Nếu thay tướng trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ có thể thắng được không?

Trân trọng giới thiệu với quý độc giả bài viết của blogger Thiếu Long Texas.

Cách đây mấy ngày mình đã viết entry Những chữ ‘nếu’ trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Entry này xin được bàn luận và nói thêm về vụ Robert E. Lee, Douglas MacArthur, là hai tướng tài giỏi trong lịch sử nước Mỹ, và nói thêm một cái “nếu” nữa ít nghe nói hơn: Nếu Mỹ thay Westmoreland, Abrams bằng các tướng khác thì có làm thay đổi kết quả Chiến tranh Việt Nam hay không?

Hồi đó lúc mình còn học ở Texas trong Câu lạc bộ cờ vua của trường có mấy thằng Mỹ cũng học môn American History (Lịch sử Hoa Kỳ), khi tán dóc thì họ cũng hay bàn về các đề tài chiến tranh, nhất là Thế chiến II và Chiến tranh Việt Nam.

Có mấy thằng bạn cho rằng Mỹ thua là vì các tướng dỏm. Westmoreland là đại tướng 4 sao tệ nhất, overate nhất (tức là không tài giỏi như thương hiệu, chức tước, uy tín ảo), còn Creighton Abrams chỉ là tầm thường không có gì đặc sắc. Nếu Robert E. Lee (danh tướng của phe Liên minh Miền Nam Hoa Kỳ trong Nội chiến Hoa Kỳ [American Civil War], hay còn gọi là Chiến tranh Giữa các Tiểu bang [War Between the States]) và Douglas MacArthur (danh tướng của Mỹ trong Thế chiến 2 và Chiến tranh Triều Tiên) mà cầm quân, làm tổng chỉ huy thay vì Westmoreland và Abrams thì Hoa Kỳ đã chiến thắng, quét sạch được Việt Cộng, đánh dẹp chiếm được các vùng tạm chiếm và miền Nam VN sẽ trở thành một Alaska, Hawaii mới của Mỹ.

Lúc đó mình chưa đủ trình tiếng Anh để tranh luận với tụi Mỹ về chuyện này. Vả lại thật ra vấn đề tướng Mỹ này mình cũng chưa bao giờ suy nghĩ tới, không có chuẩn bị lý lẽ hay kiến thức gì để thảo luận với bọn họ về chuyện này. Nên mình chỉ nói chung chung là lịch sử thì không thể nói “if”, “if” tào lao chi sự. Mình nói chừng nào có cỗ máy thời gian (time machine) hay thuốc trường sinh bất lão cho tướng Lee và tướng MacArthur thì hãy nói đến chuyện “nếu” thế này, “nếu” thế kia. Lee đã qua đời từ lâu, còn MacArthur đã từ lâu không còn được trọng dụng, không cầm quân chỉ huy nổi, về hưu, rồi già yếu bệnh tật và qua đời.

Nhưng về sau đọc này đọc kia đâu đó, tìm hiểu thêm đó đây, thì càng thấy lập luận của họ đã sai lại càng sai. Westmoreland và Abrams xuất thân từ gia đình quân ngũ thâm niên và là những tướng lĩnh rất có khả năng, rất chuyên nghiệp. Họ lập nhiều công lao trong Thế chiến 2. Nhờ các quân công, chiến tích và năng lực đó mà họ có chức vị cao nhất trong quân đội Hoa Kỳ. Trong quân đội Hoa Kỳ không phải dễ dàng mà lên làm được tướng 4 sao.

Trong Chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã quyết thắng cho bằng được với những cố gắng chiến tranh cao nhất, với những chiến lược, chiến thuật, công cụ, phương tiện chiến tranh tối tân hiện đại và tàn ác nhất. Do đó thật là vô lý nếu cho rằng Mỹ chọn những nhân tuyển không xứng đáng để làm tư lệnh tổng chỉ huy, điều hành chiến tranh Việt Nam.

Dù có chơi trò chơi “nếu” với tụi Mỹ đó thì VN vẫn có thể chấp cả Robert E. Lee Douglas MacArthur. Nếu hai danh tướng đó có cùng nhau chỉ huy, điều hành cuộc chiến thì kết quả cuộc chiến cũng sẽ không có gì thay đổi, cùng lắm sẽ đánh lâu hơn một chút, thế thì lính Mỹ cũng sẽ chết nhiều hơn một chút.

Bởi vì sao, các sở trường của Lee và MacArthur đều không có chỗ dùng, không có chỗ phát huy ở Việt Nam. Sở trường của Lee là phòng thủ, và còn giỏi chiêu “dương đông kích tây”, “tấn công” vây đánh điểm A để cứu điểm B, mà binh pháp Trung Hoa gọi là “vây Ngụy cứu Triệu”.

Sở trường của MacArthur là sử dụng kỳ binh, tức là dùng một lực lượng đặc biệt để tấn công bất ngờ trong một thời gian ngắn vào một “yếu huyệt” trọng yếu của đối phương, nhất là những mục tiêu mà ít người ngờ tới. Hành quân táo bạo, mạo hiểm, take risk, để giành thắng lợi chiến lược hoặc thắng lợi quyết định.

Ưu điểm của những tướng như MacArthur là nếu thắng thì sẽ thắng rất lớn. Nhưng do tính cách chơi liều của họ mà họ cũng thường sẽ phạm phải những sai lầm chiến lược. Khác với những “văn tướng”, “trí tướng” đặt sự từ tốn thận trọng bảo tồn thực lực lên trên hết như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những vị tướng hiếm hoi không mắc phải 1 lỗi chiến lược nào trong lịch sử quân sự thế giới.

Ở Điện Biên Phủ là lỗi chiến thuật nhưng Đại tướng đã kịp thời khắc phục nhanh khi thấy thực tế chiến trường không giống như các thảo luận ở Bộ Chính Trị. Còn Mậu Thân, thắng lợi lần 1 rất to lớn, còn việc hao binh tốn tướng trong lần 2 và 3 là không thuộc trách nhiệm của Đại tướng, vì ông không tán thành việc đánh tiếp lần 2 và 3, làm yếu đi nông thôn và vùng giải phóng.

Sau này nghiên cứu lại thì các chuyên gia quân sự Việt Nam và nước ngoài cũng công nhận là nếu chỉ đánh lần 1 rồi rút êm thì là 1 đại thắng, nhưng do ham đánh thêm cả lần 2 và 3 nên bị hao binh tổn tướng rất nặng nề, yếu tố bất ngờ không còn.

Sai lầm chiến thuật đó của ông Lê Duẩn và các lực lượng miền Nam (phái ủng hộ đánh tiếp lần 2 và 3, không theo ý kiến chỉ đạo ban đầu của Đại tướng và Bộ Chính Trị) càng cho thấy thiên tư quân sự, nhãn quan, tầm nhìn quân sự độc đáo của Đại tướng, ở miền Bắc xa xôi mà vẫn có cái nhìn thấu đáo, tường tận, minh mẫn, chính xác hơn các lực lượng tại chỗ. Đó là một trong những người hiếm hoi có thể “ngồi trong màn trướng quyết việc thắng bại ngoài ngàn dặm”.

Sở dĩ Đại tướng Võ Nguyên Giáp không bị sai lầm chiến lược nào trong suốt cuộc đời nam chinh bắc chiến và sự nghiệp quân sự oanh liệt của ông, một phần là vì trước khi đi vào quân sự chuyên nghiệp thì ông là một giáo viên dạy sử, là một nhà nghiên cứu lịch sử chuyên nghiệp.

Khi đã ở trong lĩnh vực sử học chuyên nghiệp thì không thể chỉ có nắm vững đại cương chung chung mà còn phải thấu hiểu, nắm vững các kiến thức chi tiết cụ thể, trong đó có phần lịch sử quân sự (quân sử), lịch sử chiến tranh (chiến sử).

Với trách nhiệm là một nhà nghiên cứu và thầy dạy sử chuyên nghiệp, cộng với sở thích và tính hiếu kỳ chung của thanh niên về đề tài quân sự, cộng với ý chí sôi sục nhiệt huyết cứu quốc khi đất nước đang bị thực dân cai trị, muốn khởi nghĩa đánh giặc cứu nước thì tất phải biết ít nhiều việc binh, nghiệp võ, cho nên người thanh niên Võ Nguyên Giáp đã tìm hiểu chuyên sâu về lịch sử, đặc biệt là quân sử, binh pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là 2 tên tuổi nổi tiếng nhất trong lịch sử cận đại/hiện đại Việt Nam. “Thời thế tạo anh hùng”, tình thế loạn lạc dưới ách ngoại xâm trong thời Pháp thuộc đã tạo ra 2 người anh hùng dân tộc. Và “anh hùng tạo thời thế”, 2 người anh hùng này đã lãnh đạo quân dân cả nước làm nên những chiến công khó tin, làm xoay chuyển thời cuộc không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới.

Khi nhắc đến tài năng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì người ta nghĩ ngay đến tài chính trị, thuật dùng người. Khi nhắc đến tài năng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì người ta nghĩ ngay đến tài thao lược, thuật dụng binh. Có lẽ do nhìn thấy thiên tư, năng khiếu bẩm sinh và kiến thức quân sự dồi dào đó mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã phong người tuổi trẻ anh hùng Võ Nguyên Giáp lên làm Đại tướng và tổng tư lệnh quân đội quốc gia.

Cho nên báo chí Mỹ nói Đại tướng không được đào tạo thì cũng không đúng. Tuy Đại tướng không được đào tạo bài bản chính quy trường lớp, nhưng chính lịch sử đánh giặc ngàn năm của cha ông đã đào tạo nên người danh tướng Võ Nguyên Giáp, một thiên tài quân sự. Nhiều tướng lĩnh xuất thân Học viện Quân sự West Point danh giá đã bị thua đau trước người danh tướng tự học này.

Trở lại với MacArthur, tài dùng kỳ binh của ông này có thể thấy được với chiến công lừng danh đánh úp Nhân Xuyên và chuyển bại thành thắng, lật ngược thế cờ Chiến tranh Triều Tiên, chặn đứng đà chiến thắng trông thấy của quân đội Kim Nhật Thành và còn thắng ngược.

Tuy nhiên sau đó, khi MacArthur phải đụng độ với danh tướng Trung Quốc Bành Đức Hoài, một tướng mưu lược nhưng vẫn thua xa Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thì MacArthur đã không thắng nổi và bị cầm chân. Bởi vì Bành Đức Hoài cũng thạo kỳ binh do từng thần tượng và nghiên cứu thiên tài quân sự Hàn Tín từ nhỏ, và còn học được đức tính trầm ổn, dùng binh cực kỳ thận trọng, biết sắp đặt tính kế các đường lùi, các nước cờ dự bị.

“Biết người biết ta, trăm trận không thua”, Bành Đức Hoài quá hiểu tính cách liều lĩnh của “đại mạo hiểm gia” MacArthur và rút kinh nghiệm “vết xe đổ” Kim Nhật Thành bị thua trước đó, nên đã đánh theo chiến lược mềm dẻo dằng dai và rất thận trọng, từ tốn, “dĩ nhu chế cương”, lấy nhiều vây ít. Và kết quả là MacArthur đã không làm gì được, ông này lại có khuyết điểm nữa là nôn nóng, nóng tính, kém kiên nhẫn, chỉ giỏi dùng kỳ binh và tốc chiến tốc thắng (thể hiện qua chiến công thần tốc đánh 1 lèo tới biên giới Trung Quốc, đuổi quân Bắc Triều Tiên sang biên giới TQ). Khi đụng phải “Thái Cực Quyền” của Bành Đức Hoài thì thuật kỳ binh và chiến lược tốc chiến của MacArthur lập tức trở nên như những quả đấm thôi sơn vào không khí và không còn chỗ sử dụng. Cho nên, ông ta ngày càng nóng tính, tuyên bố dọa sẽ dùng bom nguyên tử biến Trung Quốc đại lục và bán đảo Triều Tiên thành tro than, làm cho Nhà Trắng và Lầu Năm Góc mất mặt.

