Bí mật dự án Popeye trong Chiến tranh Việt Nam

Dự án Popeye được tiến hành lúc bắt đầu mùa mưa, nhằm che giấu dư luận, làm như đó là một hiện tượng tự nhiên đặc trưng của thời tiết khu vực Đông Dương.

Trong Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh bom đạn là những vũ khí sát thương trực tiếp, Mỹ còn sử dụng một vũ khí khác không kém phần nguy hiểm là “vũ khí thời tiết”.

Minh họa cơ chế hoạt động của việc gây mưa bằng hóa chất của Dự án Popeye trong chiến tranh Việt Nam.
Minh họa cơ chế hoạt động của việc gây mưa bằng hóa chất của Dự án Popeye trong chiến tranh Việt Nam.

Vũ khí thời tiết là phương thức tác động vào sự biến đổi của thời tiết để tạo ra những kiểu thời tiết gây bất lợi cho các hoạt động của đối phương thậm chí là phá hủy cơ sở hạ tầng, tiêu diệt hệ sinh thái trong khu vực mà nó được sử dụng.

Mượn bàn tay của thiên nhiên để tiêu diệt đối phương nên thời tiết được liệt kê vào một dạng vũ khí khi nó được sử dụng cho mục đích chiến tranh. Kỹ thuật tác động vào môi trường để phục vụ cho các mục đích quân sự được phát minh bởi một nhà toán học người Mỹ John von Neumann vào cuối những năm 1940.

Lúc đó ông Neumann nhận thấy rằng việc sử dụng kỹ thuật “gieo hạt vào đám mây” bằng tinh thể iốt bạc trộn lẫn với carbon dioxide có thể làm tăng sự ngưng tụ của hơi nước của các đám mây và gây mưa. Đỉnh điểm của công nghệ này được phát triển mạnh trong những năm chiến tranh lạnh và Việt Nam chính là nạn nhân đầu tiên của thứ vũ khí đáng sợ này.

Vào cuối năm 1965 khi những nỗ lực nhằm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược trên đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ không đem lại kết quả mong muốn họ đã áp dụng một chiến lược vô cùng thâm hiểm là sử dụng thời tiết như một thứ vũ khí nhằm làm tê liệt tuyến đường chiến lược này.

Họ đã ứng dụng kỹ thuật của Neumann với mục đích kéo dài và làm trầm trọng thêm mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh đặc biệt là ở khu vực đi qua Lào. Chương trình được đặt mật danh là Dự án Popeye.

Máy bay WC-130 được sử dụng cho nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào các đám mây nhằm biến chúng thành một thứ vũ khí.
Máy bay WC-130 được sử dụng cho nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào các đám mây nhằm biến chúng thành một thứ vũ khí.

Dự án Popeye được đề xuất bởi tham mưu trưởng liên quân Mỹ vào ngày 10/08/1966 và được Bộ tư lệnh hỗ trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam COMUSMACV và Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương CINCPAC đồng tình ủng hộ.

Lúc đó các nguồn tin tình báo của CIA cho biết miền Bắc đang gia tăng các hoạt động vận chuyển hàng hóa qua khu vực sông Sê Kong ở Nam Lào nhưng hoạt động tại đây đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chất lượng đường sá rất kém. Thông tin này càng làm cho những “cái đầu ảo tưởng” của quân đội Mỹ tin rằng việc thay đổi thời tiết tại khu vực này sẽ làm phá sản hoàn toàn kế hoạch của Bắc Việt.

Để phục vụ cho Dự án này Mỹ đã sửa đổi một số chiếc WC-130 làm nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào trong các đám mây. Vào đầu tháng 09/1966 thời điểm chuẩn bị bắt đầu mùa mưa ở miền Trung Việt Nam, Không quân Mỹ đã tiến hành khoảng 50 phi vụ thí điểm rải hóa chất gây mưa dọc theo các khu vực sông Sê Kong.

Dự án được tiến hành ngay trong thời điểm bắt đầu mùa mưa nhằm che giấu các nước trong khu vực, làm như đó là một hiện tượng tự nhiên đặc trưng của thời tiết khu vực Đông Dương và hoàn toàn không có sự can thiệp của Mỹ.

Mỹ đã thực hiện tới 2.600 phi vụ rải hóa chất gây mưa nhằm cản trở hoạt động thậm chí là làm tê liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

Mỹ đã thực hiện tới 2.600 phi vụ rải hóa chất gây mưa với ảo tưởng có thể cản trở hoạt động thậm chí là làm tê liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

Các thử nghiệm ban đầu cho thấy có đến 85% những đám mây được rải hóa chất đã gây mưa, lượng mưa trung bình tăng thêm 30%, mùa mưa có thể kéo dài thêm từ 30-45 ngày so với trước. Sự thành công ban đầu này đã khiến COMUSMACV lên kế hoạch thực hiện nó trên toàn Việt Nam.

Dự án Popeye đã mở rộng từ khu vực sông Sê Kong ra phía Tây Bắc Việt Nam, khu vực thung lũng A Sầu và sang cả khu vực đông bắc Campuchia. Dự án Popeye kéo dài cho đến tận tháng 07/1972. Thông tin về Dự án Popeye bắt đầu bị rò rỉ vào đầu năm 1972 khi Jack Anderson (người được mạnh danh là cha đẻ của báo chí điều tra hiện đại) công bố việc Mỹ sử dụng các phương thức thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí trong chiến tranh Việt Nam trên tờ Bưu điện Washington.

Tuy nhiên, tại thời điểm đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là Melvin Laird đã báo cáo trước Quốc hội Mỹ rằng thông tin mà Jack Anderson nêu ra “là một câu chuyện hoang đường và hoàn toàn sai sự thật”. Tuy vậy, trong một tài liệu mật bị rò rỉ vào năm 1974, Bộ trưởng Melvin Laird thừa nhận lúc đó ông ta buộc phải nói dối để che đậy một dự án quốc phòng bí mật nếu tiết lộ có thể dẫn đến sự phản đối của cộng đồng quốc tế.

Các con số được công bố sau này cho thấy, trong suốt quá trình thực hiện Dự án Popeye, Không quân Mỹ đã thực hiện hơn 2.600 chuyến bay rải vào các đám mây 47.000 đơn vị iốt bạc hoặc I ốt chì với tổng chi phí 21,6 triệu USD.

Bất chấp những nỗ lực kéo dài mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ, hàng hóa từ phía Bắc vẫn ào ào tiến về phía Nam góp phần quan trọng trong công cuộc  giải phóng đất nước. Ảnh tư liệu.
Bất chấp những nỗ lực kéo dài mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ, hàng hóa từ phía Bắc vẫn ào ào tiến về phía Nam góp phần quan trọng trong công cuộc giải phóng đất nước. Ảnh tư liệu.

Mặc dù không có thống kê chính xác nào về hiệu quả mà Dự án Popeye mang lại cho lực lượng Mỹ tại Việt Nam cũng như những thiệt hại mà nó gây ra cho quân đội Việt Nam, nhưng Dự án Popeye bị coi là một hành động vô nhân đạo. Việc kéo dài mùa mưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất, đe dọa mùa màng cũng như gây lũ lụt có thể nguy hiểm đến tính mạng dân thường.

Nếu mở rộng việc thực hiện việc thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí thậm chí có thể gây hậu quả nghiêm trọng hơn đe dọa sự ổn định sinh thái trong khu vực. Sự kiện Mỹ sử dụng vũ khí thời tiết trong chiến tranh Việt Nam đã vấp phải sự phản đối gay gắt của công đồng quốc tế.

Trước tình hình đó Thượng nghị sĩ Mỹ Claiborne Pell và dân biểu Donald Fraser đã phát động một chiến dịch vận động chính trị về việc cấm sử dụng việc thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí nhằm chống lại một quốc gia nào đó.

Đến tháng 05/1977, đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước ENMOD quy định việc cấm sử dụng các biện pháp thay đổi thời tiết nhằm mục đích gây thiệt hại hoặc phá hủy hệ sinh thái chống lại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Hiện tại có 76 nước tham gia đầy đủ vào Công ước ENMOD trong đó có Việt Nam, 48 nước khác chỉ ký mà chưa tham gia đầy đủ.

Minh Đức – theo Trí Thức Trẻ

Advertisements

Mỹ dùng ‘vũ khí thời tiết’ trong Chiến tranh Việt Nam

Quân đội Mỹ từng sử dụng những kỹ thuật thay đổi thời tiết trong Chiến tranh Việt Nam, chẳng hạn như rải tinh thể bạc iodide để tăng thời gian của mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh khiến hoạt động vận chuyển hàng hóa từ miền bắc vào miền nam trở nên khó khăn hơn.

Khả năng tạo ra những trận siêu bão của con người giờ không chỉ là những điều tồn tại trong phim khoa học viễn tưởng.

Natural News vừa tiết lộ một bí mật về việc Mỹ đang âm thầm phát triển một chương trình vũ khí mang tên HAARP (High Frequency Active Auroral Research Program, tạm dịch là “Chương trình nghiên cứu hoạt động cực quang cao tần”). Về lý thuyết, đây là chương trình tạo ra một liên kết radio trên một khoảng cách rất xa nhờ vào tầng điện ly của bầu khí quyển để kết nối các hoạt động của Hải quân Mỹ trên toàn thế giới.

Trạm an-ten phát tần số cao tần của chương trình HAARP của Mỹ nhằm tác động vào sự thay đổi của tầng điện ly từ đó kiểm soát việc thay đổi thời tiết.

Diễn biến thời tiết ở trên mặt đất phụ thuộc rất lớn vào những thay đổi ở tầng điện ly. Nếu con người hiểu sự biến đổi của tầng điện ly thì chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát việc thay đổi thời tiết ở trên mặt đất. Chương trình HAARP sử dụng các máy phát tần số cao truyền tín hiệu vào tầng điện ly để nghiên cứu những thay đổi do nó tạo ra.

Một báo cáo của Duma quốc gia Nga cho biết: “Mỹ đang có kế hoạch thực hiện các thí nghiệm với quy mô lớn hơn với chương trình HAARP nhằm tạo ra một thứ vũ khí thời tiết có khả năng phá vỡ các hoạt động liên lạc bằng sóng vô tuyến đối với các thiết bị trên tàu vũ  trụ, vệ tinh, tên lửa, gây ảnh hưởng đến mạng lưới điện trên mặt đất cũng như các đường ống dẫn dầu và khí đốt”.

Các nhà khoa học còn cho rằng, chương trình HAARP có khả năng tạo ra những kiểu thời tiết bất thường như các trận siêu bão, hạn hán, lũ lụt, tuyết rơi làm phá hủy hệ thống sinh thái và nông nghiệp của đối phương, gây bất ổn và làm kiệt quệ nền kinh tế của đối phương, khiến họ phải phụ thuộc vào viện trợ hay nhập khẩu lương thực từ Mỹ và các nước phương Tây khác.

TheWeatherSpace  cho rằng, Không quân Mỹ đã từng tạo ra một trận lốc xoáy ở bang Oklahoma trong khuôn khổ chương trình HAARP của họ. Ảnh minh họa.

Tới nay Mỹ đã triển khai chương trình HAARP trên thực tế. Theo Global Research, Mỹ đã bí mật lắp đặt 132 máy phát tần số cao tần ở bang Alaska để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tầng điện ly. The Weather Space từng tiết lộ, Không quân Mỹ đã tiến hành thử nghiệm kỹ thuật tạo lốc xoáy ở bang Oklahoma. Tuy nhiên, Không quân Mỹ đã phủ nhận tin này.

Mặc dù chương trình HAARP vẫn còn là một ẩn số nhưng quân đội Mỹ từng sử dụng những dạng vũ khí thời tiết trong chiến tranh tại Việt Nam.

