sĩ đưa ngay xuống vị trí chiến đấu sát bên sông Nậm Rốm. Họ tự tay cầm xẻng đào 4 chiếc hầm đủ đứng, ngồi thoải mái để có thể đàn hát, sau đó lại về ngay đại đội 243 sống cùng các chiến sĩ tiểu đội mũi nhọn, như những chiến sĩ xung kích thực sự…

Chính ủy Mạc Ninh kể, có lần ông xuống đại đội 243, đơn vị chủ công của tiểu đoàn có nhiệm vụ đánh vào cứ điểm 1, thấy anh em đang quây quần xem văn công tổng cục biểu diển. Đỗ Nhuận chít khăn đầu rìu, mặt mũi vẽ râu vẽ ria, tay cầm mõ, quần ống thấp ống cao, trông rất hài hước, đang độc tấu một bài hề mồi. Nội dung bài tấu chế giễu H.Navarre hung hăng.Cứ mỗi lần anh tấu đến đoạn H.Navarre “bí” và giả làm bộ mặt ngây dại, hai bên ria nhảy lên, nhảy xuống, anh em lại giãy lên mà cười…

Sống hòa đồng cùng chiến sĩ ngay trong chiến hào, khi xung trận cầm súng, khi ngớt tiếng đạn bom lại đàn hát động viên tinh thần chiến sĩ, đó chính là cuộc đời của những người nghệ sĩ-chiến sĩ như Đỗ Nhuận.

Chính cuộc sống này đã mang đến cho người nghệ sĩ nhiều tư liệu, nhiều xúc cảm quý giá để làm nên tác phẩm. Trên chặng đường cùng anh em đi vào chiến dịch, ông đã từng sáng tác bài hát nổi tiếng Hành quân xa để khẳng định một chân lý Việt Nam khi sơn hà nguy biến : Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi… Và rồi sau những ngày sống trong chiến hào Him Lam, ngay sau khi quân ta tiêu diệt cứ điểm này, Đỗ Nhuận đã có ngay bài bát Trên đồi Him Lam nóng bỏng mùi thuốc súng viết trong chiến hào…

Chuyện kể rằng: Khi chuẩn bị nổ súng tiến công, Đỗ Nhuận cùng nhóm nhạc sĩ đứng trên bờ chiến hào, vừa đàn vừa hát cổ vũ chiến sĩ ở dưới. Trong đoàn quân, có một chiến sĩ nói với ông: “Cố gắng sáng tác nhiều nhé. Chúng mình sẽ có quà tặng văn công”. Người chiến sĩ nói câu ấy không bao giờ trở lại nữa. Đó chính là anh hùng Phan Đình Giót, người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận Him Lam.

Ngay trong đêm ấy, với những xúc cảm dạt dào, giữa ngổn ngang xác xe pháo quân thù và trong mùi khói của đạn bom còn khét lẹt, người nhạc sĩ – chiến sĩ Đỗ Nhuận đã viết nên bài hát mộc mạc mà nổi tiếng Trên đồi Him Lam: “Hôm qua đánh trận Điện Biên chiến hào xuất kích đồi Him Lam ta tiến vào đột phá… đánh vào đi mở đường thắng lợi ba tháng đổ mồ hôi ta tới đây quyết diệt cho hết quân thù…”.

Bài hát hừng hực khí thế chiến đấu, sôi sục lòng căm thù giặc, nồng nàn tình yêu quê hương đất nước và tình đồng đội, nóng bỏng mùi thuốc súng chiến hào… Qua rất nhiều năm tháng, bài hát này cùng với Hành quân xaChiến thắng Điện Biên đã làm nên tên tuổi nhạc sĩ Đỗ Nhuận, và như những âm thanh của lịch sử luôn vang vọng, luôn làm ta sống lại những ngày tháng hào hùng, oanh liệt của một Điện Biên Phủ: “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”…

TRƯƠNG NGUYÊN VIỆT (SÀI GÒN GIẢI PHÓNG)

Nghệ thuật dùng ‘vũ khí động vật’ trong chiến tranh của người Việt Nam

Nhiều loài động vật khác nhau đã được ông cha ta huấn luyện để biến thành những vũ khí “không thể ngờ tới” trong chiến trận.

 

Đạo quân khuyển khiến giặc Minh hãi hùng

Do thông minh, nhanh nhẹn và giỏi luyện chó nên ngay từ khi nhỏ tuổi, danh tướng Nguyễn Xí (1396 – 1465) đã được lãnh tụ Lê Lợi giao cho chăm sóc một đàn chó săn gồm hơn 100 con. Bầy chó theo sự điều khiển của ông, tiến thoái răm rắp. Lê Lợi rất quý ông, cho là người có tài cầm quân nên đã để ông làm tướng trong đội quân khởi nghĩa.

 

Năm 1418, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính thức được bùng nổ. Lúc này chàng trai Nguyễn Xí mới 21 tuổi đã trở thành cánh tay chủ chốt của Lê Lợi.