Ông này còn cãi nhau tay đôi với tổng thống trên phone. Đã không biết kiềm chế, làm xấu quốc thể Hoa Kỳ, ngu chính trị, kết quả chiến cuộc lại không khả quan, nên MacArthur bị triệu về và thay thế. Sau khi “thay tướng giữa trận” thì Mỹ – Liên Hiệp Quốc đã nhanh chóng chiếm lại được Bình Nhưỡng từ tay Trung Quốc, diễn biến chiến cuộc thuận lợi hơn cho Mỹ và đồng minh.

Như vậy cho thấy Lee và MacArthur tuy có tài giỏi nhưng cũng chẳng phải là thần thánh ba đầu sáu tay gì mà nói rằng nếu cầm quân ở VN thì sẽ thắng được VN. Sở trường phòng ngự dẻo dai chắc chắn kín kẽ như tường đồng vách sắt và kỹ thuật “tấn công để phòng ngự” của Lee và sở trường kỳ binh và tốc chiến tốc thắng của MacArthur không có chỗ dùng, không có chỗ phát huy trên chiến trường Việt Nam.

Các sở trường của 2 danh tướng này chỉ có thể dùng để chống trường binh, trường trận, các cuộc hành quân đường dài quy mô lớn của đại binh. Còn VN thì dùng đoản binh, đánh nhanh rút gọn, đánh rồi chạy, đánh rồi chạy, liên tục quấy rối giặc không ngừng. Khiến giặc phải điên đầu, khủng hoảng tinh thần, ăn không ngon ngủ không yên. Ban ngày đang ăn cũng sợ bị đánh, ban đêm nằm trằn trọc không ngủ được vì sợ bị đánh bất ngờ. Họ không biết sẽ bị đánh lúc nào.

Điều này làm cho họ bị rối loạn thần kinh, trầm cảm nghiêm trọng, chưa cần đánh nhiều mà họ đã tự diệt và suy sụp đến chết, chết dần chết mòn. Lính Mỹ chưa kịp bị quân Giải phóng bắn chết thì đã bắn nhau chết trước, sĩ quan bắn chết những người lính muốn bỏ trốn, lính bắn chết sĩ quan rồi đào ngũ. Họ coi VC như là một đội âm binh thần chết không biết lúc nào sẽ đi đến đòi mạng họ. Với tình hình như vậy thì làm sao chiến đấu gì nổi, tinh thần nào mà chiến đấu, cầm súng đã thấy nặng trĩu cầm không muốn nổi. Từ tướng đến quân chỉ thèm khát được giải thoát khỏi cái vũng lầy chiến tranh kinh khủng này và về nước càng sớm càng tốt. Và tình hình này càng như thế thì phong trào phản chiến chống Chiến tranh Việt Nam lại càng bùng cháy lan rộng dữ dội khắp nơi.

Tuy bị tổn thương nặng nề trước sự đánh phá của quân đội Mỹ, Việt Nam vẫn giáng trả vào quân xâm lược những thiệt hại, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn.”“Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”. Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự sát.

Điều trớ trêu là Mỹ “đầu tư” rất nhiều cho chiến tranh tâm lý ở Việt Nam, nhưng tâm lý của lính Mỹ mới là bị hại nhiều nhất. VN thì không tốn kém nhiều cho khoản này, chỉ cần có những hành động quấy rối quân sự không ngừng nghỉ và bà “Hannah Hà Nội” Trịnh Thị Ngọ nói cả ngày trên radio là cũng đủ cho tinh thần chiến đấu của binh lính Mỹ tiêu tùng. Nếu các cuộc quấy rối quân sự làm cho lính Mỹ lo sợ bất an, thì những cuộc nói chuyện trầm ấm của bà Ngọ đã cảm hóa, vận động được không ít lính Mỹ và khiến họ phải nhớ nhà.

Trong quân sử châu Á cũng có tiền lệ như vậy. Trong Chiến tranh Hán – Sở (Trung Quốc), “tiếng sáo Trương Lương” đã làm cho tàn binh của Hạng Vũ phải tan rã. Trong Chiến tranh Việt Nam, ý chí của binh lính Mỹ phải tan rã trước giọng nói ma lực của “Hannah Hanoi”.

Chiến tranh nhân dân Việt Nam và cách đánh du kích ở VN là những loại hình chiến tranh rất đặc biệt và thiên biến vạn hóa khó lường. Không có một cá nhân danh tướng xâm lược nào thắng được một dân tộc đoàn kết quyết chiến đánh giặc, cho dù đại nhân vật đó tài giỏi đến đâu.

Nguồn: blog Thiếu Long

Biệt đội ‘Thiên Nga’ và tội ác mang gương mặt mỹ nhân

(Nhân vật trong Chiến tranh Việt Nam) – Dưới sự huấn luyện của CIA, những người phụ nữ thôn quê, những thanh nữ bình thường, trở thành những con rắn độc để giết hại đồng bào của mình, phản bội Tổ quốc.

Lò luyện những “thiên nga” chân dài

Trước năm 1975, có một số cơ sở cách mạng và cán bộ nằm vùng của ta bị địch phát hiện bắt bớ, tù đày do bị chỉ điểm, chiêu hồi mà không xác định được đối tượng tình nghi.

Hoạt động này do một tổ chức mang tên biệt đội “Thiên Nga” thuộc Tư lệnh Cảnh sát đô thành Sài Gòn, được CIA Mỹ huấn luyện và đào tạo rất công phu sử dụng làm gián điệp, chỉ điểm trà trộn vào trong dân và vùng kháng chiến của ta để phát hiện tung tích cán bộ nằm vùng và đầu độc cán bộ.

Nguy hiểm nhất của đội quân này là chúng biến những người phụ nữ thôn quê, những thanh nữ bình thường chân yếu tay mềm, hiền lành chất phác, lam lũ thành những con rắn độc để giết hại đồng bào của mình, phản bội lại Tổ quốc Việt Nam.

Sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền Sài Gòn lập tức tăng cường các lực lượng cảnh sát, an ninh, quân cảnh để ngăn chặn sự xâm nhập vào đô thành miền Nam của các lực lượng tình báo, biệt động cách mạng.

Do đó, tháng 8/1968, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia (CSQG) Sài Gòn thành lập một tổ chức tình báo toàn là phụ nữ có tên là “Biệt đội tình báo Thiên Nga”, trực thuộc Khối Đặc biệt hoạt động độc lập tuổi từ 18 đến 35. Nhiệm vụ của Biệt đội Thiên Nga là sưu tầm tin tức, chỉ điểm các tổ chức Việt cộng, xâm nhập và phá vỡ các đường dây liên lạc, tình báo của Việt Cộng tại đô thành Sài Gòn và các địa phương.

Biệt đội Thiên Nga Thủ đô gồm 11 quận của đô thành, có văn phòng tại Bộ Chỉ huy CSQG Thủ đô và các quận. Ngoài ra, còn có Biệt đội Thiên Nga Vùng I, II, III, IV tại các tỉnh từ Quảng Trị đến Cà Mau.

Nguồn nhân viên của các đội Thiên Nga do địa phương tuyển mộ những cô gái xinh đẹp, có nhân thân liên quan đến Việt Nam Cộng hòa, kể cả cô nhi quả phụ được coi là đối tượng ưu tiên đặc biệt. Đây là đối tượng có sự tham gia tuyển chọn và đào tạo của cố vấn CIA Mỹ.

Sau khi được thành lập, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã bắt tay vào một kế hoạch huấn luyện các nữ nhân viên được tuyển lựa gồm đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần khác nhau trong xã hội: có thể là người bán rau, cá ở chợ, bán hàng rong, bán vé xe buýt, nhân viên bưu điện, điện lực, thư ký văn phòng, học sinh sinh viên, cô giáo và vũ nữ…

Các nữ nhân viên lần lượt được học qua các lớp tình báo căn bản (4 tuần), theo dõi (6 tuần), cán bộ điều khiển (8 tuần) và đặc biệt là khóa tác xạ tại Trường Tình báo Trung ương. Khóa sinh phải đủ điểm cho lớp trước mới được xét lên lớp kế tiếp. Trong thời gian thụ huấn, các khóa sinh ở nội trú và mang bí số riêng.

Công việc giảng dạy do các giảng viên trường tình báo phụ trách, còn giám thị của trường do các nhân viên Thiên Nga Trung ương đảm nhận. Các khóa sinh sau khi thụ huấn chuyên môn xong, trở về đơn vị tại các địa phương, nơi đã gửi đi học và bắt đầu nhận công tác do các ngành đặc biệt phân nhiệm trực thuộc phụ tá. Đặc biệt địa phương phải báo cáo thành quả công tác về Thiên Nga Trung ương.

Ở cấp Trung ương, ngoài các lớp kể trên, các nữ nhân viên Thiên Nga còn theo học các lớp kỹ thuật chuyên dụng như: nhiếp ảnh (chụp hình bí mật), kỹ năng giao tiếp, hóa trang, học lái xe gắn máy và xe hơi, một số được học thêm các lớp thẩm vấn.

Biệt đội trưởng, Phụ tá Biệt đội trưởng Thiên Nga Trung ương và các cán bộ điều khiển đều là các nữ sĩ quan Cảnh sát tốt nghiệp khóa I Học viện CSQG. Riêng Biệt đội trưởng và phụ tá đã tốt nghiệp thêm khóa Trưởng phòng Đặc biệt tại Trường Tình báo Trung ương vào các năm 1968-1969.

Ngoài các nữ sĩ quan và nhân viên cảnh sát chính thức, Biệt đội Thiên Nga còn sử dụng một số rất đông nữ hồi chánh viên, nữ can phạm chính trị, các công nhân hãng xưởng, nhân viên các cơ quan chính phủ (ngoài cơ quan Cảnh sát), các bạn hàng chợ, các sinh viên trường trung học và đại học, thành phần bất hảo… để làm mật báo viên cho Biệt đội. Số cộng tác viên nhiều gấp nhiều lần số nhân viên chính thức.

Nhiệm vụ đặc biệt của Biệt đội Thiên Nga là nỗ lực tìm đầu mối, lập kế hoạch công tác, tìm cách xâm nhập, len lỏi vào các hội, đoàn phụ nữ Việt Nam, hội đoàn bạn hàng các chợ, Hội Phụ nữ đòi quyền sống, các lực lượng đấu tranh thuộc thành phần thứ ba, các thành phần tôn giáo khuynh tả, các tổ chức sinh viên học sinh đấu tranh để kịp thời phát hiện người cầm đầu các tổ chức đó…

Chân dung một chỉ huy biệt đội Thiên Nga

Theo hồ sơ, trùm biệt đội Thiên Nga mang hàm thiếu tá, tên Nguyễn Thanh Thủy sinh trưởng tại Mỹ Tho (Tiền Giang) trong một gia đình nhà giáo, thuở nhỏ học Trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.

Xuất thân trong gia đình không có bất kỳ ai tham gia quân đội hay lực lượng cảnh sát, thế nhưng hình ảnh nữ y tá duy nhất Genevieve de Galard, người Pháp, “còn trẻ măng, chưa có gia đình” tham gia trong cuộc chiến Điện Biên Phủ, được báo chí loan tải, đã đi vào tiềm thức của cô bé Nguyễn Thanh Thủy, khi ấy mới 11 tuổi. Học xong bậc trung học, Thanh Thủy thi vào Đại học Y khoa Sài Gòn, nhưng đang học dở dang thì xin nghỉ vì lý do sức khỏe.