Từ ngày 20/3/1967-5/7/1972, Không quân Mỹ đã tiến hành chiến dịch Popeye nhằm làm trầm trọng hơn mùa mưa tại Lào, đặc biệt là các khu vực đường mòn Hồ Chí Minh, gây khó khăn cho các hoạt động tiếp tế hàng hóa.

Trong chương trình này, Không quân Mỹ đã sử dụng các máy bay rải tinh thể bạc iodide nhằm tăng cường sự tích tụ của các đám mây nhằm gây mưa trên mặt đất. Chiến dịch Popeye đã khiến mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh kéo dài thêm từ 30 đến 45 ngày. Lượng mưa tăng thêm khoảng 30% so với thông thường.

Việc mùa mưa kéo dài khiến các tuyến đường trở nên lầy lội, các khe suối luôn đầy lũ dữ khiến hoạt động vận chuyển hàng hóa từ miền bắc vào miền nam trở nên khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn và tốn kém hơn. Chiến dịch Popeye làm thay đổi thời tiết trên đường mòn Hồ Chí Minh đã đạt được những thành công nhất định.

Trong chiến dịch bao vây Khe Sanh năm 1968 , Không quân Mỹ cũng sử dụng một dạng vũ khí thời tiết khác là sử dụng muối để làm tan sương mù trên mặt đất từ đó tạo thuận lợi hơn cho các hoạt động chi viện hỏa lực đường không của họ.

Việc nghiên cứu và can thiệp, góp phần thay đổi thời tiết sẽ có tác dụng nhất định trong việc chống lại biến đổi khí hậu do sự ấm lên toàn cầu. Tuy nhiên, nó cũng kéo theo nguy cơ vô cùng lớn khi trở thành một thứ vũ khí.

Một khi đã kiểm soát được việc thay đổi thời tiết, con người có thể sử dụng nó cho những mục đích bất chính. Khi đó, vũ khí thời tiết sẽ là thảm họa đối với nhân loại nếu không được ràng buộc bởi luật pháp quốc tế.

Quốc Việt

Theo TTT

Mỹ lục lại ký ức cựu binh chiến tranh Việt Nam

Robert Szponder, 17 tuổi, là một anh chàng đẹp trai có đôi mắt màu xanh dương. Darlene Bernard vừa bước sang tuổi 15, cô học năm thứ nhất trung học. Họ ngồi tán chuyện trong căn nhà nhìn ra biển ở Miami.

[Caption]
Bức họa Robert Szponder được đóng góp để xây dựng “bức tường ảnh” của Quỹ Tưởng niệm Cựu binh chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Miami Herald

Szponder sẽ chết trong chiến tranh ở Việt Nam vài năm sau đó.

Nhưng lúc này, anh và bạn gái mải mê cười đùa vô tư và thắm thiết. Họ đã có những buổi chiều cùng nhau trên bãi biển tưởng chừng như kéo dài vô tận, họ nắm tay nhau, họ cùng nhau nói về tương lai của hai đứa, cho đến khi mà Szponder lên đường nhập ngũ vào mùa hè năm 1968, cách xa bạn gái hàng nghìn dặm.

Hai năm sau, thi thể của Szponder được đưa trả về vùng phía nam Florida. Anh chết bởi một phát bắn trúng tim tại chiến trường Bình Định năm 1970. Robert Allan Szponder khi đó mới chỉ 21 tuổi. Bạn gái của Szponder giữ kín những tấm hình của họ mãi tới 40 năm sau.

Một dự án xây dựng trung tâm về giáo dục chiến tranh Việt Nam, nơi hơn 58.000 lính Mỹ thiệt mạng trong cuộc can thiệp quân sự, đang kêu gọi dân chúng cung cấp các tài liệu về những người đã thiệt mạng hoặc mất tích. Bernard, nay có cơ hội chia sẻ những kỷ niệm về bạn trai xưa, đã lục tìm nơi bà cất giấu những kỷ niệm riêng. Những bức ảnh và câu chuyện về mối tình say đắm của họ là đóng góp nhỏ bé cho chiến dịch tìm kiếm thông tin ở tầm quốc gia, nhằm hàn gắn những lỗ hổng còn lại của chiến tranh.

Trên bức tường tưởng niệm chiến tranh ở Việt Nam, The Wall, tên của những người đã chết được khắc lên đá. Giờ đây, cùng với những bức ảnh, những chi tiết nhỏ nhất từ trong ký ức được khơi lại, để cho mỗi cái tên được nhớ đến đầy đủ hơn.

Bernard, giờ là một phụ nữ 62 tuổi, nói: “Bobby là tình yêu của cuộc đời tôi. Tôi muốn tất cả mọi người biết rằng, Bobby là một người tốt. Ông ấy có tính cách cũng như khiếu hài hước tuyệt vời”.

[Caption]
Darlene Bernard tìm tên của Robert Szponder trên Bức tường ghi danh các Cựu binh chiến tranh Việt Nam năm 1998. Ảnh: Miami Herald

Trong hơn 58.000 cái tên trên bức tường tưởng niệm, còn hơn 26.000 tên chưa có ảnh hay những câu chuyện đi kèm để mọi người có hình dung rõ hơn về người lính đó. Vì thế dự án nói trên đang kêu gọi thu thập các hình ảnh, câu chuyện, từng chi tiết xoay quanh những người đã chết hoặc mất tích trong chiến tranh, xây dựng nên một phần mới có tính tương tác hơn khu tưởng niệm, dự kiến mở cửa năm 2014.

“Những bức hình là rất quan trọng đối với trung tâm và cho khách tham quan. Chúng đưa một con người trở lại cuộc sống thực, đưa đến trước mắt chúng ta những gương mặt”, Jan C.Scuggs, chủ tịch quỹ tưởng niệm các cựu chiến binh Việt Nam cho biết.

“Chỉ riêng những cái tên thôi đã có một sức mạnh khủng khiếp rồi, nhưng khi bạn nhìn nó cùng với một hình ảnh, có một điều gì đó khác biệt sẽ làm bạn cảm thấy vô cùng xúc động. Có lẽ đâu đó một chút cảm giác ớn lạnh nếu đơn giản chỉ là một cái tên và phần ảnh thì bị bỏ trống”.

The Wall, khánh thành năm 1982, thu hút khoảng 4,5 triệu khách tham quan mỗi năm. Họ đến đây để tìm kiếm những cái tên thân thuộc của người thân, và cũng để đánh giá đúng mức độ của sự mất mát lớn đến thế nào.

Đài tưởng niệm được trải dài trên hai bức tường, mỗi bức lại chứa 72 bảng ghi riêng biệt. Tên của Szponder được ghi lại trên đó. Hơn một nửa trong số 58.282 cái tên trên tường có một bức ảnh đi kèm hay hồ sơ lý lịch, với hy vọng rằng rồi tất cả những người đã phục vụ trong quân đội Mỹ cuối cùng cũng sẽ được nhớ đến, và sẽ không có câu chuyện nào phải rơi vào quên lãng. Tuy nhiên, chiến tranh thì đã kết thúc hơn 38 năm về trước và những ký ức thì đang mờ nhạt dần.

“Điều cấp bách hiện giờ là chúng ta cần phải tìm được những bức ảnh đó trước khi quá muộn”, Scruggs, một quân nhân từng bị thương, từng được trao tặng huân chương cựu chiến binh Việt Nam, người đã đi đầu trong những nỗ lực thu thập thôn tin cho bảo tàng, nói.

“Chỉ cần mỗi ngày chúng ta nhận được một bức ảnh… Bây giờ rất nhiều trong số đó được gửi đến từ những người anh chị em ruột, trong khi cha mẹ thì đã ở độ tuổi 80-90. Đôi lúc chúng tôi nhận được những bức ảnh hết sức chân thực từ Việt Nam, nơi mà những người bạn thân thiết đã chụp được và đem nó trở lại khi họ quay về”.

Năm 2003, tổng thống Mỹ George W.Bush đã ký đạo luật cho phép  xây dựng một cơ sở giáo dục dưới lòng đất gần The Wall như một cách giúp các thế hệ tương lai hiểu và đánh giá đúng những di sản để lại.

Một trung tâm như vậy, ước tính mức giá vào khoảng 95 triệu USD, sẽ cung cấp những hình ảnh, hiện vật và câu chuyện về những người đã bị quên lãng.

my-2-5563-1380340734.jpg
Mike Carricarte là anh trai của Louis Carricarte (ảnh đen trắng), một binh sĩ thiệt mạng tại chiến trường Việt Nam năm 1963. Mike ngồi trầm ngâm bên di ảnh và bộ quân phục của em trai trong nhà tại Miami. Ảnh: Miami Herald

Jameson Barton từ Miami, 23 tuổi, thiệt mạng trong một tai nạn trực thăng quân sự vào ngày 18/10/1971. Dì của anh ấy, bà Wanda đã gửi tới cho trang web của dự án những bức hình của anh khi còn nhỏ và cả những bức khi đã trưởng thành, lúc anh đang đứng cạnh một chiếc máy bay.

Một người bạn của Barton, David Henson, thì viết: “Tôi từng là người hướng dẫn nhảy dù của Jamie, chúng tôi đã có rất nhiều những kỷ niệm vui cùng nhau ở Đại học Florida và những khu nhảy khác ở Florida. Khi tàu cập bến Việt Nam, anh ấy chợt dừng lại và muốn thực hiện một cú nhảy cùng tôi….tôi chắc rằng đó là lần cuối cùng anh ấy thỏa sức bay lượn trên bầu trời. Chúng tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời cùng nhau”.

Năm 1966, John T.Weaver và Richard Alfred Wardrobe, thuộc Fort Lauderdale, trở thành bạn thân, họ cùng học tại Học viện quân sự Miami với nhau. Chỉ 3 tháng sau sinh nhật thứ 18 của mình (tháng 6/1967), Wardrobe, một lính thủy đánh bộ, đã thiệt mạng ở Quảng Trị.

“Anh ấy là người thông minh, chu đáo nhưng nóng vội. Chúng tôi đã hỗ trợ, giúp đỡ nhau rất nhiều. Sau khi hoàn thành năm thứ 2, tôi chuyển sang theo học một trường khác… Lần cuối tôi nhìn thấy anh ấy là lúc chúng tôi ôm tạm biệt vào tháng 6 năm 1966”, Weaver viết trong một cuốn hồi ký năm 2004. “Giờ đây, đã 37 năm trôi qua, tôi vẫn nghĩ về anh ấy, vẫn nhớ khuôn mặt, vẫn cảm nhận được sự nóng vội, và vẫn nhớ anh ấy”. Bức ảnh của Wardrobe mặc bộ đồng phục đã được gửi dự án bảo tàng từ một nhóm gia đình và những người bạn giấu tên.

Tuy nhiên, với những cái tên khác, không có một bức ảnh nào cho họ, không có chút hồi ức cá nhân nào, thậm chí là những thông tin cơ bản nhất. Bên cạnh tên của họ vẫn còn khoảng trống.

Hoàng Linh (Miami Herald/VNExpress)

Chiến tranh Việt Nam từ một góc nhìn

Mặc dù đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam 37 năm trước đây vẫn còn hết sức nặng nề. Những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh đó cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Nỗi đau khôn nguôi!

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã trút xuống hai miền Nam, Bắc Việt Nam một khối lượng bom lớn hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào do Mỹ thực hiện trước đó. Cuộc khủng bố đẫm máu ở Mỹ Lai, B52 rải thảm ở Khâm Thiên và chiến dịch rải chất độc da cam trên một diện tích rộng trong chiến tranh chỉ là số ít trong hàng nghìn tội ác mà quân đội Mỹ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.