 

Trải qua nhiều những năm tháng chinh chiến nơi rừng núi, đàn chó của Nguyễn Xí đã trở thành một đội quân đặc biệt, biết hành động theo hiệu lệnh kèn. Khi đánh trận, Nguyễn Xí điều khiển bầy chó lăn xả vào cắn xé làm quân giặc rất khiếp sợ.

 

Những lúc bị vây hãm, lương thảo cạn kiệt, ông còn lệnh cho đàn chó đi săn bắt chim thú về làm thức ăn cho nghĩa quân.

 

Tiến xa hơn, Nguyễn Xí còn cho đàn chó của mình thực hiện kế “dùng người rơm mượn tên” của Khổng Minh. Ông cho buộc vào cổ các chú chó những chiếc đạc ngựa, khi chó chạy sẽ phát ra tiếng kêu như tiếng đoàn kị mã. Đến đêm ông dẫn quân đến vây trại giặc rồi cho đánh trống reo hò ầm ĩ và xua chó chạy quanh trại. Giặc hốt hoảng tưởng quân ta đông nên không dám ra đánh mà dùng cung nỏ bắn ra như mưa. Trong một đêm, Nguyễn Xí nhiều lần quấy rối giặc như vậy, khiến chúng không thể ngủ được, trong khi nghĩa quân thu nhặt được hàng vạn mũi tên của địch.

 

Trong 10 năm kháng chiến, đàn chó của Nguyễn Xí đã có mặt trong nhiều trận đánh quan trọng như trận vây hãm thành Đông Quan, đánh thành Xương Giang, đánh tan 10 vạn quân Minh tăng viện năm 1427…

 

Biến trâu bò thành ngọn đuốc sống diệt giặc

 

Có nguồn gốc từ Trung Hoa, hỏa ngưu trận (trận bò lửa) là một trong những chiến thuật kỳ lạ nhất từng được con người sử dụng trong lịch sử quân sự. Trận đánh nổi tiếng nhất áp dụng chiến thuật này là trận đánh thành Tức Mạc giữa nước Tề và nước Yên ở Trung Hoa thời Chiến Quốc.

 

Chiến thuật hỏa ngưu trận đã nhanh chóng được người Việt tiếp thu vào binh pháp của mình. Sách Binh Thư Yếu Lược viết: “Dùng con trâu già bỏ đi, buộc dao sắc vào sừng, hai bên mình cặp tre sát vào chân cho không thể quay được, trên lưng đội một ống pháo sắt lớn chứa một đấu thuốc, thuốc để quanh co ở trong pháo; pháo chứa những thuốc liệt hỏa, thần sa, thần hỏa. Phàm khi quân giặc rất nhiều quân ta rất ít, dùng trâu ấy xông vào người ngựa gặp phải tức thì tan nát. Khi xông vào trận giặc thì lửa phát pháo nổ, thế như sấm động, ầm một tiếng không kịp bịt tai. Dù khó nhọc mấy ở trong mấy trùng vây của giặc cũng phá tan được”.

 

Đã có ít nhất một trận áp dụng hỏa ngưu trận được sử sách Việt Nam ghi nhận, đó là trận Nguyễn Hữu Cầu phá vòng vây của chúa Trịnh ở Đồ Sơn (Hải Phòng).

 

Nguyễn Hữu Cầu (?–1751) là người có tài cả văn lẫn võ, đã lấy vùng Đồ Sơn làm căn cứ tập hợp nông dân khởi nghĩa chống tập đoàn Lê – Trịnh từ năm 1741 – 1751. Nghĩa quân của ông có lúc đông tới hàng vạn người, chúa Trịnh nhiều lần cử quân đến đánh dẹp nhưng đều bị quân Nguyễn Hữu Cầu đánh cho tan tác.

 

Tuy vậy, cũng có những thời khắc quân Nguyễn Hữu Cầu rơi vào thế hiểm nghèo. Trong một trận đánh không cân sức, nghĩa quân đã bị bao vây bốn phía, gần như không thể thoát. Quân Trịnh tin chắc sẽ bắt được Nguyễn Hữu Cầu nên đã bắc loa dụ hàng.

 

Tình thế đã buộc Nguyễn Hữu Cầu dùng kế hỏa ngưu trận. Ông huy động toàn bộ số trâu trong vùng, cho buộc những mũi lao nhọn vào sừng và hai bên sườn từng con trâu, sau đó buộc giẻ tẩm nhựa thông vào đuôi trâu và châm lửa đốt đồng loạt.

 

Đàn trâu điên cuồng vì bỏng lao thẳng vào đội hình quân Trịnh, khiến đội quân này hoảng loạn. Nguyễn Hữu Cầu nhanh chóng tung quân chủ lực ra đánh khiến quân Trịnh đại bại…

 

Đội “thần binh” rắn độc của Thiên hộ Dương

 

Võ Duy Dương (1827-1866), còn gọi là Thiên hộ Dương (do giữ chức Thiên hộ), là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp (1862-1866) ở Đồng Tháp Mười. Cuộc khởi nghĩa của ông gắn liền với một giai loại ly kỳ về loài rắn.