Năm 1965, cô ả thi tiếp vào Trường Chính trị Kinh doanh Đà Lạt, học tới khi sắp sửa tốt nghiệp thì hay tin bên Cảnh sát tuyển “sinh viên sĩ quan”, nên ghi tên dự thi, lúc đó 21 tuổi. Bỏ ngang chuyện học ở Đà Lạt, đầu năm 1966 Nguyễn Thanh Thủy vào Sài Gòn khởi đầu chương trình học sĩ quan cảnh sát.

Sau một năm huấn luyện, nhà trường muốn chọn ra 5 trong số 18 cô gái được tuyển vào chương trình “biên tập viên cảnh sát” (tức những người phải có bằng đại học hoặc tú tài 2 trở lên), để vào “khối đặc biệt”.

Tuy nhiên, không một cô nào muốn mình là người được chọn, ngay cả Thanh Thủy. Do đó, tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng giám đốc CSQG khi đó, ra lệnh cả 18 cô biên tập viên mới ra trường đều phải về khối Đặc biệt thuộc Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo.

Sau một khóa huấn luyện đặc biệt tại Malaysia trở về, “Biệt đội Thiên Nga” được thành lập vào tháng 8/1968, từ một số người trong số 18 cô gái nói trên. Nguyễn Thanh Thủy chính là một trong những “Thiên Nga” đầu tiên hăng hái nhất. Năm 1969, sĩ quan cảnh sát Nguyễn Thanh Thủy bắt đầu giữ chức vụ đội trưởng đội nữ tình báo Thiên Nga cho đến ngày bị bắt vào tháng 5/1975.

Cũng cần nói thêm, trong ngành CSQG Sài Gòn trước đây, trước khi thành lập Học viện CSQG hầu như không có nữ sĩ quan, ngoại trừ những nữ nhân viên hành chánh biệt phái. Khóa 1 Học viện CSQG là khóa đầu tiên và duy nhất đào tạo nữ sĩ quan cho ngành cảnh sát.

Mặc dù sau này ngành cảnh sát có tuyển dụng thêm một số nữ sĩ quan đồng hóa nhưng họ chỉ phải trải qua một thời gian huấn luyện ngắn hạn chứ không phải chịu một thời gian huấn luyện (và huấn nhục) dài 9 tháng (cho cả nam lẫn nữ) như Khóa 1. Nguyễn Thanh Thủy đã cùng gần 50 cô gái khác tuyển tình nguyện vào học nội trú trong Học viện CSQG.

Biệt đội Thiên Nga gồm những cô gái chân dài, được tuyển mộ làm cảm tình viên, mật báo viên, hoạt động khắp lãnh thổ miền Nam từ Quảng Trị đến Cà Mau, từ thành thị đến những vùng nông thôn xa xôi tuổi từ 20 đến dưới 40, hoạt động thâm nhập vào các tổ chức của hạ tầng cơ sở cách mạng.

Biệt đội Thiên Nga trong thời gian này đã rêu rao thành tích cấy người được vào trong thành phần thứ ba, hoạt động trong tổ chức Phụ nữ đòi quyền sống của bà luật sư Ngô Bá Thành.

Tất nhiên đây là thành tích rêu rao từ một phía, vì nếu Thiên Nga tài giỏi như vậy hẳn khó có những nhà tình báo, biệt động thành lỗi lạc của Cách mạng hoạt động trong các cơ quan đầu não Sài Gòn như Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo, Tám Thảo… và ai cũng biết câu chuyện về ông Huỳnh Văn Thắng (Năm Thắng), quê ở xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.

Đầu năm 1970, trong một lần Năm Thắng chăm sóc sức khỏe cho ông Ba Hội – Trưởng Ty Công an Bến Tre, đột nhiên hỏi anh: “Tao thấy mày trắng trẻo, xinh xắn như… con gái. Hay là mày giả gái vô làm trong đội Thiên Nga đi”.

Năm Thắng kể lại: “Cấp trên giao cho tui trong vòng 6 tháng phải tìm cách lọt được vào đội Thiên Nga, vì thế tui phải về nhà để má tui dạy làm… con gái”. Những ngày sau đó, Năm Thắng bắt đầu tập chuyển đổi “giới tính” với việc làm quen giày cao gót, áo ngực cũng như để tóc dài, gội đầu bồ kết. Nhưng điều đó chưa khó bằng cách tập đi lại, nói năng, điệu bộ…

Mấy tháng trời tập luyện, cuối cùng tại địa bàn Mỏ Cày đã xuất hiện cô gái Năm Thanh duyên dáng chuyên bán hàng rong. Câu chuyện giả gái của Năm Thắng (mật danh F5) là một cú tát cực mạnh vào bộ máy tình báo ngụy mang tên Thiên Nga, chúng không bao giờ ngờ được rằng, trong hàng ngũ Thiên Nga của chúng lại có “Thiên Nga” Việt cộng trà trộn vào, mà lại là một “đực rựa” chính gốc hoạt động cho đến khi còn một tháng là giải phóng, tổ chức cho phép rút ra căn cứ an toàn vì con trai Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) quá si tình Năm Thanh đòi phải cưới gấp.

Tháng 5/1975, thành phố Sài Gòn náo nức tưng bừng cờ hoa mừng giải phóng, hòa bình thì cũng là lúc những kẻ phía bên kia như bầy Thiên Nga đang sống trong những ngày tháng đầy hoang mang, lo sợ. Lúc này, chồng trùm biệt đội Thanh Thủy là đại úy Lê Thành Long, sĩ quan Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt đã ra trình diện chính quyền quân quản và thi hành cải tạo.

Hồi ức về bản thân khi đã được định cư tại Hoa Kỳ, cựu trùm biệt đội Thanh Thủy chua chát kể lại rằng: “Không ai trong gia đình, kể cả chồng biết được tôi là một “Thiên Nga” và là chỉ huy. Người cha già là một thầy giáo dạy học, chỉ biết con gái là một thiếu tá cảnh sát.

Chồng Thanh Thủy cũng chỉ biết vợ mình làm ở “khối đặc biệt” nhưng không biết công việc cụ thể của vợ là gì. Gia đình chồng chỉ biết, họ có con dâu là một sĩ quan cảnh sát, dạy học ở Trường trung học Cảnh sát Trung Thu. Một con người luôn phải sống trong sự khép kín, không bao giờ được nói thật và không bao giờ có thể tìm được sự chia sẻ, đồng cảm.

Những đòn “oan ức” mà nhiều Thiên Nga khi đã về già kể lại đều rất tức tưởi, xót xa hệt như nhau. “Thiên Nga” Hà Thị Đông Nga, cựu trung úy cảnh sát, xướng ngôn viên truyền thanh truyền hình Bộ Tư lệnh Cảnh sát Sài Gòn kể: “Những Thiên Nga hầu hết đều ở tuổi 17 – 20, ai cũng có những tình cảm riêng. Có điều tình cảm riêng đó đôi khi gãy đổ rất oan ức. Nhẹ nhàng thì một buổi chiều mình hẹn người yêu thì công tác tới, mà nghề này công việc bất kể giờ giấc. Có thể là 11, 12h đêm có thể là 1, 2h sáng. Lấy lý do gì biện minh cho hành động của mình đây?”.

Nguyễn Thanh Thủy tập trung cải tạo một thời gian tại các trại Long Thành, Z30D đó cũng là thời gian hai đứa con nhỏ khuyết tật lớn lên trong sự chăm sóc của ngoại, sau đó là của cha, khi ông này trở về từ trại cải tạo vào tháng 10/1981.

Ngày trùm biệt đội Thiên Nga được trả tự do đã mày mò về góc đường Hai Bà Trưng – Phan Đình Phùng bán cơm tấm, nước ngọt kiếm sống qua ngày cho đến lúc được xuất cảnh theo diện H.O vào tháng 2/1992 và định cư tại quận Cam, California. Tại Mỹ vào năm 2002, con gái đầu lòng của hai vợ chồng này đã qua đời đột ngột và để lại một đứa cháu mắc bệnh bẩm sinh.

Chiến tranh đã qua đi. Quá khứ dần khép lại. Nhưng câu chuyện về thân phận những người đã dự phần trong những biến động lịch sử, nhất là những người làm cho Biệt đội Thiên Nga, hiện thân của những con rắn độc hại người không gớm tay.

Họ đã phải trả giá khi lịch sử sang trang nhưng vẫn còn đó những bài học về sự cảnh giác với kẻ thù khi mà còn không ít những con rắn độc đội lốt Thiên Nga còn sống và đang tồn tại quanh ta

Theo An ninh thế giới

‘Chụp ảnh người hùng của chiến tranh Việt Nam’

Catherine Karnow, phóng viên phương Tây duy nhất được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý cho phỏng vấn riêng và theo ông tới Điện Biên Phủ năm 1994, có những kỷ niệm đặc biệt về Tướng Giáp.

Karnow kể về lần gặp gỡ Tướng Giáp trên báo Huffington Post của Mỹ năm ngoái, trong bài viết có tiêu đề “Chụp ảnh người hùng chiến tranh của Việt Nam”. Sau đây là nội dung của bài viết.

“Tướng Giáp là người chỉ huy trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu vào tháng 5/1954, sự kiện giúp Việt Nam giành được độc lập từ tay của thực dân Pháp. Ông cũng là người tham gia cuộc chiến tranh chống Mỹ với thắng lợi hoàn toàn vào tháng 4/1975. Người Pháp gọi ông là “ngọn núi lửa phủ tuyết” vì mái đầu bạc và sự mạnh mẽ của ông.

Năm 1994, tôi là phóng viên phương Tây duy nhất được Tướng Giáp đồng ý cho theo ông đến Điện Biên. Tôi đã tới nhà của ông từ vài ngày trước đó, chụp ảnh và cùng dùng bữa tối với gia đình ông.

Các phóng viên và nhiếp ảnh gia vốn đã tề tựu ở Hà Nội suốt nhiều ngày liền. Họ băn khoăn liệu Tướng Giáp có tới Điện Biên Phủ để kỷ niệm 40 năm chiến thắng lẫy lừng này hay không. Nhưng chỉ có tôi là người duy nhất được ông mời đi cùng, mà lại đi trước ngày kỷ niệm 7/5.

Nhưng hãy để tôi “lạc đề” một chút để giải thích về việc tôi đã có mối quan hệ riêng với nhân vật lịch sử này như thế nào. Cha tôi, Stanley Karnow, nhà báo kiêm sử gia về chiến tranh Việt Nam, đã phỏng vấn Tướng Giáp cho tờ New York Times vào năm 1990. Vài tháng sau, tôi tới Việt Nam và gặp Tướng Giáp để chụp hình ông cùng gia đình. Một mối quan hệ đã được xây dựng và kéo dài tới tận bây giờ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được các phóng viên phương tây mệnh danh là “ngọn núi lửa phủ tuyết”. Ảnh: Catherine Karnow

Ngày 1/5/1994, tôi khá lo lắng và hồi hộp trên chuyến bay từ Hà Nội tới Điện Biên Phủ. Lần này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ thăm chiến trường và nghĩa trang liệt sĩ, ông còn quay lại căn cứ Mường Phăng lần đầu tiên sau 40 năm. Đó là nơi ông đã trú ẩn trong những tháng vạch ra chiến dịch, để rồi từ đây đưa ra chiến lược thiên tài tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chiến lược thiên tài đó là gì? Cách thức của Đại tướng về cơ bản là sử dụng sức người để kéo những khẩu pháo nặng lên những con đốc đứng rồi nã xuống các đồn bốt của Pháp ở dưới. Trận địa pháo này rất có uy lực. Người Pháp bị áp đảo đến nỗi sĩ quan pháo binh của họ đã tự sát trong chiến hào.

Lả đi vì đói khi chờ trực thăng của Đại tướng

Khi chiếc máy bay thương mại cỡ lớn hạ cánh, tôi bị một số người đưa đi vì họ không hiểu vai trò đặc biệt của tôi. Trong một phút chốc, tôi bị tách khỏi Tướng Giáp mà không biết có thể gặp lại như thế nào. Tôi cũng không rõ ông được bố trí nghỉ lại ở nơi đâu.