Trong vụ thảm sát ở Mỹ Lai, lính Mỹ đã giết hại hơn 500 người, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Vụ việc đã từng bị cố tình che đậy gần hai năm trời, và chỉ sau khi báo chí điều tra ra, sự thật mới bị phơi bày. Nhiều tờ báo ở Mỹ lúc đó bình luận: “Nước Mỹ và người Mỹ không thể không gánh nặng cảm giác tội lỗi và sự day dứt của lương tâm trước những gì diễn ra ở Mỹ Lai”.

Và cũng tương tự như vậy, cho đến hôm nay, nỗi kinh hoàng trong vụ thảm sát phố Khâm Thiên – khu phố đông dân nhất của Hà Nội, tháng 12-1972 bằng bom B52 của không lực Hoa Kỳ vẫn chưa phai mờ trong tâm trí mỗi người dân Hà Nội. Chỉ trong đêm 26-12-1972, toàn bộ 6 khối phố của Khâm Thiên bị phá huỷ, gần 2.000 ngôi nhà bị sập, trong đó có 534 căn nhà sập hoàn toàn. Bom B52 đã cướp đi 283 sinh mạng, trong đó có 40 cụ già, 91 phụ nữ, 55 trẻ em, làm bị thương 266 người. Nhiều gia đình không còn ai sống sót. Tại Bệnh viện Bạch Mai, nhiều phòng bệnh đã bị bom Mỹ đánh sập cùng với các bệnh nhân và nhân viên y tế. Hồi tưởng lại những gì đã xảy ra ngày đó, một nạn nhân sống sót đã bày tỏ, chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, nhưng mỗi lần đến ngày lễ Giáng sinh, ông lại thấy đau âm ỉ trong lòng vì cảnh tang thương ngày ấy. Giờ đây, sau gần 40 năm, những dấu tích chiến tranh dường như không còn nữa, nhưng bức tượng người phụ nữ bồng xác đứa con thơ đứng đau đớn, lặng lẽ trên phố Khâm Thiên sẽ là một bằng chứng chiến tranh còn lại mãi với thời gian. Năm đó, Đức Chúa trời hẳn đã chứng kiến một mùa Giáng sinh đau thương ở Hà Nội và buồn ở Oa-sinh-tơn.

Chưa hết, có lẽ dã man nhất là việc quân đội Mỹ sử dụng chất độc màu da cam/dioxin dội xuống các chiến trường miền Nam Việt Nam. Những hậu quả của chất dioxin đối với người Việt Nam đến nay vẫn còn hết sức nặng nề với khoảng 4,8 triệu nạn nhân bị ảnh hưởng và 150.000 trẻ em bị dị dạng ngay từ khi mới sinh ra. Hậu quả bi thảm này không biết sẽ kéo dài đến bao giờ và qua bao nhiêu thế hệ. Trong tuyên bố phản đối Tòa án Tối cao Hoa Kỳ bác đơn thỉnh cầu của các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam ngày 2-3-2009, Hội đồng Hòa bình Mỹ khẳng định: đây là sự vi phạm thô bạo của quân đội Mỹ về quyền con người, một tội ác nghiêm trọng chống lại loài người, đồng thời lên tiếng phê phán chính quyền và các công ty hóa chất Mỹ đã lẩn trốn trách nhiệm và che dấu sự thật trước dư luận.

Nhắc lại những ký ức đau thương trong chiến tranh, người viết bài này không nhằm khơi lại mối thù đã qua, mà chỉ nhằm khẳng định một điều: bạo lực và chiến tranh không phải là phương thức giải quyết các vấn đề của thế giới đương đại.

Chiến tranh đã thực sự kết thúc?

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, có khoảng 58.000 lính Mỹ bị thiệt mạng, hơn 300.000 người lính khác bị tàn phế, mang trong mình thương tật và di chứng da cam/dioxin. Nước Mỹ đã tiêu tốn trên 900 tỉ USD cho cuộc chiến tranh (cả trực tiếp và gián tiếp), một cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ mà không thu được một kết quả nào ngoài sự thất bại ê chề.

Điều đáng nói ở đây là, mặc dù chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, nhưng những mặc cảm tội lỗi, những lý giải về sự thất bại của quân đội Mỹ vẫn canh cánh trong lòng nước Mỹ.

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 50.000, tức là 15% trong số lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam trở về vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Một số do mặc cảm về những tội ác gây ra cho người dân Việt Nam, khi họ cầm súng bắn giết những con người vô tội, trong tay không một tấc sắt để tự vệ. Số khác, cho đến nay vẫn không hiểu lý do vì sao mình lại phải cầm súng “chiến đấu” tại Việt Nam, chiến đấu với ai và chiến đấu vì cái gì?

Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là hai trong số hàng chục nghìn người bị dăn vặt trong cảm giác tội lỗi. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn”, và, “Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”.

Cũng giống như Jim Doyle, cựu nhân viên tình báo Mỹ David Curry cũng không thể thoát khỏi những sợ hãi, căng thẳng về tâm lý khi hồi tưởng về quá khứ chiến tranh. Đến nay, ông vẫn không tin mình đã từng tham chiến tại Việt Nam. Nó như một giấc chiêm bao, chợt đến, chợt đi. Ông nói: “Tất cả những hồi tưởng của quá khứ vẫn còn nguyên vẹn trong tôi cho đến ngày nay và nó khiến tôi thực sự xúc động. Không một người nào ở thế hệ chúng tôi từng sống những ngày tháng đó lại không xúc động, dù có nhiều khi tôi không tin rằng chúng tôi từng có thời gian ở đó”.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ngày càng có nhiều hồi ký chiến tranh Việt Nam với những lời thú tội và sám hối thật lòng xuất hiện ở Mỹ. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại chiến trường xưa để tìm cách làm vơi đi những mặc cảm tội lỗi. Trường hợp của hai anh em nhà Frederic Whitehurst (còn gọi là Fret) với hành trình 35 năm lưu giữ cuốn nhật ký của liệt sỹ bác sỹ Đặng Thùy Trâm và cuộc hành trình 39 năm lưu giữ kỷ vật của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm của cựu binh Hom-mơ Xtet-đi chỉ là những ví dụ điển hình về sự sám hối tội lỗi. Nhiều tờ báo ở Mỹ đánh giá, đối với những người Mỹ, việc phổ biến quyển nhật ký Đặng Thùy Trâm do cựu sỹ quan Hoa Kỳ Frederic Whitehurst từng tham chiến tại Việt Nam lưu giữ trong mấy chục năm qua và những cuộc hội ngộ đầy cảm động giữa ông và gia đình bác sỹ Đặng Thùy Trâm tại Hà Nội ”đã giúp khép lại một phần nào đó nỗi đau của một thế hệ người Mỹ mang trên mình vết thương chiến tranh”. Còn Hom-mơ, sau khi bắn chết và chôn cấtchiến sỹ giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm trong một vụ đụng độ giáp lá cà (ngày 18-3-1969 tại chiến trường Gia Lai) đã đem kỷ vật của người chiến sỹ này về nước Mỹ và gìn giữ suốt 39 năm. Sau những năm sống trong nỗi ám ảnh, người cựu binh này đã quay lại Việt Nam, tìm về gia đình chiến sĩ Đảm để tạ tội và xin được đi tìm hài cốt chiến sĩ Hoàng Ngọc Đảm. Và, ông ta đã khóc bên nấm mồ của người chiến sỹ giải phóng quân. Những giọt nước mắt thành thật và đầy hối hận giữa rừng núi âm u thật thê thảm, nhưng nó đã giúp người cựu binh già này phần nào vơi đi những ám ảnh tội lỗi hành hạ ông bấy lâu nay.

Các nhà xã hội Mỹ xác nhận, kể từ sau năm 1973 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam tự sát do mặc cảm tội lỗi bằng những cách thức ghê rợn.

Vết thương chiến tranh Việt Nam vẫn len lỏi tới từng gia đình Mỹ, che phủ hành lang quyền lực tại Oa-sinh-tơn và chia rẽ xã hội Mỹ. Cựu phóng viên chiến trường G.Gan-lô-guây (J.Galloway) nói: hãy hỏi chuyện các gia đình vừa đón hài cốt cha anh họ trở về, hãy gặp những người ngày đêm đến đứng trước bức tường tưởng niệm lính Mỹ tại Oa-sinh-tơn, hãy đến thăm những cựu binh bị thương tật, bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam để xem chiến tranh đã thực sự chấm dứt hay chưa?

Hình ảnh chiếc trực thăng đưa những người Mỹ cuối cùng rời khỏi nóc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn buổi trưa ngày 30-4-1975 vẫn ám ảnh nước Mỹ cho đến hôm nay. Đối với họ, cuộc chiến tranh này vẫn còn chưa thực sự kết thúc vì những hậu quả nó để lại thật sâu sắc và dai dẳng.

Bài học nào rút ra từ sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến?

Một bài học quan trọng được rút từ cuộc chiến tranh Việt Nam là “văn hóa súng đạn” phương Tây không thể khuất phục được văn hóa truyền thống phương Đông.

Trong cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tháng 3-2007 tại tiểu bang Tếch-dát, các học giả Mỹ đã phân tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh này, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết luận: sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến trường. Không ai phủ nhận sức mạnh số một về kinh tế, quân sự, kỹ thuật của Mỹ. Nhưng, đó không phải là sức mạnh vô địch.

Lịch sử chiến tranh đã chứng minh, sức mạnh của đồng đô-la và bom đạn Mỹ không khuất phục được tinh thần yêu nước và truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Học giả Giêm Bru-tơn phát biểu, những nỗ lực của Hoa Kỳ ở Việt Nam phản ánh sự thiếu chuẩn bị về văn hóa cho chiến trường. Đây chính là một phần của văn hóa Mỹ, vốn không chú trọng tới yếu tố văn hóa trong các cuộc xung đột quốc tế. Còn học giả Vê-rôn nhận xét, từ cuộc chiến Việt Nam, có thể rút ra một trong những bài học quí giá là cần phải hiểu rõ kẻ thù của mình… Điều đó người Mỹ đã không làm được ở Việt Nam nên phải gánh chịu nhiều thương tổn.

Thế giới đã bước sang giai đoạn mới của lịch sử, trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại; tư duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở nên lỗi thời. Lịch sử chiến tranh khẳng định với nhân loại một điều: chiến tranh và bạo lực cường quyền không giải quyết được vấn đề gì ngoài việc khoét sâu hận thù giữa các dân tộc và chia rẽ thế giới. Tuy nhiên, các thế lực hiếu chiến không nghĩ như vậy, họ vẫn đang xoay xở mọi cách để gây ra các cuộc chiến tranh nhằm trục lợi từ những cuộc chiến đó. Vì thế, những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình vẫn luôn là mục tiêu và khát vọng cháy bỏng của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới./.

Trần Minh Tơn (theo TCCS)

Hội chứng chiến tranh Việt Nam trong điện ảnh Mỹ

chien tranh viet nam

Cuộc chiến tranh xâm lược mà đế quốc Mỹ triển khai tại Việt Nam là một trong những cuộc chiến nổi tiếng nhất lịch sử cận đại. Cho đến nay một số cựu binh Mỹ vẫn còn mang nỗi ám ảnh được gọi với cái tên Hội chứng chiến tranh VN . Đây là vết thương lớn mà người Mỹ không muốn nhắc tới nhưng lại là một đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà làm phim Hollywood.