 

Theo lời kể, lúc Thiên hộ Dương đặt bộ chỉ huy ở đồn Ổ Bịp trong Gò Tháp, ông đã phát hiện ra một hang rắn, miệng lớn bằng cái lu ở Động Cát. Ông liền ra lệnh cho Hộ vệ Tân, một ông thầy bắt rắn nổi tiếng đến xem xét.

 

Hộ vệ Tân trình lên Thiên hộ Dương rằng dưới hang có một con rắn chúa, trước kia lớn lắm, nay đã nhỏ lại còn bằng cây đũa ăn, dài trên một mét, ban đêm chỉ ló ra hứng sương, chứ không bao giờ bò ra khỏi hang. Rắn không cắn ai, nhưng ai làm hại nó, thì nó mới cắn, và khi đã bị cắn thì không thuốc nào trị được.

 

Thiên hộ Dương ra lệnh không được động phạm tới hang rắn, ai trái lệnh sẽ bị nghiêm trị. Sau đó ít lâu, vào một buổi chiều, đồn Doi bị giặc Pháp tấn công, quân ta chống trả quyết liệt, nhưng cuối cùng phải rút lui về Động Cát, rồi về đồn Ổ Bịp vì thế giặc quá mạnh.

 

Quân Pháp đuổi đến Động Cát thì trời tối đành hạ trại nghỉ ngơi ở đây, nhưng đến đêm thì chết hơn chục mạng không rõ lý do. Trong dân chúng có tin đồn Thiên hộ Dương dùng đạo quân rắn thần giết giặc, khiến quân Pháp hoang mang tột độ, đành rút khỏi các vị trí đã chiếm đóng.

 

Nhưng vài tháng sau chúng lại tấn công và dừng lại nghỉ đêm ở Động Cát như lần trước. Nửa đêm hôm ấy, có nhiều tên giặc đang ngủ bỗng la hét rồi ngã ra chết. Bọn còn lại không dám ngủ, thức canh suốt đêm. Tới sáng chúng tìm thấy hang rắn, liền cho đem dầu lửa đổ xuống đốt hang.

 

Trong khói lửa mịt mù, bỗng có tiếng ào ào nổi lên như giông gió. Từ bìa rừng một con rắn hổ mây khổng lồ lao về phía bọn giặc như một cơn bão. Quân Pháp hoảng hồn, từ lính đến chỉ huy vứt súng ống bỏ chạy tán loạn, lao vào lau sậy lẩn trốn.

 

Đúng vào lúc đó, quân của Thiên hộ Dương tấn công đồng loạt. Quân giặc không ý chí chiến đấu, bị giết và bắt sống gần hết. Những tên còn chạy thoát về đồn Doi đều bị dân chúng bắt nộp cho nghĩa quân.

 

Đội quân ong “vô địch” thời kỳ chống Pháp, Mỹ

 

Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc Pháp, Mỹ xâm lược, quân dân ta có rất nhiều cách đánh giặc sáng tạo, khiến kẻ thù không ngờ nổi. Trong đó không thể không kể đến chiến thuật đánh giặc bằng ong.

 

Ở Bến Tre, anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tư đã dùng 20 tổ ong vò vẽ đánh giặc hàng chục trận, diệt hàng chục tên trong nhiều năm.

 

Năm 1947, chiến sĩ du kích Thạch Minh ở Trà Vinh đã dùng ong vò vẽ đánh hai đại đội tiếp viện Pháp nhừ tử, góp phần giúp Tiểu đoàn 307 đánh thắng trận La Bang lịch sử.

 

Năm 1950, tại Cái Tàu (Cà Mau), một bác nông dân 60 tuổi đang giăng câu, bất ngờ phát hiện địch dùng rất nhiều xuồng, chở lính càn vào rừng U Minh Thượng. Bác liền chạy về nhà gánh 4 tổ ong vò vẽ nuôi sẵn trong rẫy nhanh chóng phục kích, đuổi một tiểu đoàn giặc Pháp, bảo vệ được binh công xưởng Nam Bộ.

 

Sang thời chống Mỹ, anh hùng liệt sĩ Tạ Văn Lước và anh hùng liệt sĩ Hồ Văn Mười ở Mỹ Tho đã kỳ công bắt hàng trăm tổ ong vò vẽ về thả nuôi trong vườn nhà để hỗ trợ đánh địch hàng trăm trận toàn thắng liên tục trong thời gian dài.

 

Không chỉ ở miền đồng bằng, chiến lược dùng ong đánh địch còn được áp dụng ở cao nguyên. Đó là câu chuyện của tiểu đội du kích 9 người do anh hùng Hồ Kan phụ trách ở Kon Tum, “chỉ huy” đội quân gồm 90 tổ ong lỗ cực độc chống lại các trận càn của Mỹ ngụy các năm 1965-1966.

 

Các trận chiến này vô cùng ác liệt nhưng không có tiếng súng, chỉ có tiếng chân chạy loạn xạ trong rừng rậm, tiếng quân địch nhào xuống suối, khóc than, tiếng kêu la ú ớ thảm thiết… Nhờ sự hỗ trợ của đội quân ong, trong gần hai năm ấy, đội du kích của Hồ Kan bẻ gãy hàng chục cuộc càn, diệt hàng trăm tên địch.

 

Theo KIẾN THỨC