Bỏ lại hành lý ở một khách sạn nhỏ, tôi yêu cầu họ đưa tôi đến gặp Đại tướng. Nhưng chính họ cũng không biết nên đưa tôi tới đâu. Đột nhiên, tôi nhìn thấy một nhà khách lớn trên một đỉnh đồi. Trực giác mách bảo tôi rằng đó chính là nơi Tướng Giáp đang nghỉ. Vì vậy, tôi yêu cầu lái xe dừng lại.

Sau đó, tôi nhìn thấy người trợ lý của Đại tướng đang ngồi nghỉ ở hiên nhà. Chúng tôi đã biết nhau và ông ấy không ngạc nhiên khi thấy tôi. Sau đó, tôi được biết rằng chúng tôi sẽ đến thăm chiến trường năm xưa vào ngày hôm sau.

Tướng Giáp sẽ di chuyển bằng trực thăng, còn tôi đi bằng xe jeep. Tôi được thông báo là sẽ tới nơi vào đầu buổi chiều. Đại tướng cũng sẽ tới trong khoảng thời gian này.

Hàng trăm người dân đã tụ tập ở nơi là trận địa năm xưa để chờ Tướng Giáp đi trực thăng đến. Đoán rằng ông sẽ tới trong chốc lát nữa, tôi kiểm tra lại để chắc rằng máy ảnh đã lắp phim và tự kiếm một vị trí tốt để bấm máy. Nhiều phút trôi qua. Thế rồi một giờ và một giờ nữa qua đi. Tôi không có gì mang theo để ăn, mà chỉ có một chai soda cam để uống.

Khi đó, trời rất nóng và nắng gắt. Nếu tôi chạy ra chỗ rừng cây để trốn ánh nắng mặt trời, tôi sẽ bỏ lỡ cơ hội bấm máy khi Đại tướng đến. Ngớ ngẩn hơn là tôi lại không mang đủ phim, nên tôi thậm chí không thể giết thời gian nhiều bằng cách chụp ảnh những người dân bản xứ. Điều đó thật tệ đối với tôi, vì khi đó họ trông rất thú vị. Nhiều người trong số họ là người Thái Đen, một dân tộc thiểu số ở vùng cao. Nhiều trẻ em còn mặc đồng phục, quàng khăn đỏ và cầm những biểu ngữ chào mừng.

Tôi bắt đầu cảm thấy lả đi vì đói và kiệt sức.

Mọi người bắt đầu chạy về phía trực thăng khi nó đang hạ cánh. Ảnh: Catherine Karnow.

Cuối cùng, tôi nghe thấy tiếng động trên bầu trời và nhìn thấy chiếc trực thăng đang tiến lại gần. Người dân chạy về phía trước trực thăng sau khi nó đáp xuống. Đại tướng bước ra và vẫy tay chào đám đông. Chúng tôi bắt đầu đi bộ lên núi để thăm nơi trú ẩn bí mật trong rừng.

Chúng tôi bước trên những tấm ván gỗ hẹp trên các con suối và trèo qua nhiều thân cây đổ. Đã 83 tuổi, Tướng Giáp vẫn thể hiện ông có sức khỏe rất tốt.

Khi chúng tôi tới nơi mà Đại tướng từng sống suốt nhiều tháng liền để chỉ huy trận đánh cuối cùng, người dân chào ông với sự tôn kính và niềm vui lớn lao. Ông đã không gặp lại một vài người trong số họ suốt 40 năm.

Chúng tôi bước vào căn lán nhỏ, vốn chính là nơi mà Tướng Giáp đã vạch ra chiến lược cho trận Điện Biên Phủ. Một tấm bản đồ, mô phỏng lại chính bản đồ mà ông và các chỉ huy khác đã sử dụng 40 năm trước, được treo trên tường. Đại tướng ôn lại những kỷ niệm về những ngày ông ở lán này. Tướng Giáp nói: “Điều duy nhất tôi cảm thấy tiếc là những người chỉ huy đã cùng có mặt với tôi khi đó nay đã không còn nữa và không thể có mặt ở đây hôm nay”.

Với tôi, việc ở trong căn lán nhỏ giữa núi rừng miền bắc của Việt Nam và chứng kiến một huyền thoại sống kể về những khoảnh khắc riêng trong lịch sử quả là một điều trọng đại”.

Theo Nguyễn Tâm (Huffington Post / VNExpress)

Tướng Giáp – ‘Ngọn núi lửa phủ tuyết’

“Bậc thầy quân sự Việt Nam”, “ngọn núi lửa phủ tuyết”, “vị tướng huyền thoại” là cách mà truyền thông thế giới tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đưa tin ông từ trần.

Hàng loạt hãng thông tấn và báo chí lớn của thế giới đã đưa tin Tướng Giáp từ trần, trong đó nhiều báo có bài viết dài nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp “vị tướng huyền thoại của Việt Nam”.

“Họ Võ nghĩa là ‘võ trang’ và tên Giáp nghĩa là ‘chiếc áo giáp’, nó phù hợp với một người đàn ông đã giúp đánh bại những cường quốc quân sự lớn”, hãng truyền thông BBC tiếng Anh mở đầu bài viết về sự nghiệp lừng lẫy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

“Là một người Cộng sản tận tụy, Võ Nguyên Giáp chưa bao giờ được huấn luyện quân sự chính thức nhưng lại có được tiếng tăm với tư cách một chiến lược gia tài ba, người kiến tạo nên những chiến thắng chống lại các lực lượng được trang bị tốt hơn nhiều về mặt kỹ thuật”, BBC đánh giá.

Hãng tin khẳng định với việc đánh thắng quân Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành vị chỉ huy quân đội đầu tiên ở châu Á đánh bại một cường quốc phương Tây.

Ông cũng là người giám sát cuộc tổng tấn công nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968 chống lại lực lượng Mỹ, và thường được coi là một trong những nhân tố dẫn tới sự rút lui của Mỹ khỏi Việt Nam.

vo-nguyen-giap-karnow

Tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Catherine Karnow.

Loạt báo lớn của Pháp như Le Monde, Le Parisien, Libération, Le Figaro cũng đưa tin Tướng Giáp qua đời, gọi ông là “Napoleon của Việt Nam”, “Anh hùng Điện Biên Phủ” hay “thiên tài quân sự”.

Báo Le Monde cho rằng, chính nhờ có ông, Việt Nam đã có nhiều lần áp dụng chính sách khi mềm dẻo, khi cứng rắn hợp lý, trong cuộc chiến giành độc lập của dân tộc.

Truyền thông Mỹ như CNN, Wall Street Journal, NY Times cũng đăng nhiều bài viết dài về cuộc đời và sự nghiệp quân sự của vị đại tướng Việt Nam, cũng là cách thể hiện tình cảm và sự đánh giá cao đối thủ một thời.

NY Times có bài viết mang tựa đề “Tướng Võ Nguyên Giáp, người đánh đuổi quân Mỹ khỏi Việt Nam, từ trần”, với nội dung hồi tưởng lại lý thuyết tác chiến và phong cách chỉ huy quân sự của Tướng Giáp. Theo báo này, nhiều người Mỹ đánh giá Võ Nguyên Giáp ngang hàng với những thiên tài quân sự thế giới. Tướng Giáp làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy toàn cầu, và từ đó trở thành nhân vật quân sự Việt nhận được quan tâm đặc biệt của phương Tây.

Cũng theo NY Times, đại tướng cũng có những bình luận rất tích cực về Mỹ sau khi Việt Nam-Mỹ bình thường hóa quan hệ năm 1995. Thậm chí khi nói về nền quân sự Mỹ, ông Giáp từng bày tỏ “nếu được chỉ huy thích đáng, binh sĩ Mỹ cũng đánh trận rất xuất sắc”.

Ông từng ba lần là nhân vật chính của tạp chí TIME<. Năm 1972, khi Tướng Giáp 60 tuổi, TIME dẫn lời một học giả người Pháp gọi vị tướng là “ngọn núi lửa phủ đầy tuyết”, để mô tả trái tim đầy nhiệt huyết bên trong phong thái bình tĩnh kiên cường của ông.

Theo Trọng Giáp – Vũ Hà (VNE)

Nhà văn Mỹ và những bản dịch về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Bà Lady Borton là người dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu về hai nhân vật lịch sử, đó là Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh Mỹ Lady Borton là một người gắn bó với Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1969, bà là nhà văn Mỹ duy nhất có mặt ở cả hai miền Nam – Bắc thời chiến tranh.

Năm 2004, bà hoàn tất bản dịch tiếng Anh cuốn hồi ức “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp”. Năm 2008, bà dịch xong cuốn “Võ Nguyên Giáp thời trẻ” của Trung tướng Phạm Hồng Cư và hiện tại, bà vừa dịch xong cuốn “Từ nhân dân mà ra” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trò chuyện cùng phóng viên VOV, bà Lady nói rằng, các bạn thật tự hào vì có một vị tướng huyền thoại như Tướng Giáp.

Hơn 20 năm có mặt thường xuyên ở Việt Nam với rất nhiều công việc như viết báo, viết sách, dịch giả, làm từ thiện, bà Lady không có mong muốn gì hơn là giúp thế giới hiểu rõ về lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam.

Trong hành trình thiện tâm ấy, bà Lady dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu về hai nhân vật lịch sử mà tiếng tăm từ lâu đã vượt ra khỏi biên giới Viêt Nam, đó là Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét: “Từ nhân dân mà ra, những năm tháng không thể nào quên, chiến đấu giữa vòng vây, Điểm hẹn Điện Biên Phủ… cho đến Tổng hành dinh trong mùa xuân Đại thắng là gần trọn vẹn cả đời ông…. cộng với những tác phẩm mang tính tổng kết về Chiến thắng Điện Biên Phủ và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tác giả kiệt xuất đã để lại một di sản thật đồ sộ về TK 20 hào hùng và đầy thử thách. (trích cuốn sách ảnh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, theo bà, người nước ngoài rất thích thú vì ông đã sống hơn 100 tuổi. Sách bà dịch đến đâu, bán chạy đến đó. Về bản dịch cuốn hồi ức “Điện Biên Phủ- điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bà nói: “Tôi mất rất nhiều năm để hoàn thiện cuốn sách này. Lịch sử của các bạn có một bề dày truyền thống, để hiểu được nó, tôi phải đọc và nghiên cứu rất kỹ. Tôi khâm phục tinh thần, ý chí cũng như sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Khi đọc cuốn sách đó và dịch nó ra tiếng Anh, tôi hiểu cặn kẽ hơn về nguyên nhân dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Nó cũng khiến tôi hiểu được rằng vì sao người Mỹ không bao giờ thành công trong cuộc chiến tại Việt Nam”.

Còn khi cuốn sách “Võ Nguyên Giáp thời trẻ” của Trung tướng Phạm Hồng Cư xuất bản năm 2004, bà nói “dù chỉ hơn 100 trang nhưng là người trong nghề nên biết ngay đây là cuốn sách rất đặc biệt, cụ thể và tỉ mỉ. Người viết ra nó lại là người rất thân thiết và gắn bó với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và gia đình ông”.Điều bà thú vị nhất khi dịch cuốn sách này là muốn trả lời cho bạn đọc thế giới câu hỏi: Vì sao một người từ quê nghèo Quảng Bình, không có dịp được đào tạo trong một trường quân đội chính thống lại trở thành Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, lại lãnh đạo quân đội chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Bà nói: “Điều đó có vẻ lạ nhưng cũng thật dễ hiểu vì Tướng Giáp là một người rất am hiểu về các vấn đề kinh tế, chính trị trên thế giới. Ông đã đọc rất nhiều lịch sử các nước thuộc địa Đông Dương và thế giới, nhất là lịch sử Pháp, nhân vật lịch sử Napoleon. Ông Giáp cũng có một quyển sách giới thiệu tất cả các tướng của Napoleon. Và có lẽ người Pháp lúc đó không ngờ một người ở nước thuộc địa lại có thể hiểu về nước Pháp như thế. Ông ấy hiểu người Pháp, lịch sử, tâm lý, cách quản lý, tổ chức của người Pháp rất sâu sắc. Nên chiến thắng của Việt Nam là chiến thắng của trí tuệ và toàn dân”.