Vào đầu năm 1988, lần đầu tiên Chính phủ Mỹ buộc phải chính thức thừa nhận rằng 15% (khoảng 50.000 người) cựu chiến binh Mỹ từ chiến tranh VN trở về bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng mà nguyên nhân do họ đã tham chiến tại VN và những ám ảnh về tội ác họ từng gây ra (Hội chứng chiến tranh VN). Các nhà xã hội học Mỹ khẳng định bình quân mỗi ngày có ba cựu chiến binh Mỹ tự sát. Điều đáng lưu ý là hiện tượng trên chưa hề xảy ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Triều Tiên. Đề tài này đã mở ra một trào lưu làm phim về Hội chứng chiến tranh VN và tạo được sự chú ý của dư luận thế giới như các phim Người lái taxi (1976, đạo diễn Martin Scorsese), Sinh ngày 4-7 (1989), Trời và đất (1993) – đều của đạo diễn Oliver Stone, Cuộc chiến trong gia đình (1996, đạo diễn Emilio Estevez)…

Năm 1976, Người lái taxi ra đời được coi là một trong những phim đầu tiên khai thác tâm lý phức tạp, hỗn loạn của cựu chiến binh Mỹ, cụ thể trong phim là nhân vật Travis – cựu binh thủy quân lục chiến tham gia chiến tranh VN năm 1972. Đạo diễn không thể hiện cuộc sống của Travis khi anh còn trong quân ngũ, mà khi anh đã trở về đời sống thường nhật tại thành phố New York. Theo chân Travis, một xã hội Mỹ hoàn toàn khác được mở ra, không phải một nơi hiện đại với những tòa nhà tráng lệ, mà là những khu ổ chuột đầy rẫy tệ nạn, ma túy, ma cô, gái điếm. Và đó là một phần cuộc sống hiện tại của Travis. Ngay từ đoạn đầu phim, khán giả đã có cảm giác “bất ổn” về nhân vật này. Một con người mắc chứng mất ngủ kinh niên, lái chiếc xe taxi đi lang thang mỗi đêm, đến những nơi dơ bẩn bệnh hoạn trong thành phố hoặc xem phim cấp 3. Ngày từ đầu, Travis đã được khắc họa là một con người có những suy nghĩ lệch lạc, kì quặc, mất lòng tin vào đất nước, và tính cách này ngày một phát triển theo hướng khác thường, khốc liệt hơn. Cao trào phim là lúc Travis cứu cô (bé) gái điếm Iris khỏi ổ điếm sau một trận bắn súng đẫm máu. Số phận Travis là bi kịch của một con người không hòa nhập được với cuộc sống bình thường, trở nên đơn độc trên chính quê hương mình. Taxi Driver chiếm vị trí 86 trong danh sách 250 phim hay nhất mọi thời đại. Với khoản kinh phí vỏn vẹn 1,3 triệu USD, tác phẩm thu lại hơn 28 triệu USD khi chiếu ngoài rạp, và gần 13 triệu USD khi phát hành băng video. Nhân vật Travis Bickle được xếp vào vị trí 30 trong danh sách Những nhân vật phản diện vĩ đại nhất trong 100 năm, còn bản thân bộ phim nằm trong danh sách 100 phim kinh dị hay nhất trong 100 năm của Viện Điện ảnh Mỹ. Phim cũng được lựa chọn để lưu trữ trong thư viện Quốc hội Mỹ, với tư cách là di sản văn hóa cho các thế hệ sau.

Các phim Sinh ngày 4-7, Trời và đất, Cuộc chiến trong gia đình nói về một dạng chung thường thấy của “ hội chứng VN”, đó là sự săn đuổi của quá khứ, sự dằn vặt về những tội ác mà mình đã gây ra. Nhân vật Ron (Sinh ngày 4-7), Steve (Trời và đất), Jeremy (Cuộc chiến trong gia đình) sau khi trở về nhà, về với cuộc sống đời thường đều có nỗi ám ảnh bởi những cảnh giết chóc, những lần ra tay tàn sát người già, trẻ em và những người dân thường VN vô tội trong cuộc chiến. Điều này như một cơn ác mộng khủng khiếp luôn đi theo họ từng ngày. Hậu quả là những trận cãi vã mà nguyên nhân là những người cựu binh Mỹ không nhận được sự cảm thông, thấu hiểu từ phía người thân trong gia đình. Bi kịch đến đỉnh điểm khi gia đình tan nát, những con người đang bị nỗi ân hận dày vò nay mang thêm sự đau đớn vì không còn chỗ dựa, họ trở nên cô độc. Có người tự chữa trị cho căn bệnh tâm lý của mình bằng cách tìm một mục đích sống, một hành động nào đó để có thể dũng cảm đối mặt với quá khứ, thừa nhận quá khứ và dần quên được quá khứ (nhân vật Michael, Ron và Jeremy), nhưng cũng có người tự giải thoát bằng con đường tự sát (nhân vật Steve), một cái chết bi thảm của một tâm hồn tội lỗi không thể thoát khỏi cơn ác mộng của mình.

Cái chết không phải là địa ngục, địa ngục chỉ thực sự bắt đầu khi người lính trở về nhà. Hội chứng chiến tranh Việt Nam đã khiến họ không hòa nhập được với cuộc sống bình thường, bị ám ảnh bởi cuộc chiến, về cái chết và cả những gì họ đã làm, họ mang tâm hồn bị tổn thương bởi chiến tranh. Những người lính Mỹ sau khi trở về mang một thân thể tàn tạ, ý chí mệt mỏi, mất lòng tin vào đất nước, sống không có mục đích. Họ rơi vào bế tắc với nỗi đau không thể bù đắp được. Cái chết về thể xác không đáng sợ bằng cái chết của tâm hồn, của lương tâm và ý chí. Và cho đến tận bây giờ, đề tài này vẫn đang được các nhà làm phim Mỹ tiếp tục khai thác.

Theo Trần Mai Khanh (VH)

Chiến tranh Việt Nam trong văn học Mỹ – từ sự thật đến tác phẩm

“HỘI CHỨNG CHIẾN TRANH VIỆT NAM”

Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là “Hội chứng Chiến tranh Việt Nam”.

Nhà báo, nhà văn Mỹ Jack Fletcher đã kể một câu chuyện về một lính Mỹ đã từng tham chiến ở Việt : anh ta đã bắn một bà cụ nông dân từ phía sau lưng, khi bà vừa bước ra từ ngôi nhà lợp bằng lá dừa của mình. Nhiều năm sau khi trở về nước, anh ta phải vào bệnh viện tâm thần dành cho các cựu chiến binh Mỹ. Đến tháng 10 năm 1982, anh ta đã tự sát bằng cách dùng dây nối với cò súng để viên đạn bắn vào sau lưng mình… Trong y học, hiện tượng đó được gọi là “hội chứng chấn thương thần kinh”.

Vào năm 1988, lần đầu tiên chính phủ Mỹ đã chính thức thừa nhận rằng 15% cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam trở về, nghĩa là khoảng 50 vạn người, vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng, mà nguyên nhân của căn bệnh đó là họ đã tham chiến ở Việt Nam. Các nhà xã hội học Mỹ đã khẳng định, trung bình mỗi ngày có ba cựu chiến binh tự sát bằng những cách thức ghê rợn. Nhiều người đã để lại những ghi chép về chiến tranh, về  quân đội và về những cơn ác mộng khủng khiếp từng ám ảnh họ. Điều đó chưa hề xảy ra sau chiến tranh thế giới thứ hai và cả sau cuộc chiến tranh Triều Tiên. Vậy cái gì ở cuộc chiến tranh Việt Nam cho đến nay vẫn đang làm nảy sinh bao nhiêu điều khủng khiếp, điên rồ như vậy? Câu trả lời thông thường là: cuộc chiến tranh này đã chà đạp lương tri, lẽ phải, nó đã xô đẩy những con người bình thường vào những hoàn cảnh phi lý, và sự điên rồ đã trở thành phản ứng bình thường đối với nó.

TỪ SỰ THẬT CHIẾN TRANH VIỆT NAM…

Người Mỹ đã chia thời gian thực hiện chiến tranh Việt Nam của họ thành 3 giai đoạn: 1. “Giai đoạn cố vấn” (1954-1965); 2. Giai đoạn: Chúng ta có thể chiến thắng không?” (1965-1968); 3. Giai đoạn “Chúng ta thoát ra như thế nào đây ?” (1968-1973). Cách chia này của họ tương ứng với cách chia trong lịch sử Việt Nam cũng gồm ba giai đoạn: “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Trong bài viết này, tôi không điểm lại sách lược của Nhà trắng và Lầu năm góc trong suốt cuộc chiến tranh. Sự thật của chiến tranh chỉ có thể tìm thấy ở chiến trường. Trong khoảng những năm từ 1965 đến 1972, Chính phủ Mỹ đã điều sang tham chiến ở Việt Nam chừng 5 triệu thanh niên Mỹ và thời hạn quân dịch của một người là 365 ngày. Chỉ có những người thanh niên Mỹ này, những ngươì trong cuộc, mới hiểu rõ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam hơn ai hết. Philip Capote, nguyên là lính thủy đánh bộ bổ sung sang Việt Nam đầu những năm 70, đã trả lời một cuộc phỏng vấn: … “Trước khi đặt chân lên đất Việt, chúng tôi được học một “cua” về văn hóa Việt Nam. Những gì nghe được đại để không ngoài mục đích để chúng tôi căm ghét đất nước này, căm ghét “Việt Cộng”. Phải bắn vào tất cả những gì khả nghi, tất cả những gì động đậy. Người ta dạy tôi tìm cách diệt Việt Cộng. Kết quả, suốt thời gian quân dịch ở Việt Nam tôi chưa hề bắt gặp một bóng dáng Việt Cộng nào, còn đơn vị của tôi bị thiệt hại khá nặng nề, trong số hàng chục nghìn lính Mỹ bị chết, tôi có 15 người bạn thân vĩnh viễn ra đi. Ngay trong thời gian ở Việt Nam một câu hỏi thường làm tôi mất ngủ: những người lính Mỹ chết vì cái gì, và nếu như Việt Cộng quả là xấu như người ta tuyên truyền thì tại sao họ lại được nhân dân che chở đùm bọc như vậy, mà nhân dân thì không thể xấu là không thể nhầm. Càng ngày cái “lý tưởng” mà chính phủ Mỹ đặt lên vai chúng tôi – lý tưởng “ngăn chặn cộng sản” càng là một tảng đá nặng nề và cuối cùng chỉ là sự bịp bợm. Người ta đã đánh tráo ngay ở chỗ mà tưởng như không thể dễ dàng đánh tráo, đó là sự đánh tráo niềm tin thiêng liêng của mỗi chúng tôi” (2).

Larry Rottman, nguyên là lính bộ binh sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới”, đã phát biểu: “… Tôi đến Việt Nam mà không hề biết một tí gì về đất nước này. Nói cho đúng ra tôi chỉ biết Việt Nam nhỏ như một bang của Mỹ. Nếu như trong chiến tranh con người có thể tìm thấy tình yêu, tình người, thì với tôi, ngay trong cuộc chiến tranh vô nhân đạo này, tôi đã tìm thấy nó. Tôi hiểu, chỉ có lăn lộn trong chiến tranh con người mới hiểu được lòng nhân hậu của con người. Điều đó cần thiết biết bao. Cũng như đi vào chiến tranh tôi hiểu kẻ thù thực sự của con người là sự ngu dốt… Bản thân những người lính Mỹ giết người thì họ cũng là những người ngu xuẩn, bởi vì không ngu xuẩn thì họ sẽ không giết người bao giờ, bởi nếu anh có sự hiểu biết thì anh sẽ đồng cảm với nỗi đau của người khác… Những năm chiến tranh, tôi có 23 người bạn bị giết, trong đó có một người bạn rất thân. Cho nên, cái chết như một nỗi kinh hoàng cứ ám ảnh tôi. Cháy, bom đạn, tên lửa, bụi bặm, bẩn thỉu, ẩm ướt, trì trệ, buồn chán, nỗi nhớ vợ và đáng sợ nhất là tất cả mọi người Việt Nam, kể cả trẻ con đều rất căm thù mình, đã làm tôi cực kỳ ghê tởm chiến tranh”(3).