Nghiên cứu về thời trai trẻ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như trận chiến Điện Biên Phủ, bà Lady có một kết luận: “Vị Đại tướng của Việt Nam là một con người từ nhân dân mà ra. Ông ấy luôn suy nghĩ vì nhân dân với chân lý: có dân là có tất cả. Những chiến công lịch sử gắn liền với tên tuổi của ông ấy không thể có được nếu không có nhân dân, những đồng bào, đồng đội của ông”. “Từ nhân dân mà ra” cũng là tựa đề cuốn sách của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa được bà Lady Borton hoàn thành bản dịch

Trả lời câu hỏi của phóng viên VOV rằng: “Từng tiếp xúc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, dịch các cuốn sách của ông, vậy bà đã khi nào đến nhà hoặc dự lễ sinh nhật của Đại tướng hay chưa?”, bà Lady Borton hào hứng nói: “Tất nhiên là có rồi. Tôi đã từng đến nhà Đại tướng vài lần để lấy thêm tư liệu hoàn thiện các bản dịch của mình. Tôi cũng có mặt trong đoàn nhà báo đến chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp sinh nhật của ông. Từ sáng sớm đến chiều, có rất nhiều đoàn đến chúc mừng, từ đoàn Cao Bằng, Thái Nguyên đến những phái đoàn nước ngoài. Ông giỏi lắm, nói được cả tiếng Tày, tiếng Mông, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga…Đến 18h, tôi mệt lắm dù tôi chỉ ngồi hoặc đứng để nói chuyện hay quan sát thôi. Còn ông Giáp thì ai vào cũng nói chuyện cũng bắt tay,… Ông ấy giỏi quá!…”.

Năm 2011, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi, bà Lady đã có mặt ở nhiều sự kiện mừng sinh nhật ông. Vẫn chiếc áo hoa cũ, khoắc thêm một chiếc khăn lụa, người phụ nữ Mỹ đã ở cái tuổi 70 này luôn nói đi nói lại một câu rằng: “Mong chi Đại tướng sống lâu hơn nữa”./.

Hương Giang (VOV)

10 đối thủ của Tướng Giáp mắc chung sai lầm gì?

Có một điều thú vị ít biết là cả 10 tướng Pháp và Mỹ bị Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh bại trong chiến tranh vì cùng mắc sai lầm giống nhau.

Không hình dung được mặt trận

Điều dễ nhận thấy trong cả 2 cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc ta là kẻ thù luôn luôn tìm mọi cách xây dựng hệ thống chính quyền tay sai để kìm kẹp nhân dân về chính trị. Đồng thời với đó là cho xây dựng các hệ thống đồn bốt để kiểm soát giao thông nhằm khu biệt khu vực chiến trường với hậu phương. Từ phòng tuyến De Latte de Tassigny của Pháp đến hàng rào điện tử McNamara của Mỹ đều nhằm thực hiện một việc là ngăn cách hậu phương với mặt trận một cách rõ rệt.

Tướng 4 sao Westmoreland – một trong những chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam. Ảnh: Internet.

Tuy nhiên, đây lại chính là chỗ thể hiện sự không hiểu biết về cuộc chiến tranh ở Việt Nam của các tướng lĩnh từ Pháp đến Mỹ. Trong cuốn sách Võ Nguyên Giáp một cuộc đời, Đại tướng của chúng ta đã phân tích rất rõ điều đó cho tác giả Alain Ruscio. Ông nói: “Một ví dụ là “phòng tuyến De Latte” nổi tiếng. Trong đầu óc ông ta đã có mầm mống ý tưởng về xây dựng một phòng tuyến nhằm ngăn chặn các cuộc xâm nhập vào vùng châu thổ của các chiến sĩ chúng tôi. Điều này chứng tỏ ông ta thật sự không hiểu gì về tính chất cuộc chiến tranh mà ông ta phải tiến hành! Sai lầm nghiêm trọng! Người ta không thể chặn đứng một cuộc chiến tranh nhân dân mà đâu đâu cũng là mặt trận…Sai lầm này lại được người Mỹ lặp lại với phòng tuyến McNamara”.

Điều Đại tướng muốn nói đến ở đây là tất cả các tướng lĩnh Pháp cho đến Mỹ đều nhìn cục diện chiến trường Việt Nam theo cách nhìn của chiến tranh cổ điển. Tức là luôn phải có tiền tuyến, có hậu phương. Trong khi đó, cuộc chiến tranh về phía người Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân đã phát triển đến trình độ rất cao. Bất kỳ người dân nào cũng là 1 người lính. Từng làng mạc là những tòa thành.

Và đây là cách mà Đại tướng đã khai thác triệt để sự sai lầm từ cách nhìn lạc hậu của các đối thủ. Ông nói: “Chúng tôi quan tâm biến hậu phương của địch thành mặt trận để tiêu hao lực lượng địch, làm mất phương hướng khiến địch luôn luôn phải đề phòng và không biết đâu là mặt trận. Chiến thuật của chiến tranh nhân dân là đối với kẻ địch, mặt trận ở khắp nơi và không ở đâu cả. Đối với chúng tôi đâu đâu cũng là hậu phương và không ở đâu là hậu phương thật sự”.

Đối với địch mặt trận ở khắp nơi và không ở đâu cả là vì vào những khi địch lơ là sơ hở, chúng có thể bị tiêu diệt bởi những du kích có mặt khắp nơi. Nhưng khi địch tổ chức hành quân càn quét để tiêu diệt chủ lực đối phương thì chúng chẳng tìm đâu ra. Những cú đánh của địch tung ra chỉ đánh vào khoảng không.

Tử huyệt không khắc phục được

Có người nói rằng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất sắc sảo trong việc lợi dụng và khoét sâu các mâu thuẫn nội tại của địch. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhìn vào 30 năm chiến tranh, Đại tướng không mắc phải 1 sai lầm chiến lược nào nhưng ông không bỏ qua bất kỳ một sai lầm nào của đối thủ để khoét sâu.

Điều quan trọng nhất, từ đầu đến cuối, Đại tướng đã nhìn ra cái mâu thuẫn căn bản nhất của một đội quân xâm lược. Đó là mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng và phân tán lực lượng. Nguyên tắc quân sự phải tập trung lực lượng. Có tập trung mới có đủ sức tiến hành các cuộc hành quân lớn. Nhưng một đội quân xâm lược lại luôn phải chú ý đến việc chia quân giữ các vùng đất đai mới chiếm được để làm hậu phương cho chúng.

Khi nhắc đến kế hoạch Navarre, tướng Giáp đã phân tích rõ cái mâu thuẫn căn bản và không khắc phục được của những đội quân xâm lược. Ông nói: “Tôi nhấn mạnh: kế hoạch đó không thiếu tính chặt chẽ, nhất quán và sáng tạo. Nhưng ông ta đã không giải quyết được cái mâu thuẫn căn bản của mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Quân đội viễn chinh muốn tập trung lực lượng để giành chiến thắng bằng sức mạnh tiềm tàng trên một số điểm được xác định, nhưng nó lại thua, theo tỷ lệ chính xác trong việc kiểm soát đất đai”.

Tướng Navarre cùng Cogny và De Casries. Ảnh: Internet.

Đây là mâu thuẫn căn bản và là câu hỏi mà các chỉ huy quân sự từ Pháp đến Mỹ đều đau đầu tìm lời giải nhưng vô hiệu. Navarre muốn tập trung lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ để tổ chức những cuộc tiến công lớn kết thúc chiến tranh. Tập trung lực lượng cơ động thì các vùng chiếm đóng sẽ phải dàn mỏng lực lượng. Bởi thế khi quân ta tiến công các vùng Thượng Lào, Tây Nguyên, Tây Bắc đã dễ dàng giải phóng đất đai. Nhưng Pháp không thể để mất nhiều đất đai vì vốn dĩ vùng chúng kiểm soát cho đến năm 1953 đã còn rất ít rồi.

Thế là Navarre lại phải xén bớt lực lượng cơ động đi ứng cứu để bảo vệ các vùng còn lại hoặc hành quân giải vây. Cho đến khi bước vào trận Điện Biên, về cơ bản kế hoạch của Navarre đã phá sản hoàn toàn. Tất cả nguyên nhân chỉ nằm trong ngay mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng.

Đến kháng chiến chống Mỹ cũng vậy. Trong 2 mùa khô 1966 và 1967, Mỹ tập trung quân để tổ chức các cuộc hành quân lớn thì lại khiến quốc sách ấp chiến lược của họ ngày càng lao đao có nguy cơ phá sản vì thiếu quân để bảo vệ. Bởi thế, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tổng kết: “Trong thực tế, mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung lực lượng không bao giờ được giải quyết, vì không thể giải quyết được, do tính chất của cuộc chiến tranh mà kẻ xâm lược tiến hành”.

Tướng Giáp nói ông không bao giờ xem thường bất kỳ một tướng lĩnh đối phương nào vì họ đều được đào tạo bài bản trong trường lớp danh giá. Nhưng điều căn bản nhất khi họ đến Việt Nam là họ ở trong thế phi nghĩa nên không nhìn ra được tính chất thực sự của cuộc chiến. Đó là nguồn gốc đưa họ đến những phán đoán và hành động sai lầm để rồi chuốc lấy thất bại.

Đại tướng chia sẻ với Alain Ruscio một điều mang tính bản chất: “Sai lầm chính của những kẻ thù của chúng tôi là đã không hiểu điều đó (chiến tranh nhân dân – PV). Thật ra đặt trong hoàn cảnh của họ là kẻ chịu trách nhiệm gây ra chiến tranh xâm lược, họ không thể nào hiểu được chiến lược đó, mà dù có hiểu cũng không thể nào áp dụng được để thắng chúng tôi”.

Vũ Tiến Đức (Kiến Thức)

Tướng Giáp – Người thay đổi khái niệm ‘đối thủ’ với lính Pháp

Những cựu chiến binh Pháp dành cho “đối thủ” của họ – Tướng Giáp, sự tôn trọng, ngưỡng mộ và nể phục.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm thay đổi khái niệm truyền thống về “đối thủ” trong binh lính Pháp – Đó là kết luận đã được chuyên gia về lịch sử quân sự Pierre Journoud rút ra được từ các cuộc trò chuyện với các cựu chiến binh Pháp sống sót trở về sau trận Điện Biên Phủ.

Những cựu chiến binh này dành cho “đối thủ” của họ – Tướng Giáp, sự tôn trọng, ngưỡng mộ và nể phục. Và cuốn “Điện Biên Phủ – Tiếng nói từ những nhân chứng còn sống sót” của Pierre Journoud đã dành riêng một chương nói về khái niệm “Đối thủ” trong trận đánh lịch sử năm 1954.

Nhà sử học nghiên cứu chính trị quân sự Pháp Pierre Journoud

 

Phóng viên VOV phỏng vấn chuyên gia về lịch sử quân sự Pierre Journoud:

PV: Là chuyên gia lịch sử quân sự chuyên về chiến tranh Đông Dương, đặc biệt là về trận đánh Điện Biên Phủ, chắc hẳn ông đã nghiên cứu nhiều về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước hết, xin ông chia sẻ cảm xúc khi biết tin Đại tướng qua đời ?

Ông Pierre Journoud: Tôi thực sự có một cảm xúc đặc biệt. Trước hết tôi nghĩ về người dân Việt Nam, Tướng Giáp là nhân vật vô cùng đặc biệt đối với nhân dân Việt Nam nên chắc chắn các bạn rất buồn và tôi xin chia sẻ nỗi mất mát lớn này.

Với nước Pháp, chúng ta có những trang sử chung và bản thân Tướng Giáp đã ghi dấu ấn đặc biệt trong đó. Riêng cá nhân tôi, tôi nhớ lần duy nhất tôi được gặp Tướng Giáp năm 2004, khi tham dự hội thảo về Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneva. Trong một tiếng đồng hồ, Đại tướng đã trả lời câu hỏi những của chúng tôi một cách say sưa. Giờ đây, vị thiên tài quân sự ấy, một nhà lãnh đạo lỗi lạc thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi.

PV: Trong tác phẩm “Điện Biên Phủ – Tiếng nói từ các nhân chứng còn sống sót” của ông có một chương riêng về khái niệm “Đối thủ” trong trận Điện Biên Phủ. Tại sao ông lại nêu ra vấn đề đó ?

Ông Pierre Journoud: Chúng tôi làm một cuộc điều tra trong giai đoạn 2003-2004. Tôi đã trực tiếp gặp gỡ và nói chuyện với các cựu chiến binh Pháp còn sống sót sau chiến tranh tại Việt Nam. Và chính những suy nghĩ của họ đã thúc đẩy tôi phải dành một chương cho khái niệm “Đối thủ” trong cuốn sách của mình.

Những cựu chiến binh ấy, thậm chí cả các cựu tướng lĩnh của Pháp, đã nói với tôi về ấn tượng sâu đậm của họ đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người đã lãnh đạo Quân đội Việt Nam chiến thắng họ. Họ bày tỏ sự tôn trọng, ngưỡng mộ đối với tính cách, lòng dũng cảm của vị Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Họ chia sẻ với chúng tôi một cách chân thật suy nghĩ của mình. Đó là điều khác hẳn khái niệm “đối thủ” thông thường, nhất là những người thua cuộc, hiếm khi nào lại dành sự ngưỡng mộ với đối thủ đã chiến thắng mình.

Riêng cá nhân tôi, tôi đã có cơ hội tuyệt vời để cảm nhận sự thần kỳ về con người huyền thoại ấy, khi tôi được gặp ông năm 2004. Dù lúc đó tuổi đã cao, ông vẫn rất tinh nhanh, ông nói tiếng Pháp thật tuyệt vời, trả lời sâu sắc mọi câu hỏi được đặt ra về chiến lược tại Điện Biên Phủ, quyết định lùi ngày tấn công, và tự tôi hiểu vì sao các cựu chiến binh Pháp lại ngưỡng mộ và tôn trọng ông như thế.

PV: Báo chí phương Tây có so sánh nhiều giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp như một “Napoleon đỏ”. Ông nghĩ sao về sự so sánh này?

Ông Pierre Journoud: Đúng là qua những tài liệu tôi đã đọc và nghiên cứu, thì chiến lược quân sự của Bonapart là một trong những nguồn tham khảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng có nói đến chiến lược của Bonapart, ông thường gọi thế chứ không nhắc đến Hoàng đế Napoleon đệ nhất, bởi chức tước này không gây hấp dẫn đối với Đại tướng. Nhưng đó chỉ là một nguồn tham khảo của Đại tướng.

Đại tướng còn học hỏi từ chính trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, từ danh nhân Nguyễn Trãi là một điển hình. Chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự kết hợp tuyệt vời giữa những kiến thức quân sự sâu rộng học được từ nhiều nguồn, với một đầu óc thiên tài biết tổng hợp và kết hợp rồi áp dụng phù hợp với hoàn cảnh của từng chiến trường, đặc tính của đối thủ. Và nhất là Đại tướng Võ Nguyên Giáp có những trao đổi, bàn bạc quan trọng với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bìa cuốn sách Điện Biên Phủ – Tiếng nói của những người còn sống sót

 

PV: Sắp tới, ông có kế hoạch nghiên cứu sâu hơn nữa về Điện Biên Phủ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp để công chúng hiểu hơn về một giai đoạn lịch sử chung giữa hai nước hay không?

Ông Pierre Journoud: Tôi nghĩ còn nhiều điều để nghiên cứu, để viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Dù đã có nhiều nghiên cứu về ông, nhưng còn nhiều điều kể cả về khía cạnh đã được nói nhiều là một chiến lược quân sự. Ông có sự am hiểu vô cùng rộng lớn về quân sự, và cũng thật thú vị khi con người này tự học, tham khảo các chiến lược và cả tự rút ra từ chính một số thất bại của mình.

Đặc biệt ông học từ các kinh nghiệm về chiến trường, nghiên cứu địa bàn rất kỹ, tính toán về hậu cần một cách đáng kinh ngạc. Bên cạnh đó, phải mở rộng nghiên cứu nhiều khía cạnh khác của con người ông. Ví dụ cần đào sâu về cuộc đời ông với tư cách một nhà giáo – một thầy giáo về lịch sử vô cùng đặc biệt, đi sâu nghiên cứu niềm đam mê của ông về lịch sử Việt Nam và cả lịch sử Pháp; cần nghiên cứu cuộc đời một nhà lãnh đạo chính trị… Tất cả sẽ cho thấy tầm vóc vĩ đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

PV: Xin cảm ơn ông./.

Thùy Vân/VOV-Paris

Chiến tranh Việt Nam: Nữ phát thanh viên có giọng nói ma lực với quân đội Mỹ

Bà Ngọ được lính Mỹ gọi với cái tên ‘Hannah Hà Nội’, nổi tiếng với giọng nói đầy mê hoặc, khiến quân địch ‘vừa nhung nhớ, vừa nể sợ’.

Lịch sử ngành phát thanh Việt Nam có dấu ấn của một nhân vật đặc biệt: nữ phát thanh viên Trịnh Thị Ngọ. Người con gái sinh ra từ phố cổ Hàng Bồ, Hà Nội, chỉ với giọng đọc tiếng Anh “chết người” của mình, đã khiến những người lính Mỹ tham gia chiến tranh ở Việt Nam bị mê hoặc, bị cảm hóa mỗi ngày dù chưa từng gặp mặt. Cũng bởi sức hút hơn người và bí ẩn ấy, bao bọc xung quanh người con gái Hà Nội này là vô số những câu chuyện thi vị không dễ mấy người biết tới.

Mang trên mình cái tên chân chất, đầy dân dã, nhưng trên thực tế, Trịnh Thị Ngọ là “tiểu thư nhà giàu” đúng nghĩa. Bởi bà là con gái của nhà tư sản Trịnh Đình Kính, người vẫn được mệnh danh là “ông hoàng thủy tinh Đông Dương” với thương hiệu Thanh Đức.

Con nhà giàu, lớn lên ở phố cổ nên Trịnh Thị Ngọ được “trang bị” đầy đủ công dung ngôn hạnh từ tấm bé. Con nhà tư sản, tư tưởng nặng về “Âu hóa” nên chẳng lạ khi cô con gái của nhà tư sản Trịnh Đình Kính thi đậu tú tài Pháp rồi tự học thêm tiếng Anh bên ngoài của bà Lucine Hà Văn Vượng. Giá của việc học tiếng Anh hồi đó không hề rẻ, khoảng 25 đồng tiền Đông Dương cho một giờ. Trong khi đó, mỗi tháng học phí tại trường học cũng chỉ vài chục đồng. Thế nên, chuyện con gái Việt đi học thứ ngoại ngữ đặc phương Tây như Trịnh Thị Ngọ đích thị là của “độc, hiếm” thời đó.

Bà Trịnh Thị Ngọ sinh năm 1931 tại Hà Nội. Bà trở thành một trong những phát thanh viên tiếng Anh đầu tiên của Việt Nam.
Bà Trịnh Thị Ngọ sinh năm 1931 tại Hà Nội. Bà trở thành một trong những phát thanh viên tiếng Anh đầu tiên của Việt Nam.

Sau đó ít lâu, chuyện không ngờ đã xảy đến với gia đình bà khi cha bà, ông Trịnh Đình Kính bị bắt giam ở Hỏa Lò vì đã ủng hộ cách mạng. Mọi tài sản đều bị mất hết. Lúc này, mọi trách nhiệm được đặt lên vai của cô gái Trịnh Thị Ngọ.

Trong thời gian cách mạng tháng 8 diễn ra tại Hà Nội, bà Ngọ cũng như rất nhiều người dân yêu nước lúc bấy giờ, tham gia một cách nhiệt tình vào các hoạt động cứu chữa thương bệnh binh, tiếp tế nuôi quân cách mạng.

Nói về việc học tiếng Anh từ sớm của mình, bà Trịnh Thị Ngọ không ngại thổ lộ rằng thực ra lúc đầu bà học tiếng Anh chỉ là do “cha bà muốn vậy”. Nhưng rồi, không lâu sau đó, thứ ngôn ngữ còn xa lạ với đa phần người dân Việt thời bấy giờ đã trở thành niềm đam mê. Sự chuyển hướng đột ngột ấy bắt đầu từ niềm say mê vô tận của bà đối với những bộ phim Mỹ, trong đó đặc biệt là tác phẩm điện ảnh kinh điển “Cuốn theo chiều gió”.

Bà từng xem đi xem lại bộ phim ấy cả thảy 5 lần. Mê phim đến độ, Trịnh Thị Ngọ muốn mình có thể tự nghe, tự hiểu những gì mà các diễn viên đang nói mà không cần thông qua phụ đề dịch. Thế nên, cô thiếu nữ cá tính quyết định học tiếng Anh và học giỏi thứ ngôn ngữ này, cũng vì lẽ đó.

Năm 1955, Đài tiếng nói Việt Nam mở chương trình phát thanh tiếng Anh, Trịnh Thị Ngọ với vốn tiếng Anh thành thạo của một cô sinh viên vừa tốt nghiệp khoa tiếng Anh, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, đã trở thành phát thanh viên kiêm biên dịch và biên tập viên.

Bà được phân công thực hiện chương trình Mỹ vận, tức là chương trình dành cho các binh sĩ Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam. Thời điểm này, chiến trường miền Nam đang có sự chuyển hướng mạnh mẽ. Mỹ chuyển sang loại hình chiến tranh mới, quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình này, lúc đó, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phối hợp với Cục địch vận (Tổng cục Chính trị của Bộ Quốc phòng) làm một chương trình tiếng Anh dành riêng cho lính Mỹ lấy tên là chương trình “Chuyện nhỏ với binh sĩ Mỹ”.

Phát thanh viên Trịnh Thị Ngọ được giao nhiệm vụ trò chuyện với lính Mỹ trên sóng radio, giúp họ có cái nhìn đúng đắn về cuộc chiến tranh Mỹ đã gây ra ở Việt Nam. Cũng từ đó, tên tuổi của Trịnh Thị Ngọ gắn liền với chương trình phát thanh cho các binh sĩ Mỹ với cái tên Thu Hương.

Hình ảnh bà Ngọ trên báo Mỹ năm 1966.
Hình ảnh bà Ngọ trên báo Mỹ năm 1966.

Các buổi phát thanh địch vận bằng tiếng Anh của bà Trịnh Thị Ngọ được phát vào ban đêm, sau một ngày dài diễn ra chiến sự. Câu mở đầu của chương trình thường là: “Đây là Thu Hương, trò chuyện với binh sĩ Mỹ ở Nam Việt Nam…” Lúc đầu, buổi phát thanh chỉ dài 5-6 phút mỗi lần và mỗi tuần có 2 buổi phát. Tuy nhiên, về sau tăng dần thời lượng và phát ngày 3 buổi, mỗi buổi 30 phút. Như vậy, mỗi ngày bà có 90 phút phát thanh với hàng trăm nghìn binh sĩ Mỹ nghe.