Bộ sách nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam có tựa đề (4), đã phân tích cuộc chiến tranh này từ nhiều góc độ với quan điểm tương đối khách quan. Ở chương 78 của bộ NAM đã mô tả hiện tượng chống lại kỷ luật trong binh lính Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam như sau: “Ngay từ sau năm 1967, 60% cựu chiến binh, đa số là binh sĩ quân dịch, đã thú nhận họ đã chống lại cuộc chiến tranh này, hoặc không biết chiến đấu để làm gì. Cuộc chiến càng kéo dài, tinh thần binh sĩ càng xuống và ý muốn giữ mạng để về nước trở thành mối bận tâm chính của họ. Khẩu hiệu sau đây gây nhiều tiếng vang: “Đừng trở thành người cuối cùng chết tại Việt Nam”. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đóng góp thêm một thuật ngữ vào từ điển quân sự: fragging. Từ này lúc đầu mang ý nghĩa là dùng lựu đạn tự sát hại cấp trên, sau đó fragging còn chỉ mọi hành động sát hại cấp trên bằng mọi phương tiện. Fragging là “đỉnh cao của hiện tượng chống lại kỷ luật trong quân đội Mỹ tại Việt Nam: “Đã qua rồi thời kỳ mà người lính thủy nghiêm chào cấp trên. Giờ đây chẳng ai chào ai nữa, ăn mặc tùy thích. Muốn đội nón rừng cứ đội. Muốn xắn một tay áo, còn tay áo kia thả xuống, cứ việc, muốn để râu tha hồ. Chẳng ai làm phiền ai nữa. Các sĩ quan hiểu rằng nếu họ “láng cháng” với binh sĩ, có thể sẽ bị bắn một viên đạn vào đầu. Đây là chuyện xảy ra thường ngày trong các đơn vị bộ binh. Những hành vi vô kỷ luật đó đã dẫn đến hiện tượng fragging. Cách đơn giản nhất để xử lý một viên sĩ quan ưa hành hạ cấp dưới hay ưa thí quân là “khử” hắn ngoài mặt trận. Có hai cách fragging và mỗi cách có những bước khác nhau. Trong cách thứ nhất, viên sĩ quan bị nhắm đến còn cơ cơ hội để “phục thiện”. Đầu tiên là ném một quả lựu đạn khói vào trong hố cá nhân của hắn. Nếu hắn vẫn chưa đổi tính, sẽ bị một quả lựu đạn cay. Nếu lời cảnh cáo này không được “tiêu hóa”, cái chết sẽ đến với hắn tại bất cứ đâu. Còn cách thứ hai, chỉ có hạ sát mà không cần cảnh cáo…”.

… ĐẾN TÁC PHẨM VĂN HỌC

Trong văn học, vào những năm đầu của thập kỷ 1960, chiến tranh Việt Nam bắt đầu gợi sự chú ý của các nhà văn Mỹ. Đến thập kỷ 1970 thì nó đã trở thành một đề tài nóng bỏng trong văn học, và cho đến hôm nay đề tài này vẫn còn lôi cuốn nhiều người cầm bút ở Mỹ. Tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam hết sức phong phú và đa dạng. Về thơ và truyện ngắn thì chưa ai thống kê được hết, còn riêng tiểu thuyết thì có hơn 500 cuốn đã được xuất bản, ngoài ra còn có các thể loại khác như : phóng sự, ký, hồi ký… với các sắc thái, giọng điệu rất khác nhau.

Những người viết về chiến tranh Việt Nam có hai dạng. Một là, những nhà văn chuyên nghiệp (trong số này có nhiều người viết theo đơn đặt hàng của quân đội); hai là, những người lính trực tiếp viết về cuộc chiến tranh mà họ tham gia. Ở những người viết thuộc dạng thứ hai này, tác phẩm của họ có cái được viết ngay trong chiến tranh (chủ yếu là thơ, nhật ký…), còn phần lớn là được viết sau chiến tranh. Những tác phẩm được viết sau chiến tranh, ngoài một số lượng thơ rất phong phú, thì tiểu thuyết là một hình thức phát triển hơn cả. Tiểu thuyết có một vị trí quyết định, nó ảnh hưởng một cách sâu sắc nhất, cơ bản nhất, nhạy bén nhất sự chuyển biến của hiện thực chiến tranh. Với một hệ chủ đề hết sức đa dạng và cơ bản, tiểu thuyết đã lưu giữ và làm sống lại bộ mặt thật của chiến tranh Việt Nam với nhiều tầng phản ánh cực kỳ sinh động. Nó thực sự là tiếng nói đa nghĩa về đất nước, văn hóa và ý thức con người Mỹ trong cuộc chiến tranh này. Trong hơn 500 tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam, theo Fletcher (5) thì hơn 300 cuốn là loại văn chương lá cải và đầy bạo lực. Nhận xét về loại văn chương này, Fletcher viết: “Những cựu chiến binh mà tôi quen biết không ưa những cuốn tiểu thuyết tầm thường này về Việt Nam với lý do là, Việt Cộng trong những cuốn tiểu thuyết ấy luôn được miêu tả như những kẻ cuồng tín, vụng về và thiếu lòng dũng cảm. Rambo và những nhân vật trong phim và truyện mà người ta dựng lên dường như đánh nhau với Việt Cộng và thắng họ thật dễ dàng. Nhưng trên thực tế là vô cùng khó khăn và chúng ta đã thất bại”. Khảo sát những tác phẩm nghiêm túc viết về chiến tranh Việt Nam , tôi dựa vào trục thời gian – chủ yếu là thời gian sự kiện – để làm rõ một số nội dung chính của mảng văn học này. Ở bộ phận tiểu thuyết chiến tranh, người lính là hình tượng trung tâm. Họ được đặt vào trung tâm các sự kiện, biến cố, là điểm xoắn của các mâu thuẫn. Tính cách người lính được soi rọi từ nhiều góc độ: tâm lý và hành động, văn hóa và chính trị, danh dự và nạn phân biệt chủng tộc, ý thức và vô thức, khoa học và lương tâm… Toàn bộ các vấn đề đó, sự vận động nhận thức về chúng đều gắn liền với sự vận động thời gian (thời gian trong cuộc chiến tranh và thời gian sau cuộc chiến tranh). Căn cứ vào trục thời gian, ta nhận thấy có hai kiểu cấu trúc hình tượng : thứ nhất là loại hình tượng được đặt ở thì hiện tại (trong chiến tranh ở Việt Nam hoặc sau chiến tranh ở Mỹ); thứ hai là loại hình tượng được xây dựng đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Ở kiểu hình tượng thứ hai này thủ pháp đồng hiện thời gian giữ vai trò quan trọng…

Ngay từ giai đoạn thứ nhất của cuộc chiến tranh, có những nhà văn đã “nhìn xa trông rộng”, sớm thấy được nguy cơ của việc can thiệp sâu vào Việt Nam, và đã gián tiếp phản đối chiến tranh. Nhà văn David Halbatstam là một trường hợp tiêu biểu. Tiểu thuyết Một ngày nắng gắt (1968) của ông đã chiếm một vị trí nổi bật trong dòng văn học Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam. Đứng ở trung tâm tiểu thuyết là hai cố vấn Mỹ – đại úy Bob và trung úy Anderson . Tòan bộ tác phẩm “tóat lên sự kinh ngạc và căm phẫn (một cách kín đáo) trước tính cách tàn bạo và vô nghĩa lý của tất cả những việc đang diễn ra”. Từ trang đầu tiên đến trang cuối của Một ngày nắng gắt, Bob luôn bị ám ảnh bởi cảm giác rằng trong cuộc chiến tranh này, chính nghĩa không thuộc về quân đội Mỹ. Cảnh cuối tiểu thuyết có ý nghĩa tượng trưng, đại úy Bob thoát chết trong cuộc càn quét, vác trên vai xác trung úy Anderson. Một chủ đề khác của văn học giai đoạn này là giới chóp bu của chính quyền Sài Gòn đã bắt đầu làm tha hóa người Mỹ như thế nào. Tiểu thuyết Người đàn ông đảo Corse (1983) của nhà văn Keffernel đã mô tả một quá trình một sĩ quan Mỹ tham gia vào việc buôn bán ma túy và đồng ý chuyển heroin về Mỹ bằng cách dùng các quan tài để chứa. Tiểu thuyết Thành công riêng của đại úy Peter Rossille (1983) của F. Woodray nói về sự hoang mang “không hiểu ai là kẻ thù thực sự” của một bộ phận sĩ quan cố vấn Mỹ.

Trong giai đoạn hai của cuộc chiến tranh (1965-1968), nằm ở trung tâm phản ánh của tiểu thuyết là những  người lính thường. Fletcher đã nhận xét: “Cũng như những tiểu thuyết Mỹ viết về chiến tranh thế giới lần thứ hai, tiểu thuyết về Việt Nam cho thấy rằng, những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Mỹ và thậm chí những vấn đề đáng nguyền rủa của đời sống mà nói chung bất kỳ người nào chạm phải đều có thể tìm thấy được trong bức tranh thu nhỏ của mối quan hệ qua lại giữa binh lính của bất kỳ tiểu đội, trung đội hay đại đội nào” (6). Tuy mỗi cuốn tiểu thuyết giải thích những sự kiện chính trị từ một góc độ hơi khác nhau một chút, nhưng tổng thể của chúng đã tạo thành sự hoàn chỉnh về chiến tranh Việt Nam với tất cả chủ đề. Tiểu thuyết Commados Sài Gòn (1983) của J. Kelville kể lại đời sống chiến tranh của lực lượng quân cảnh Mỹ ở nội thành. Tiểu thuyết Tất cả những thứ chúng ta có (1981) A. Skelltole đã tập hợp tất cả các câu chuyện của 33 người lính và những ngày tháng địa ngục của họ ở Việt Nam. Tiểu thuyết Máy bay khu trục (1983) của R. Marson kể lại câu chuyện người phi công chở lính Mỹ tới trận địa và lại chở về căn cứ chính những người ấy nhưng đã bị thương hoặc là những xác chết. Tiểu thuyết Những cánh đồng bốc cháy (1978) của J. Weeffer đi sâu vào phân tích tâm lý những người lính bị thương trong chiến đấu. Tiểu thuyết Đơn vị xạ kích (1975) của J. Kranzer và Anh em trai: Những người lính da đen ở Việt Nam (1982) của S. Gowffer nói về số phận người lính da đen ở Việt Nam và nạn phân biệt chủng tộc trong quân đội Mỹ. Tiểu thuyết Đếm xác (1973) của W. Hughet mô tả những nỗi kinh hoàng của chiến tranh ở vùng Khe Sanh, Huế, Đà Nẵng… sự khủng khiếp của chiến tranh và sự hòai nghi tột cùng của người lính là những chủ đề nổi bật nhất của tiểu thuyết giai đoạn này. Trong từng cuốn tiểu thuyết, cuộc chiến tranh diễn ra (xuất hiện) trong giây lát, trong tiếng nổ của một quả mìn, những tràng đạn của súng tiểu liên AK, tiếng rít của súng cối, tiếng thình thịch của những chiếc xẻng… gây tác động mạnh và những tiếng kêu thét của người lính Mỹ bị thổi thành từng mảnh, bị thương cụt chân, cụt tay, đang chảy máu và chết. Chiến tranh phả vào con người như hơi nóng của bom đạn, nỗi đau đớn của những người chết, đều được mô tả sinh động trong các cuốn tiểu thuyết, nó “rất thực và sống động, vượt xa hẳn bất kỳ chương trình vô tuyến nào đã phát trong thời gian chiến tranh (7). Chiến tranh Việt Nam, đó là “cơn ác mộng đa tầng” cắm vào đầu những người lính.