Trong các phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam thời ấy, có lẽ không ai sở hữu cho mình nhiều tên gọi, biệt danh như Trịnh Thị Ngọ. Về danh xưng Thu Hương, bà Ngọ tiết lộ: “Cái tên Trịnh Thị Ngọ có hai dấu nặng nên rất khó đọc với những người nói tiếng Anh. Đài Tiếng nói Việt Nam khi đó đề nghị tôi chọn một cái tên dễ đọc hơn. Tôi đã chọn tên Thu Hương vì Thu Hương là tên một cô bạn gái rất thân. Sau này, tôi chọn tên cô ấy cho cả con gái của mình”.

Nhưng nổi tiếng hơn cả, thậm chí đã trở thành huyền thoại là nickname “Hannah Hanoi”. Về cái tên này, bà Ngọ lý giải: “Hannah chỉ là một cái tên phụ nữ Mỹ thông dụng. Lính Mỹ gọi tôi như thế có lẽ cho thân quen. Tôi cũng đoán sự chơi chữ của lính Mỹ, VC là Việt Cộng, họ cũng gọi là Victor Charlie, Jane Fonda sang Việt Nam cũng được gọi là Hà Nội Jane. Bản tin của tôi phát đi từ Hà Nội, nên gọi là Hannah Hà Nội cho dễ nhớ. Sau này ngay cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi gặp, cũng gọi tôi là Hannah Hà Nội”.

Số biệt danh của bà Ngọ chưa phải đã hết. Bị giọng đọc của bà mê hoặc, lính Mỹ gọi bà là “phù thủy”, là “nàng tiên cá”. Thậm chí, có những binh lính Mỹ đã thốt lên rằng: “Hannah! Người là đấng tiên tri hay là mụ phù thủy, hay là quỷ sứ?”.

Trong cảm nghĩ của đa phần của những lính Mỹ là thính giả của chương trình “Chuyện nhỏ với binh sĩ Mỹ” thời ấy, Trịnh Thị Ngọ là người đàn bà có giọng nói phù thủy. Người đàn bà sở hữu một giọng nói mà họ “vừa căm ghét, vừa nhung nhớ, vừa sợ hãi nhưng vẫn không thể không nghe”. Không ít người lính Mỹ sau những lần nghe những buổi trò chuyện với lính Mỹ của bà phát trên đài Tiếng nói Việt Nam đã tìm mọi cách để chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa và tìm cơ hội để trở về quê hương.

Tổng thống Mỹ Kennedy khi đó đã nói: “Việt Cộng đã dùng một giọng nói đàn bà quyến rũ để làm lung lay tinh thần quân đội Mỹ ở Việt Nam”. Bộ Tư lệnh viễn chinh quân đội Mỹ từng cấm binh sĩ ở Hạm đội 7, binh sĩ ở Thái Lan cũng như ở miền Nam Việt Nam không được nghe chương trình của “Hannah Hanoi”. Chiến tranh kết thúc, chương trình cũng kết thúc, nhưng rất nhiều nhà báo Mỹ vẫn tìm đến Việt Nam để hỏi chuyện bà, rất nhiều cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu ở Việt Nam vẫn giữ những bản thu những buổi phát thanh của bà.

Hiện bà Ngọ đang sống trong TP HCM.
Hiện bà Ngọ đang sống trong TP HCM.

Sức hút đó đến từ nội dung của mỗi câu chuyện bà kể. Từ chuyện gia đình của những người lính Mỹ tại quê nhà đến chuyện những người phụ nữ Việt Nam mất chồng con do bom đạn, hoặc suy nghĩ của những người lính Việt Nam sau một trận đánh. Đó còn là cả những điều lo sợ của lính Mỹ sau mỗi trận càn quét, đánh nhau.

Nhưng sức hút lớn nhất vẫn là từ giọng đọc của bà Trịnh Thị Ngọ. Bà Trịnh Thị Ngọ tiết lộ: “Nguyên tắc đọc tin của tôi là phải thuyết phục, không quá thân mật nhưng không quá cứng rắn. Chọn từ ngữ cần dùng cho phù hợp. Với những cuộc trò chuyện với binh sĩ Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tôi không gọi là kẻ thù (enemy) mà gọi là đối phương (adversary). Các anh ở bên quân đội viết tin bằng tiếng Việt, tôi là một trong số những người chuyển ngữ sang tiếng Anh. Khi đề cập thời sự cuộc chiến, tôi thường dẫn thêm lời báo chí Mỹ để thông tin có phần khách quan. Thông điệp mà tôi cố gắng truyền đạt đến từng lính Mỹ là: Các anh đang chiến đấu cho một cuộc chiến tranh phi nghĩa và sẽ chết một cách vô ích!”.

Ngày 30/4/1975, bà vinh dự là người được đọc trực tiếp bằng tiếng Anh, thông báo với thế giới sự kiện lịch sử của Việt Nam: “Sài Gòn đã được giải phóng, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập thống nhất”. Sau ngày giải phóng, bà theo chồng vào miền Nam sinh sống và làm việc ở Đài Tiếng nói TP HCM.

Hiện bà hơn 80 tuổi nhưng câu chuyện về bà, về “Hannah Hanoi”, người phụ nữ có giọng nói ma quỷ, giọng nói huyền thoại hay “nàng tiên cá của binh sĩ Mỹ” vẫn được nhiều người nhắc đến.

Theo Gặp lại Hannah Hà Nội của Lê Thị Thái Hòa / Ngôi Sao

Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Tổng hành dinh ngày 30/4/1975

TỔNG HÀNH DINH NGÀY 30-4-1975 (1)

Lời Tòa soạn Tạp chí Xưa & Nay: Vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày Giải phóng miền Nam (1975-2000), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sẽ cho ra mắt bạn đọc cuốn hồi ức: “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Nhân toàn bộ cuốn hồi ức được phát hành, được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi xin trích một đoạn trong chương IX mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, đoạn viết về những động thái diễn ra tại Tổng hành dinh trong ngày 30-4-1975.

Ngày 30-4-1975.

Gần ba mươi năm qua, mà ngày lịch sử ấy vẫn hiện lên đậm nét trong ký ức, như mới hôm nào.

“Nhà con rồng” hôm nay hình như rạng rỡ hơn trong gió xuân ấm áp. Ngôi nhà cũ, thềm sân rộng và cả bốn con rồng đá chầu ở bậc lên xuống như tươi tắn hơn mọi ngày. Những cây ngọc lan tán lá sum suê, toả hương thơm ngát.

Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố. Tôi phác hoạ trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy, với bao nhiêu công việc phái làm: hội ý Bộ Chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, chính trị trong trường hợp chưa dứt điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến và nổi dậy ở phần đất còn lại sau khi Sài Gòn giải phóng, điện động viên bộ đội, nhắc nhở chấp hành nghiêm các chính sách vào thành.

Bất giác, tôi nhớ lại ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954. Lẽ tất nhiên ở đây có rất nhiều điểm khác. Thế nhưng, cũng cái không khí phấn khởi sôi nổi ở Sở chỉ huy, cũng những giờ phút nao nức đón tin vui từ phía trước điện về, những suy nghĩ về công việc ở cuối và sau chiến dịch. Và nhất là cũng cái cảm giác lâng lâng khó tả, vừa khẩn trương, sôi nổi, vừa đàng hoàng, chủ động, vừa lo lắng chờ đợi, vừa vui sướng, tự hào, lúc này không còn là của riêng ai trong ngày toàn thắng của dân tộc.

Anh Ba, anh Trường Chinh, anh Đồng cũng đến đây sớm hơn thường lệ. Các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt đến sau, đông đủ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn – Gia Định, thảo luận công việc và đón tin toàn thắng. Anh Cao Văn Khánh, trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo tình hình mới nhất. Các mũi tiến công của quân ta phát triển rất nhanh về hướng trung tâm thành phố. Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần, chỉ còn tính từng giờ. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng, nhưng mọi người đều vui vẻ chấp nhận.

Anh Khánh báo cáo: Đại sứ Mỹ Matin chuồn khỏi Sài Gòn lúc 4 giờ 15 phút sáng. Hy vọng của ông ta thoả hiệp, đàm phán với “Việt cộng” tan vỡ như bọt xà phòng.

Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II trong cánh quân phía đông của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo của ta ở Nhơn Trạch đã bắn hơn 300 viên đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đang tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn IV tiến về Hố Nai. Địch liều mạng chống giữ. Ta tiêu diệt Hố Nai, đang tiến công sở chỉ huy Quân đoàn III nguỵ, chuẩn bị tiến vào nội đô.

Sư đoàn 10 Quân đoàn III đang tiến vào ngã tư Bảy Hiền.

Quân đoàn I đánh vào Lai Khê, phú Lộc, Lái Thiêu, đang tiến vào Gò Vấp; một cánh quân khác đánh địch từ cầu Bình Phước đến cầu Bình Triệu.

Đoàn 232 đang tiến về hướng Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát nguỵ.

Trên đường số 4, quân ta đã chiếm Thủ Thừa, thị xã Tân An.

Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Gia Định áp sát bắc sân bay Tân Sơn Nhất, mở hành lang vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hoà.

Lực lượng vũ trang Biên Hòa phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Nhơn Trạch. Thành Tuy Hạ.

Ở vùng ven đô và nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Ở nhiều quận, nhiều phường xóm, đồng bào vùng lên chiếm đồn bốt địch, trụ sở nguỵ quyền. Cờ cách mạng đã tung bay ở phường Tây Nhì, quận Phú Nhuận từ trưa ngày 29-4.

Một cảnh tượng điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức hào hùng. Tiến công kết hợp với nổi dậy. Quân sự, chính trị, binh vận giáp công. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng áp đảo nguỵ quân, nguỵ quyền đang tan rã.

Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng vũ trang ta đã ém sẵn quanh các mục tiêu quan trọng. Ở Bạc Liêu, quân ta đã vào thị xã. Ở Sóc Trăng, ta đang tiến công thị xã và sân bay.
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trao đổi về những công việc cấp thiết. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi điện vào chiến trường: … “ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nội dung:

a) Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam.

b) Quân đội nguỵ quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng.

c) Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp.

d) Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng Quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài san của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu”.

Vừa theo dõi tin kỹ thuật của Cục 2, tôi vừa liên lạc bằng vô tuyến điện thoại tiếp sức với Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Các cánh quân của ta đang tiến rất nhanh. Địch đang trong tình trạng vô cùng nguy khốn.

10 giờ sáng. Đồng chí Nguyễn Thanh, trưởng phòng 70 vào báo cáo tin vừa nhận được: Theo Đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng.

Mọi người cùng nói: “Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng?!”.

Tôi viết ngay một bức điện, lệnh cho các cánh quân tiếp tục tiến công. Nội dung bức điện được đọc lên, tất cả đều nhất trí. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điện cho các quân đoàn và đoàn 232 không vì có tin ấy mà dừng lại.

10 giờ 50 phút. Cục 2 báo cáo quân ta đã vào dinh Tổng thống nguỵ. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này.

11 giờ 30 phút. Đồng chí Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của anh Lê Trọng Tấn báo cáo: một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.

Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự. Tin từ các hướng tới tấp điện về. Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Còn. Quân đoàn II chiếm dinh Tổng thống; Quân đoàn IV chiếm Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng và Đài phát thanh; Quân đoàn I chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu vực các bộ tư lệnh các binh chủng; Quân đoàn III chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; Đoàn 232 chiếm Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành thắng lợi.

Trong không khí hân hoan, hội nghị sôi nổi trao đổi về những biện pháp cuối cùng. Tôi điện ngay vào chiến trường thông báo ý kiến của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “… Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. Đã nhận tin ta cắm cờ lên dinh Độc Lập lúc 11 giờ. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui”

Bức điện gửi đi lúc 12 giờ 25 phút.

Hội nghị ngừng họp.

Các đồng chí lãnh đạo ra cả ngoài hành lang. Tiếng cười nói rộn ràng, vui vẻ. Phấn khởi, nghẹn ngào, xúc động đến trào nước mắt.

Anh Ba, các anh trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ai nấy đều nhớ đến Bác Hồ. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất mà Bác hằng mong đã thành sự thật, nhưng Người đã đi xa! Đồng bào, chiến sĩ miền Nam không còn được đón Bác vào thăm. Mọi người nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống, không được thấy giờ phút khải hoàn. Ngay trong chiến dịch cuối cùng, bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn ra đi trước ngày toàn thắng.

Tôi chỉ thị cho Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Việt Nam Thông tấn xã và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời truyền tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ mười lăm phút sau, đài đã ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại những dòng tin phấn khởi mà muôn vạn con tim Việt Nam đón đợi: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.

12 giờ 50 phút.

Tại Sở chỉ huy, có mặt Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Đại tá Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục tác chiến, Đại tá Nguyễn Trọng Yên và Thượng tá Phạm Chí Nhân, Cục trưởng và Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, cơm nước. Được sống trong giờ phút lịch sử của dân tộc, ai cũng muốn được ghi lại hình ảnh kỷ niệm vô giá này Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn – Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay tôi chỉ. Thượng uý Nguyễn Tiến Trỗ, cán bộ bảo vệ thường xuyên đi với tôi, nhà nhiếp ảnh nghiệp dư với chiếc máy ảnh hiệu Kiép, đã bấm liền ba kiểu ở góc độ thích hợp nhất.

Buổi chiều, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tiếp tục họp.

Mở đầu, Hội nghị nghe qua dây ghi âm tiếng nói đầu hàng của Tổng thống nguỵ Dương Văn Minh: “Tôi là Dương Văn Minh, Tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Tiếp đó là đại biểu Quân giải phóng chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

Hội nghị tiếp tục thảo luận về công việc sắp tới và nêu lên những vấn đề sẽ bàn trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 3-5, chuẩn bị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể.

Gần cuối buổi họp, mọi người nghe đọc hai bức điện của các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng vừa nhận được, trong đó các anh nói rõ: Dương Văn Minh đã đầu hàng, các cánh quân của ta tiếp tục phát triển theo kế hoạch. Ta kêu gọi quân địch nộp vũ khí… Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sôi sục nổi dậy, lật đổ nguỵ quyền, lập chính quyền cách mạng.

Hội nghị nhất trí gửi ra phía trước bức điện khen: “… Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn – Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc nguỵ quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, đưa chiến dịch mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.

Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng, cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc”(1).

Các anh trong Bộ Chính trị ra về. Các đồng chí trong Thường trực Quân ủy ngồi lại trao đổi, chuẩn bị cho cuộc họp của Quân ủy Trung ương dự định tiến hành vào ngày 2-5. Tôi nhắc thêm một số công tác cần chú ý làm thật tốt, nhất là việc quản lý vùng mới giải phóng, đặc biệt các thành phố lớn, vừa xây dựng chính quyền cách mạng vừa truy quét tàn binh, bắt giữ bọn phản động đầu sỏ, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản, tính mạng của dân và tài sản công cộng, ổn định đời sống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải là một cán bộ dân vận, biết phát động nhân dân cùng với bộ đội và các lực lượng cách mạng làm chủ địa bàn. Tôi cũng lưu ý Bộ Tổng Tham mưu giải quyết số quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, đón anh chị em tù chính trị trở về. Việc xây dựng và điều chỉnh lực lượng trong điều kiện đất nước thống nhất và số lượng rất lớn trang bị kỹ thuật của địch vừa thu được cũng phải khẩn trương nghiên cứu đề xuất với Bộ Chính trị và Quân ủy.

Mặt trời đã khuất bóng sau rặng cây xà cừ trên đường Hoàng Diệu. Hà Nội đã lên đèn.

Còn lại một mình trong phòng làm việc với niềm vui náo nức, mà sao nước mắt tôi cứ trào ra.

“Giá như còn Bác…”.

Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Câu thơ xuân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã vạch đường đi nước bước để có thắng lợi hôm nay.

Tôi lên xe đi một vòng quanh Hà Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Người đi chật phố, chật đường, vui như trảy hội. Đêm nay, Thủ đô đốt pháo hoa mừng toàn thắng. Đêm nay, Hà Nội, cả nước vui với Sài Gòn, vui với miền Nam.

Trở lại cửa tây, tôi vào Sở chỉ huy tiếp tục làm việc.

Hình ảnh các anh lãnh đạo, chỉ huy bộ đội ở chiến trường lúc này hiện về rõ nét. Chắc các anh đã nhiều đêm không ngủ. Chắc các anh cũng hân hoan, xúc động như chúng tôi ở ngoài này. Dưới sự chỉ huy của các anh, quân ta đã “tiến vào Sài Gòn!” ca vang câu hát: “Đồng bào ơi, ta đã về đây” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, như ngày nào bộ đội ta từ năm cửa ô tiến về giải phóng Thủ đô Hà Nội, ca vang bài hát của nhạc sĩ Văn Cao.

Trong điện gửi anh Văn Tiến Dũng và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, thay mặt Quân ủy Trung ương, tôi tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang ta đã cùng đồng bào Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng Sài Gòn – Gia Định, giành thắng lợi vang dội, làm nức lòng quân và dân cả nước và bè bạn năm châu.

Một khuôn mặt trìu mến, thân quen chợt hiện lên trong tôi: Trung tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy cánh quân đầu tiên tiến vào dinh Tổng thống nguỵ quyền. Tôi viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự: “18 giờ 30 phút. Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khoẻ và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó. Ký tên: Văn”.

Sau này được biết: Khi nghe báo cáo quân ta đã chiếm dinh Độc Lập, Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng, cả Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng trong niềm vui chiến thắng. Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng xúc động ôm hôn mọi người. Anh Đinh Đức Thiện, vui tính là thế, mà giờ lại là người khóc ra tiếng to nhất. Anh Trần Văn Trà, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng anh Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.

Mấy ngày sau, tôi cùng anh Ba vào thăm miền Nam hoàn toàn giải phóng. Quên sao được niềm vui mừng phấn khởi khi đặt chân trở lại trên thành phố mang tên Bác, xúc cảm trước cảnh hân hoan mừng chiến thắng của đồng bào, đồng chí trên phố phường còn nguyên vẹn, tưởng như được đón Bác trở về từ nơi Người đã ra đi.

Chúng tôi về thăm các cơ sở cách mạng ở Sài Gòn, Biên Hoà, Cần Thơ, Rạch Giá, những chiếc nôi đã nuôi dưỡng, chở che cho bao cán bộ kiên trung đi làm cách mạng không hẹn có ngày về. Vui mừng, xúc động, anh Ba giới thiệu các Ba, các Má đã nuôi anh những ngày hoạt động bí mật trong lòng địch. Trước cảnh cũ người xưa, tôi bồi hồi nhớ lại những lần vào Nam thực hiện các nhiệm vụ cách mạng được giao. Năm 1929, với tư cách phái viên của Tổng bộ Tân Việt và nhóm cộng sản trong Tân Việt, tôi đến Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển kỳ bộ Tân Việt sang hàng ngũ cộng sản. Sau đó, năm 1935, tôi lại vào gặp nhóm đảng viên hoạt động nửa công khai, nhận tài liệu của Đông Dương Đại hội mang ra Hà Nội. Tìm đến các cơ sở cũ thì hầu hết đã không còn nữa. Nhiều ân nhân của cách mạng không còn được thấy ngày khải hoàn của dân tộc.

Tiếp đó, tôi đến thăm các binh đoàn chủ lực, các đơn vị đặc công, biệt động, các đơn vị bộ đội địa phương. Những “Anh bộ đội Cụ Hồ” vừa làm nên kỳ tích, nhưng hết sức gian dị, thân tình. Tôi khen ngợi chiến công của cán bộ, chiến sĩ, lòng bùi ngùi thương tiếc bao đồng chí, đồng đội vừa ngã xuống để Tổ quốc trường tồn.

Tôi cũng đã đến quan sát Bộ Tổng Tham mưu quân đội nguỵ. Tại phòng làm việc của Tổng Tham mưu trưởng, tôi chú ý đến tờ lịch ngày 28 tháng 4 còn bóc dở. Trong phòng triển lãm vũ khí, nhiều loại vũ khí trang bị hiện đại đều được trưng bày. Trên một tấm bản đồ Đông Dương chi chít những dấu chấm xanh, đỏ, đánh dấu những nơi mà vũ khí, trang bị điện tử phát hiện các căn cứ của ta, nhất là trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn. Cảm tưởng sâu sắc nhất của tôi là: vũ khí kỹ thuật Mỹ dù hiện đại đến đâu cũng không thể cứu kẻ thù khỏi thất bại. Quyết định thắng lợi là con người Việt Nam yêu nước, dũng cảm, thông minh.

(2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr. 395.
(1) Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 74, tháng 4 năm 2000, tr. 4-6. Nội dung bài này được trích đoạn từ hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Sđd (B.T).

Theo: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng / Tạp chí Xưa & Nay / Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam / Quân sử Việt Nam

Thư gửi nhân dân Mỹ – Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thư gửi nhân dân Mỹ (23-12-1966)

Nhân dịp nǎm mới, tôi thân ái gửi đến nhân dân Mỹ lời chúc mừng hoà bình và hạnh phúc.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ đáng lẽ cùng sống trong hoà bình và hữu nghị. Song Chính phủ Mỹ đã ngang nhiên phái hơn 40 vạn quân với hàng nghìn máy bay, hàng trǎm tàu chiến đến xâm lược Việt Nam. Chúng dùng bom napan, hơi độc, bom bi và những thứ vũ khí tối tân khác ngày đêm giết hại nhân dân chúng tôi, không chừa người già, đàn bà, trẻ em, chúng đốt phá làng mạc và thành thị, gây nên những tội ác vô cùng dã man. Những ngày gần đây máy bay Mỹ liên tiếp ném bom Hà Nội, Thủ đô yêu quý của chúng tôi.

Cũng vì cuộc chiến tranh tội ác do Chính phủ Mỹ gây rà, mà hàng chục vạn thanh niên Mỹ bị bắt đi lính, xa lìa quê hương, chết một cách vô ích ở chiến trường Việt Nam. Hàng chục vạn gia đình Mỹ cha mẹ mất con, vợ mất chồng.

Thế mà Chính phủ Mỹ luôn luôn rêu rao “thương lượng hoà bình” hòng lừa bịp nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Sự thật là họ ngày càng mở rộng chiến tranh.

Chính phủ Mỹ lầm tưởng rằng với sức mạnh tàn bạo, họ có thể bắt nhân dân Việt Nam chúng tôi phải đầu hàng. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không bao giờ khuất phục. Chúng tôi yêu chuộng hoà bình, nhưng phải là hoà bình chân chính trong độc lập, tự do. Vì độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam quyết không sợ gian khổ, hy sinh và quyết chiến đấu chống bọn xâm lược Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Ai là kẻ gây ra đau thương tang tóc cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ? Chính là bọn cầm quyền nước Mỹ. Nhân dân Mỹ đã hiểu sự thật ấy. Ngày càng nhiều người Mỹ dũng cảm đứng lên đấu tranh mạnh mẽ đòi Chính phủ Mỹ phải tôn trọng hiến pháp và danh dự nước Mỹ, phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội Mỹ về nước.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh cuộc đấu tranh chính nghĩa của các bạn và cảm ơn sự ủng hộ của các bạn đối với cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Tôi chân thành chúc nhân dân Mỹ giành được nhiều thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, vì dân chủ và hạnh phúc.

Hà Nội, ngày 23 tháng 12 nǎm 1966

Hồ Chí Minh

——————

Đăng lại trên báo Nhân dân, số 4643, ngày 24-12-1966.