Cuộc chiến tranh càng kéo dài, mức độ ác liệt và nặng nề của nó càng làm suy nhược đời sống tinh thần của người lính. Thực tế chiến tranh còn vượt xa hư cấu văn học, những sự việc có thật đã vượt quá trí tưởãng tượng của con người. Sự điên rồ thật sự của chiến tranh được thể hịên cả trong cuộc sống, trong văn học. Tiểu thuyết ở giai đoạn thứ ba ở cuộc chiến tranh (1968-1973) đã đặc biệt chú ý đến thể hiện tinh thần thảm bại của binh lính Mỹ. Theo sách NAM đến năm 1968, tỷ lệ đào ngũ trong quân đội Mỹ tại Việt Nam thấp hơn so với các cuộc chiến tranh trước. Song, qua đến năm 1969 con số đào ngũ tăng gấp 4 lần. Những binh sĩ thừa lúc đi phép tại Sài Gòn, Hồng Kông, Tokyo… đã biến mất, để rồi sau đó xuất hiện tại , Thụy Điển hay Thái Lan. Người ta phân biệt hai kiểu đào ngũ: đào ngũ thực sự và “đào ngũ mà không bỏ ngũ”- tức vắng mặt mà không lý do mỗi khi được lệnh ra trận (AVOL, Absence without leave). Năm 1967, tỷ lệ đào ngũ là 2,1% và AVOL là 7,8%; năm 1969 tỷ lệ đào ngũ là 4,2% và AVOL là 11,23%, năm 1971 tỷ lệ đào ngũ là 7,4% và AVOL là 17,4%. Cũng sau năm  1968, binh sĩ bắt đầu công khai dùng ma túy. Viên sĩ quan nào dám nói về chuyện này thì bị đe dọa, thậm chí bị giết. Tiểu thuyết Bông hoa của con rồng (1972) của R. Boille viết về những vụ giết sĩ quan và nổi loạn trong quân đội. Cuốn Kết liễu cuộc đời (1968) của Michell đã đi sâu hơn nữa vào những nổi loạn của rất nhiều binh lính Mỹ ở Việt Nam. Các tiểu thuyết Những điều sửa đổi – 22 (1969) của D. Keller, Chiếc giường tre (1969) của Yalker và Trung tâm Kachiater (1975) của T. Brael đã miêu tả những hành vi kỳ quặc của người lính. Những người lính, kẻ thì thu mình lại, kẻ thì hóa điên. Và ở một nơi như Việt Nam, thì không phân biệt được và cũng không ai hiểu được là anh ta bị điên hay không.

“MẢNH ĐẠN CÒN GĂM TRONG TIM”

Kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, rất nhiều cuốn tiểu thuyết viết về nhưng cơn ác mộng riêng tư của những cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam đã được phát hành. Đây là thời gian họ nhớ lại, cảm xúc lại những ngày ở Việt Nam. “Họ là sự phản ánh hy vọng của một nền văn hóa Mỹ với sự sợ hãi sâu lắng, và sự ghi nhận chắc chắn, xác thực về đời sống nước Mỹ hiện đại. Họ là những gương mặt, những hồi tưởng, kỷ niệm trong nghệ thuật và lịch sử về một dân tộc tự nhận thức về mình”(8).

Những người lính trở về nhận ra rằng họ bị lừa dối, họ là nạn nhân của cuộc chiến tranh tàn khốc mà chính phủ Mỹ đã đẩy họ vào. Họ sống trong sự hối hận và cay đắng, lương tâm bị cắn rứt và mọi giá trị đạo đức đều bị sụp đổ. Nhà văn S. Freedman đã viết: “Trong các loại hình nghệ thuật, phản ánh đời thường của cựu chiến binh, phần lớn họ: là những con người sống sót đã chiến đấu trong cảnh tồi tệ và trở về sống trong một nước Mỹ kinh hoàng”. Trong phần lớn tiểu thuyết, họ đều có số phận bi đát, chết mòn vì sự suy sụp thần kinh ngay giữa những người thân. Tiểu thuyết Những năm tháng đẹp nhất của chúng ta của H. Russell, Sinh ngày 4 tháng 7 của John Cowike nói về những thanh niên bị chiến tranh làm tàn phế và sự căm phẫn của họ đối với chính phủ Mỹ. Nhân vật Robert Muller cay đắng thừa nhận: “Tôi đã mất 3/4 thân thể. Tất cả những gì đối với tôi, với bọn tôi đều vô nghĩa” (Sinh ngày 4 tháng 7). Cùng âm hưởng như vậy, tiểu thuyết Từ địa ngục trở về của A. Murthy và tiểu thuyết Người anh hùng có một trăm gương mặt của J. Cambell là những suy nghĩ về sự vô nghĩa, sự bất lực của cuộc chiến tranh Việt Nam. Tiểu thuyết Câu chuyện Pacô (Giải thưởng quốc gia Mỹ năm 1987) của Larry Heneman là một sự hài hước, buồn thảm và nặng nề về số phận những người lính Mỹ ở Việt Nam. Tiểu thuyết Máu Mỹ của John Nicholair đã lên án sự tàn bạo của cuộc chiến tranh, “nước Mỹ là tên sát nhân của thế giới, là cái chợ bán thịt của trần gian”.

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt từ lâu, nhưng đối với những cựu chiến binh Mỹ “mảnh đạn còn găm trong tim”. Văn học viết về chiến tranh Việt Nam là viết về những mất máu đau thương, những bi kịch của con người trong và sau chiến tranh, để cho người dân Mỹ biết cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh dã man và vô nghĩa. Văn học viết về chiến tranh chính là nói về “Người Mỹ tìm ra chính bản thân mình”, đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh “người Mỹ phải sống như thế nào và đừng để xảy ra một cuộc chiến tranh nào giống như ở Việt Nam nữa”.

Theo NGUYỄN HỒNG DŨNG (Tạp chí Sông Hương)

———————————
(1), (5), (6). Jack Fletcher đã từng có mặt tại Việt những năm 1964-1965. Tư liệu sử dụng trong bài viết được rút từ Việt và Apganixtan : cuộc sống và văn học, in trong Cái mới trong khoa xã hội, Viện thông tin KHXH, số 17-1991.
(2), (3). Tạp chí Văn nghệ quân đội. Tháng 12-1990.
(4). là từ Việt gọi tắt của lính Mỹ ở Việt Nam. Họ gọi những gì có ở xung quanh va mọi việc xảy đến với họ là “NAM”, còn tất cả những gì thuộc không gian và thời gian khác họ gọi là “Miền đất lớn”. Những trích dẫn trong bài viết được rút ra từ bài in trên báo
Thanh niên, phát hành ngày 16.11.1997, Danh Đức dịch.
(7). Shackler. Các cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt viết về những cơn ác mộng của họ. Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 5-1991.
(8). Lê Đình Cúc. Cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt và một số tiểu thuyết Mỹ gần đây. Tạp chí Văn học, số 5-1991.

Nanci Griffith – Nỗi ám ảnh của cuộc Chiến tranh Việt Nam

chien tranh viet nam

Bốn năm sau khi album Clock without hands được giới phê bình đánh giá cao, tháng 2.2005 vừa qua, Nanci Griffith đã chính thức trở lại với một đĩa nhạc mới mang tên Hearts in mind (Những trái tim trong tâm hồn).

Thật đáng ngạc nhiên, cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc từ 30 năm trước vẫn hằn nguyên dấu ấn bi thương trong tâm tư của nữ nghệ sĩ folk pop tài hoa người Mỹ này. Không hề tham gia vào bất cứ cuộc chiến nào nhưng Nanci Griffith cứ khắc khoải vì vết thương chiến tranh bởi vì Eric Taylor, một nghệ sĩ nhạc folk, chồng cô trước đây là một cựu binh Mỹ bị rối loạn và suy sụp tinh thần vì hội chứng chiến tranh Việt Nam.

Album mới của cô, với 14 ca khúc, trong đó có 8 bài hoặc do cô sáng tác hoặc đồng sáng tác, là một đĩa nhạc phản chiến dành cho vong hồn của “từng người lính và từng người dân lành đã thiệt mạng trong sự kinh hoàng của chiến tranh”.

Những sáng tác mới của Nanci Griffith, từ Old Hanoi (Hà Nội cổ, thực sự ru lòng người tìm đến cái đẹp cổ của Hà Nội với âm thanh guitar thùng) đến Heart of Indochine (Trái tim của Đông dương) là dấu chỉ về sự tiếp tục vùi mình vào những nỗ lực hàn gắn vết thương tinh thần gây ra bởi cuộc chiến. “Heart of Indochine nói về hoà bình ở Việt Nam, một điều chúng ta đã có lúc tưởng sẽ không bao giờ có được”, Nanci Griffith nói. Cô đã nhiều lần bay sang Việt Nam, đại diện cho Hội Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam và Chiến dịch vì một thế giới không mìn sát thương. “Tôi hy vọng sẽ không phải mất 30 năm để có một ca khúc mừng hoà bình thực thụ đã đạt được ở Iraq”.       Big blue ball of war (Quả cầu xanh to chiến tranh) là một ca khúc phản chiến khác còn Before là bài “nhấn mạnh đến những sai lầm của chính quyền Mỹ khi gây chiến tranh mới ở Iraq,” cô giải thích. “Vì cuộc chiến mới này mà chúng ta, những người Mỹ, lại phải sống trong lo sợ, hoang mang hàng ngày”.

Griffith cho rằng nay không còn là thời điểm giữ im lặng nữa, nhưng theo cô Hearts in mind không chỉ là đĩa nhạc liên quan đến chiến tranh, vì còn có những bài ca yêu đời, yêu người, chẳng hạn như  bài mang âm hưởng jazz Beautiful .

Ngoài ban nhạc thuỷ chung với cô từ rất lâu là The Blue Moon Orchestra ra, đĩa Hearts in mind còn có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ khác, chẳng hạn như Mac MacAnally (Rise to the occasion), Jimmy Buffet (bài nghe rất rộn ràng, nặng âm hưởng nhạc Nam Mỹ, I love this town), Keith Carradine (Our very own, là ca khúc chính của phim sẽ chiếu trong năm 2005 do anh thủ vai chính).

Hearts in mind là album ghi âm studio thứ 15 trong sự nghiệp sáng tác gần 30 năm của Nanci Griffith. Những album xuất sắc khác của cô gồm: The last of the true believers;  Other voices, other rooms (đoạt giải Grammy 1994 Album folk đương đại xuất sắc nhất); One fair summer evening; Once in a Very Blue Moon;  Other voices, too (A trip back to bountiful); Winter marquee…

Vân Anh (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Hội chứng chiến tranh Việt Nam, cơn ác mộng vẫn còn ám ảnh Hoa Kỳ

Không có những biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, niềm vinh quang, lòng yêu nước hay bài học đạo đức thường thấy ở các đài tưởng niệm chiến tranh, Bức tường Chiến tranh Việt Nam chỉ là ký ức buồn đau của quá nhiều người Mỹ thời trai trẻ…

Phần lớn người Mỹ muốn nói hoặc đề cập tới một cuộc chiến lâu dài và tổn thất nhất của đất nước họ – cuộc chiến duy nhất mà Mỹ thất bại.

Kết quả là đầu những năm 1980, cuộc chiến ấy tạo ra một làn sóng thu hút: Hollywood, mạng lưới truyền hình, ngành công nghiệp âm nhạc hướng tới Việt Nam như một “điểm đến văn hoá”, các học giả, phóng viên, những cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam thì tung ra hàng loạt ấn phẩm về cuộc xung đột, đặc biệt là những tâm điểm các bài học và hậu quả để lại.

Rất nhiều người cho rằng, cuộc chiến ấy đã làm tổn hại tới quan điểm, thể chế và chính sách đối ngoại của Mỹ. George R. Kennan mô tả, Chiến tranh Việt Nam “là tai họa tồi tệ nhất với mọi công việc mà Mỹ đảm nhận trong suốt 200 năm lịch sử”.

Thất bại trong cuộc chiến, ảnh hưởng kinh tế do những khoản chiến phí khổng lồ (nhiều người ước tính là 167 tỉ USD) đã khiến cho nước Mỹ lâm vào tình trạng lạm phát hai con số, nợ liên bang tăng vọt, kinh tế và mức sống sụt giảm trong giai đoạn dài từ cuối những năm 1960 tới 1990.

Mỹ cũng phải trả giá đắt về chính trị cho Chiến tranh Việt Nam. Đó là lòng tin của người dân vào chính phủ giảm sút. Họ thấy hồ nghi về sự chân thực và năng lực của những người lãnh đạo.

Thực tế là, sau cuộc chiến, ngày càng có nhiều người Mỹ hoài nghi và bất tín với chính quyền. Quân đội “mang tai tiếng” trong nhiều năm. Một điều chưa từng có trước đây: Nước Mỹ sau Chiến tranh Việt Nam không có sự tôn trọng hay tin tưởng của các tổ chức công chúng.

Họ lo lắng với lời kêu gọi của các quan chức trong việc can thiệp tại nước ngoài với ngọn cờ dân chủ, tự do. Lưỡng đảng thì nhất trí rằng, chính sách ngoại giao của Mỹ được ủng hộ từ những năm 1940 đã tan rã.

Phe đa số của đảng Dân chủ trong Quốc hội Mỹ năm 1973 còn ban hành nghị quyết Quyền quyết định chiến tranh, trong đó không cho phép tổng thống gửi quân đội ra nước ngoài chiến đấu hơn 90 ngày mà không có sự chấp thuận của quốc hội. Quan ngại bị sa lầy khiến nhiều người Mỹ tỏ ra miễn cưỡng với chính sách can thiệp quân sự tại các nước thuộc Thế giới thứ ba.

Khuynh hướng “tự cô lập mới” mà cựu Tổng thống Richard M. Nixon từng gọi là “Hội chứng Việt Nam” trở nên rõ ràng hơn trong những cuộc tranh cãi công khai về các chính sách can thiệp của Ronald Reagan tại Nicaragua và quyết định của George Bush cha với lực lượng Iraq tại Kuwait.

Mặc dù chiến thắng trong Chiến tranh vùng Vịnh thuộc về Mỹ và đồng minh, nhưng lo ngại về chính sách can thiệp lại xuất hiện trong những lần tranh cãi về cam kết điều động lực lượng gìn giữ hoà bình Mỹ của cựu Tổng thống Bill Clinton tại Somalia và Bosnia.

Rõ ràng là, hàng chục năm trôi qua khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, xung đột tiếp tục phủ bóng đen lên tâm trí nhiều người Mỹ. Và những nhà hoạch định chính sách ngoại giao cùng nhất trí nhiều điều rõ ràng là: Mỹ chỉ nên sử dụng vũ lực như một phương sách cuối cùng; chỉ khi lợi ích quốc gia rõ ràng liên quan; chỉ khi có sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân và chỉ khi có khả năng giành chiến thắng nhanh chóng, ít tốn kém.

Cuối cùng, còn một thực tế khác nổi lên. Người ta biết rõ điều ấy với sự trở về của các cựu chiến binh. Mỹ có vẻ lảng tránh với thực tế hơn 2 triệu người đã tới Việt Nam; 1,6 triệu người trực tiếp tham chiến; 300.000 người bị thương, rất nhiều người gặp các vấn đề tâm lý; 2.387 người trong danh sách mất tích và hơn 58.000 người chết.

Thực tế, hầu như chính phủ Mỹ không làm gì để hỗ trợ các cựu chiến binh cùng gia đình của họ. Sau đó là sự xuất hiện của hàng loạt tác phẩm, phim ảnh, chương trình truyền hình mô tả cuộc sống của cựu binh Mỹ, những ký ức tồi tệ họ trải qua, chứng loạn thần họ gánh chịu khi tham chiến ở Việt Nam và cả khi đã trở về nhà.

Nhiều người đã nhắc tới khái niệm, các cựu binh tham chiến ở Việt Nam là nạn nhân của cuộc chiến. Cho dù nhiều cựu binh đã thành công khi trở lại cuộc sống của những người dân bình thường, nhưng rất nhiều người thất bại.

Sau chiến tranh, nhiều cựu binh Mỹ tự sát hơn số người bỏ mạng trong chiến tranh. Có lẽ hơn ¾ trong số một triệu người trở thành vô gia cư hoặc thất nghiệp. Gần 700.000 lính quân dịch, rất nhiều người xuất thân nghèo khó, giáo dục thấp không được hưởng trợ cấp xứng đáng. Họ rất khó khăn khi tìm kiếm việc làm, duy trì các quan hệ gia đình…Bản thân phải chịu đựng bệnh tật vì các loại hóa chất quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh như chất da cam hoặc mắc hội chứng rối loạn tâm lý sau chấn thương…

Dù có giảm hơn, nhưng ám ảnh Chiến tranh Việt Nam tiếp tục hằn sâu vào tâm lý người Mỹ. Trở lại năm 1988, bạn đồng hành tranh cử của Bush là Dan Quayle đã phải bảo vệ danh tiếng trước những thông tin được tiết lộ rằng, ông đã từng dùng những quan hệ chính trị của gia đình để vào Lực lượng phòng vệ quốc gia Indiana năm 1969, nhằm tránh chế độ quân dịch và khả năng phải thực hiện nhiệm vụ tại Việt Nam.

4 năm sau, Bill Clinton, ứng viên đảng Dân chủ tranh cử tổng thống, lại đối mặt với cáo buộc, ông đã tránh quân dịch và sau đó tổ chức cuộc biểu tình phản chiến năm 1969 khi theo theo học ở Anh. Mỗi ví dụ đều nhắc nhở người Mỹ về sự chọn lựa khó khăn của thanh niên Mỹ với một cuộc chiến mà rất nhiều người xem là “mơ hồ về đạo đức”.

Người ta có thể gặp lại những ký ức nhức nhối khi tới thăm Bức tường Chiến tranh Việt Nam tại Washington DC – một trong những địa điểm thu hút nhiều du khách nhất khi tới thủ đô của Mỹ. Chỉ cao so với mặt đất vài mét, bức tường dài 75m gồm 72 tấm đá hoa cương đen quý hiếm ghép lại, tấm thấp nhất 20cm, cao nhất 3m, được đánh số thứ tự rất khoa học. Họ tên của hơn 58.000 lính Mỹ tử trận tại cuộc chiến tranh Việt Nam được khắc lên đá hoa cương.

Không có những biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, niềm vinh quang, lòng yêu nước hay bài học đạo đức thường thấy ở các đài tưởng niệm chiến tranh, Bức tường Chiến tranh Việt Nam chỉ là ký ức buồn đau của quá nhiều người Mỹ thời trai trẻ…

Theo Modern American Poetry /  Vietnamnet

Một lính Mỹ sống trong núi rừng Tây Bắc suốt 45 năm qua

Bộ phim tài liệu “Unclaimed” kể câu chuyện về một cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam. Trung sĩ John Hartley Robertson được khẳng định là đã chết vào năm 1968 nhưng suốt 45 năm qua, ông đã sống như một người Việt bản địa trong núi rừng Tây Bắc.

Trung sĩ John Hartley Robertson thuộc lực lượng đặc nhiệm mũ nồi xanh. Sau khi sống gần 45 năm trong núi rừng Tây Bắc Việt Nam, ông đã quên mất thứ ngôn ngữ từng được coi là tiếng mẹ đẻ của mình – tiếng Anh.

Khi cuộc chiến tranh tại Việt Nam kết thúc, ông Robertson vẫn ở lại núi rừng Tây Bắc Việt Nam, không trở về Mỹ. Sau nhiều năm, khả năng nói tiếng Anh của ông gần như đã mất nhưng trong ký ức, ông vẫn biết mình sinh ra ở bang Alabama. Chiếc máy bay do ông lái bị bắn hạ trên địa phận Lào trong quá trình ông đang thực hiện một nhiệm vụ bí mật được giao vào năm 1968. Khi còn ở Mỹ ông đã lập gia đình và có con nhỏ.

Nhà làm phim Michael Jorgensen trong bộ phim tài liệu mang tên “Unclaimed” (tạm dịch: Không đòi hỏi) đã ghi lại hình ảnh trung sĩ Robertson năm xưa – giờ đây đã là một cụ già 76 tuổi, lưng hơi còng nhưng vẫn rắn chắc và khỏe mạnh. Ông Robertson sống trong một bản làng xa xôi ở miền rừng núi Tây Bắc. Ông không còn nhớ nổi ngày sinh của mình hay tên của những đứa con đang sống ở Mỹ. Ông chỉ còn nói được tiếng Việt.

“Unclaimed” sẽ được công chiếu tại Liên hoan phim tài liệu ở Toronto đúng ngày 30/4 này.

Trung sĩ John Hartley Robertson năm xưa
Trung sĩ John Hartley Robertson năm xưa

Ông Robertson nhớ lại máy bay của ông đã bị quân du kích bắn rơi ở khu vực núi rừng phía Bắc Việt Nam, sau đó họ đã bắt gọn ông. Một nữ y tá người Việt Nam đã chăm sóc cho ông khi bị thương, sau khi lành lại, ông được thả ra, Robertson quyết định kết hôn với cô nữ y tá và bắt đầu gây dựng cuộc sống gia đình tại Việt Nam.

Đạo diễn Jorgensen đã gặp phải rất nhiều cản trở trong quá trình thực hiện bộ phim này, đặc biệt trong việc liên hệ với gia đình cựu binh Robertson.

“Unclaimed” được sản xuất sau khi một cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam – ông Tom Faunce trong một chuyến hoạt động tình nguyện của mình ở khu vực Đông Nam Á hồi năm 2008 đã tình cờ được nghe kể câu chuyện về trung sĩ John Hartley Robertson – một người anh em trên chiến trường của ông năm xưa. Trước đó, ông Faunce vẫn đinh ninh rằng Robertson đã tử trận.

Ông Faunce đã lặn lội đi tìm Trung sĩ John Hartley Robertson năm xưa, ông quyết định phải làm gì đó để giúp đỡ người đàn ông đã bị lãng quên trong suốt thời gian qua.

“Khi nghe kể câu chuyện về một cựu binh Mỹ vẫn còn sống trong rừng già Tây Bắc Việt Nam, Faunce đã tới tìm gặp Robertson. Dù ban đầu rất nghi ngờ, nhưng sau khi gặp mặt, Faunce đã khẳng định đây chính là người đồng đội của mình năm xưa”, nhà làm phim Jorgensen kể lại.

Câu chuyện về Trung sĩ Robertson thật khó tin. Chính Jorgensen thoạt tiên cũng không tin khi Faunce liên lạc với ông vào năm 2012 để thuyết phục ông làm một bộ phim tài liệu về Robertson với hy vọng giúp Robertson được đoàn tụ với gia đình ở Mỹ.

Robertson đã được mời tới Đại sứ quán Mỹ để lấy dấu vân tay từ năm 2010. Faunce sau đó nhận được kết luận rằng: “Không có đủ chứng cứ để chứng minh đây là John Hartley Robertson”. Faunce liền hồi đáp lại: “Các ông cũng không có đủ chứng cứ để chứng minh đây không phải là anh John Hartley Robertson”.

Ông John Hartley Robertson và đồng đội cũ - Tom Faunce
Ông John Hartley Robertson và đồng đội cũ – Tom Faunce

“Unclaimed” là một bộ phim tài liệu thuyết phục. Bản thân đoàn làm phim đã đưa ra những bằng chứng xác thực về nơi sinh của Robertson, bộ quân phục còn lưu lại, cuộc gặp xúc động giữa Robertson và một người lính từng do ông huấn luyện vào năm 1960, cuộc đoàn viên giữa Robertson và người chị gái duy nhất còn sống của ông – bà Jean Robertson-Holly năm nay 80 tuổi… Phim đã khiến những khán giả được xem tại buổi chiếu thử nghiệm ở Toronto phải lau nước mắt.

Bà Jean – chị gái của Robertson nói: “Không nghi ngờ gì nữa. Tôi chắc chắn đó chính là em trai tôi. Tôi đã dám chắc điều đó từ khi xem đoạn băng ghi hình nhưng khi tới tận nơi để gặp, tôi đã có thể khẳng định đó chính là em trai tôi”.

Về việc thử DNA, bà Jean nói rằng điều đó là không cần thiết vì cảm nhận của bà đã nói lên tất cả. Về phần vợ con của Robertson tại Mỹ, ban đầu họ đồng ý làm kiểm tra DNA nhưng sau đó lại bất ngờ từ chối.

Đạo diễn Jorgensen cho rằng: “Có lẽ con gái của Robertson không muốn biết liệu đó có phải cha của chúng hay không. Đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa bị phản đối, vả lại, cũng đã quá lâu rồi. Tất cả chúng ta đều muốn mọi chuyện trôi đi êm đẹp. Tôi không biết nữa. Điều gì khiến những đứa con không muốn biết liệu đây có phải cha đẻ của chúng hay không?”

Anh Hugh Tran, một cảnh sát người Mỹ gốc Việt đã cùng với đoàn làm phim tới Việt Nam để làm vai trò thông dịch viên. Anh nhận định Robertson phát âm như một người Việt bản địa và không có bất cứ một dấu hiệu nào cho thấy Robertson là người nước ngoài nếu không nhìn thấy dáng vóc, khuôn mặt ông.

Jorgensen cho biết: “Ký ức đôi khi vẫn bất ngờ hiện ra trong đầu Robertson. Ví dụ như khi ông đoàn tụ với chị gái Jean của mình, ông đã quay ra nói với anh rể Henry – A, tôi nhớ rồi, ông làm việc trong một hiệu thuốc.”

Về phần Robertson, ông quyết định sống tại Việt Nam và không trở về Mỹ. Ông chỉ có một mong muốn duy nhất là được gặp lại những người thân trong gia đình ông ở Mỹ – gồm vợ và các con gái một lần cuối trước khi ông qua đời.

Bích Ngọc
Theo Dân Trí & The Star

Những cuốn sách chấn động nước Mỹ về chiến tranh Việt Nam

Cuốn sách Những thứ họ mang (The Things They Carry) của nhà văn người Mỹ Tim O’brien đang gây chú ý lớn trong thời gian gần đây khi nhiều người phản ứng với những từ ngữ tục, không chuẩn trong bản dịch tiếng Việt. Tuy nhiên, vượt lên trên những lùm xùm thì đây vẫn là một trong những tác phẩm giá trị nhất của các tác giả Mỹ về chiến tranh Việt Nam.

Được viết bởi cựu binh từng tham chiến ở Sơn Mỹ, “Những thứ họ mang” là tuyển tập 22 câu chuyện nhỏ xảy ra từ trước, trong và sau cuộc chiến. Với lối trình bày kết hợp giữa thực tế và trí tưởng tượng, vừa là hồi ức của tác giả, vừa là trải nghiệm chiến tranh nhằm nói lên hậu quả tinh thần nặng nề đè nặng lên tâm hồn người trong cuộc. Người kể chuyện trong “Những thứ họ mang” đó giết chết một anh lính và cứ tự hỏi người đó là người thế nào. Trong khi các đồng ngũ vui mừng thì anh ta vẫn day dứt với ý nghĩ là mình đã cướp đi mạng sống của một con người.

“Những thứ họ mang” là cuốn sách thứ ba viết trên những trải nghiệm sau một năm tham chiến (1969-1970) thuộc đại đội Alpha ở Tây Nguyên của Tim O’Brien, vừa được nhà xuất bản Houghton Mifflin Harcourt tái bản thêm nhân kỷ niệm 20 năm.

Cuốn sách được chọn vào tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của Mỹ năm 1987, Những truyện ngắn hay nhất của Mỹ những năm 1980, vào vòng chung khảo giải Pulitzer dành cho tiểu thuyết năm 1991 và danh sách bình chọn giải thưởng về phê bình sách quốc gia cùng năm.

Năm 1993, Tim O’Brien đã tìm cách trở lại làng quê Sơn Mỹ để nhìn lại cảnh vật sau vụ thảm sát Mỹ Lai kinh hoàng, để tìm lại thời trai trẻ đầy ám ảnh của mình, rồi sau đó cho ra đời những cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh mà ông mang tư cách là một cựu binh từng tham chiến, ngay trên vùng đất Sơn Mỹ.

Nhà văn 67 tuổi Tim O’Brien từng được trao giải thưởng Sách quốc gia Hoa Kỳ năm 1979 cho tác phẩm Going after Cacciato (Đi theo Cacciato). Hàng loạt tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam của Tim từng tạo ra những cơn sốt trên văn đàn Mỹ như: If I Die in a Combat Zone (Giá tôi chết ở một vùng chiến sự), Northerm Lights (Những ngọn đèn phương Bắc), hay The Nuclear Age (Thời đại hạt nhân).

Sử thi về chiến tranh Việt Nam

Một trong những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam được coi là tiểu thuyết kiểu mẫu là They Marched Into Sunlight: War and Peace Vietnam and America October 1967 (Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng 10/1967) của tác giả đạt giải thưởng Pulitzer David Maraniss.

Đây là câu chuyện sử thi về Việt Nam trong những năm 60 thông qua các sự kiện ấn tượng với hàng loạt tuyến nhân vật trong những ngày tháng đam mê của chiến tranh và hòa bình vào tháng 10/1967. Họ tiến về hướng mặt trời làm sống lại thời kỳ đầy biến động, đồng thời đào sâu những câu hỏi về ý nghĩa của sự bất đồng chính kiến và sự bóp méo sự thật có tổ chức – những vấn đề vẫn còn nguyên tính thời sự dù nhiều thập kỷ đã qua.

Với lối kể chuyện liền mạch, Maraniss đan xen nhiều câu chuyện xảy ra tại 3 thế giới khác nhau: Sự hy sinh và chủ nghĩa anh hùng của bộ đội Việt Nam, sự tức giận và lo lắng của các sinh viên chống chiến tranh ở Mỹ và sự nhầm lẫn, cư xử lẫn lộn của các quan chức tại Washington. Dựa trên hàng ngàn tài liệu gốc và 180 cuộc phỏng vấn trực tiếp, cuốn sách đã mô tả những trận chiến dẫn tới nhiều xung đột chính trị và văn hóa còn vang dội đến tận ngày nay.

“Maraniss đã phục chế lại những đường nét nguyên bản của bức tranh chiến tranh Việt Nam bằng cách rọi ánh sáng mới lên một sự thật bị quên lãng. “Phát ngôn ý thức hệ” (Ideological formulations) không phải điều tác giả quan tâm, mà chính là “sự giao lưu giữa lịch sử và cuộc đời của các nhân vật, các biến cố, các tình tiết và các dự định, vừa thúc người ta lao lên phía trước, lại vừa níu họ, bắt cùng chôn chân tại chỗ”, tiểu thuyết gia Philip Caputo từng nhận xét về cuốn sách trong một bài báo đăng trên mục điểm sách của Thời báo New York.

Cuốn sách đang được hãng Universal Pictures dựng thành phim và dự tính sẽ công chiếu trong năm nay.

Bìa cuốn Những thứ họ mang (phiên bản Mỹ)
Nguồn: thingsg2.blogspot.com

Vạch trần bản chất vụ thảm sát Mỹ Lai

Cuốn sách Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam (tạm dịch: Bắn bất kỳ thứ gì chuyển động: Cuộc chiến thực sự của Mỹ ở Việt Nam) của Nick Turse, nhà báo Mỹ nổi tiếng và là người quản lý trang TomDispatch.com (chuyên cung cấp cách nhìn về các sự kiện lịch sử khác với tài liệu chính thống) được xuất bản đầu năm 2013 cung cấp sự thật khủng khiếp về bản chất cuộc thảm sát Mỹ Lai.

Cuốn sách được viết dựa trên nhiều tài liệu mật cùng hàng loạt cuộc phỏng vấn trực tiếp với các nhân chứng chiến tranh, từ đó nói lên sự thật: Những vụ hiếp dâm hàng loạt, tra tấn, xẻo thịt và giết hại dân thường Việt Nam kiểu như vụ thảm sát Mỹ Lai – xảy ra năm 1968 khiến hơn 500 dân thường bị giết – không phải hành động lầm lạc trong những giờ phút thiếu suy nghĩ, mà là chính sách có hệ thống trong cỗ máy chiến tranh của Mỹ thời đó.

Cuốn sách ra đời một cách tình cờ. Năm 2001, khi đang lang thang trong thư viện quốc gia, Nick Turse vô tình được tiếp vận với những tài liệu đã ố vàng của Nhóm công tác về tội ác trong chiến tranh Việt Nam – được thành lập sau vụ thảm sát Mỹ Lai nhằm che đậy hàng loạt tội ác của quân đội Mỹ. Đó là lý do mà hàng trăm tài liệu về chiến tranh ở tòa án đã bị hủy hoặc mất tích.

Turse cũng lột tả sự thật rằng chính quyền Mỹ hồi đó quá thành công trong việc tuyên truyền sự thật bị bóp méo rằng thảm họa Mỹ Lai chỉ là sự cố ngoài ý muốn. Trong những năm Mỹ dính líu đến Việt Nam, số liệu ước tính khiêm tốn nhất cho thấy 3 triệu người chết vì bạo lực, trong đó 2 triệu người là dân thường.

Không chỉ nghiên cứu trong thư viện, Turse còn phỏng vấn rất nhiều tướng lĩnh và quan chức dân sự cao cấp, các nhà điều tra tội phạm, cựu chiến binh từng chứng kiến hoặc phạm tội ác tàn bạo. Turse cũng đã đến Việt Nam nhiều lần để phỏng vấn những người sống sót từ cuộc chiến.

“Hàng trăm báo cáo mà tôi tập hợp được cùng với hàng trăm nhân chứng tôi từng phỏng vấn ở Mỹ và Đông Nam Á cho thấy một điều rõ ràng rằng, việc giết hại dân thường – dù một cách máu lạnh như ở Mỹ Lai hay một cách bàng quan vô cảm như trận phục kích ở Bình Long – đều rất phổ biến, diễn ra thường xuyên, và xuất phát từ chính sách chỉ huy của Mỹ”, tác giả cho biết.

Tuy nhiên, theo tác giả, chỉ rất ít cá nhân phải ra tòa hoặc bị trừng phạt vì tội ác chiến tranh khiến quá nhiều dân thường thiệt mạng.

Chính vì thế, Kill anything that move gây được tiếng vang lớn, cho dù ở Mỹ đã có khoảng 30.000 cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam.

Hồng Lam (tổng hợp)

Nhạc phim cách mạng hay về Chiến tranh Việt Nam: