Vấn đề Thục Phán – An Dương Vương trong lịch sử Việt Nam

Vấn đề nguồn gốc Thục Phán – An Dương Vương và sự ra đời của nước Âu Lạc là một trong những vấn đề cốt lõi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam. Vì vậy nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài nước từ hàng trăm năm nay.

Trong quá trình nghiên cứu các học giả đều ghi nhận: Nước Âu Lạc kế tiếp nước Văn Lang và An Dương Vương kế ngôi Vua Hùng là những sự kiện, nhân vật lịch sử có thật. Song cho đến nay, xung quanh vấn đề nguồn gốc Thục Phán – An Dương Vương và sự ra đời của nhà nước Âu Lạc vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Những tài liệu cổ xưa nhất ở Trung Quốc như Giao Châu Ngoại vực ký, Quảng Châu ký đều ghi An Dương Vương là “Thục Vương Tử” (Con Vua Thục). Sách Hậu Hán thư khi chép về quận Giao Chỉ cũng chú thích: “Đấy là nước cũ của An Dương Vương….”. Một số sách cổ khác ở Trung Quốc cũng ghi rằng An Dương Vương là con vua Thục, nhưng không cho biết xuất xứ cụ thể của vua Thục và Vua Thục là ai, vị trí của nước Thục ở đâu?…

Một số bộ sử sách cổ xưa của Việt Nam như Việt sử lược (Thế kỷ XIV) cũng có một câu về nguồn gốc của An Dương Vương là: “Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường (Cổ Loa -Đông Anh) xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu1. Đến thế kỷ XV, khi biên soạn Đại việt sử ký toàn thư – Ngô Sĩ Liên dựa vào sách Lĩnh Nam chích quái chép về An Dương Vương rõ hơn và tách thành một kỷ gọi là “Kỷ nhà Thục”, ông viết rằng: “An Dương Vương họ Thục, tên huý là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa). Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 -TCN). Vua đã kiêm tính nước Văn Lang, đổi quốc hiệu làm Âu Lạc”.

Nhà sử học Ngô Thì Sĩ – cuối thế kỷ XVIII khi chép về An Dương Vương cũng nhắc lại giống như Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng đã bác bỏ giả thuyết An Dương Vương “họ Thục”. “An Dương Vương huý Phán, người Ba Thục. Không đúng”. Vì thời kỳ đó các sử gia phong kiến Việt Nam cho rằng Thục Phán – An Dương Vương là con Vua Thục, người gốc Ba Thục (Tứ Xuyên – Trung Quốc) lập nước Âu Lạc vào năm 257TCN. Đến năm 1821, Phan Huy Chú, biên soạn bộ Lịch triều hiến chương loại chí dâng lên vua Minh Mệnh cũng ghi: “An Dương Vương tên là Phán, người Ba Thục”.

Đến thời vua Tự Đức (1848 – 1883) bộ thông sử Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, đã nêu nghi vấn: “Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh Vương nhà Chu (316 năm TCN), đã lại nhà Tấn diệt rồi, làm gì còn vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang, còn có đất Kiển Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, đất Cùng, đất Tác, và đất Nhiễm Mang (Những đất này xưa kia là đất rợ mọi ở về phía Tây và Nam, nay thuộc Vân Nam) cách hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang”. Trong Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, khi đề cập đến nguồn gốc của Nhà Thục cũng khẳng định: “Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nhà Thục bên Tàu (nghĩa là Ba Thục ở Tứ Xuyên). Ngô Tất Tố cũng khẳng định rằng: “Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục”.

Các sử gia từ thời phong kiến Việt Nam đã nghi ngờ cả về thời gian và không gian qua đó có thể thấy ngay được là nước Thục (Ba Thục) đã bị diệt vào năm 316 TCN. Vua Thục cuối cùng là Khai Minh đã bị giết ở Vũ Dương và Thái tử con Vua Thục cũng tự chết ở Bạch Lộc Sơn. Vì vậy không thể có “Con vua Thục” vượt hàng ngàn dặm núi rừng, qua lãnh thổ của nhiều nước để mà tiến đánh và chiếm Văn Lang năm 257 TCN được. Sự khác biệt đến mâu thuẫn đó càng làm rõ thêm những căn cứ đang nghi ngờ, cho nên có thể phủ địch giả thuyết nguồn gốc Ba Thục của Thục Phán – An Dương Vương.

Việc nghiên cứu về Thục Phán – An Dương Vương, càng ngày càng được nhiều người quan tâm nhất là sau khi hoà bình lập lại ở Miền Bắc. Vì đây là giai đoạn đầu tiên của thời kỳ dựng nước. Cho nên đã thu được một số kết quả mới, phát hiện thêm về tư liệu, từ đó một số giả thiết mới được đặt ra.

Năm 1963 khi các nhà nghiên cứu dân tộc học phát hiện truyền thuyết “Cẩu chủa cheng Vùa”, “Chín chúa tranh vua” là câu truyện cổ rất phổ biến trong vùng đồng bào Tày, Cao Bằng. Nội dung câu chuyện là: Khoảng cuối thời Hùng Vương, ở Phía Nam Trung Quốc có một nước tên là Nam Cương, bao gồm miền Tây tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) cả vùng Cao Bằng ngày nay, Nam Cương có 10 xứ Mường, trong đó một xứ mường trung tâm là nơi Vua ở, đó là kinh đô Nam Bình (nay là Cao Bình, Hưng Đạo, Hoà An, Cao Bằng) còn 9 xứ mường xung quanh do chín chúa mường cai quản. Thục Phán tuy còn nhỏ tuổi nhưng tỏ ra là người thông minh tài cán. Phán liền thách 9 chúa cùng nhau đấu võ, ai thắng sẽ được nhường ngôi vua. Kết quả đấu võ là bất phân thắng bại, nên không ai xứng đáng được nhường ngôi vua. Thục Phán lại bày ra cuộc đua tài, ai giỏi nghề gì thì làm nghề đó, hẹn ba ngày ba đêm thì kết thúc, ai hoàn thành đúng hạn sẽ được làm vua.

Các chúa đã thách nhau: Đi Trung Quốc lấy trống đồng, dùng cung bắn trụi hết lá đa, làm một nghìn bài thơ, nhổ mạ bãi Phiêng Pha đem cấy ở cành đẩy Tổng Chúp, đóng thuyền rồng, đẽo đá làm quốc, nung vôi gạch để xây thành Vua, lấy lưỡi cày mài thành trăm chiếc kim. Thục Phán một mặt ký giao kèo để các chúa thi đấu với nhau, mặt khác chọn chín cung nữ có đủ tài sắc, văn võ kiêm toàn, lẻn đi theo các chúa, dùng mỹ nhân kế để mê hoặc các chúa và làm thất bại cuộc đua tài của họ, khi sắp sửa thành công. Kết quả là các chúa thi nhau mất rất nhiều công sức mà không chúa nào thắng cuộc. Thục Phán vẫn giữ ngôi vua. Các chúa đều quy phục. Nước Nam Cương trở nên cường thịnh. Lúc đó nước láng giềng Văn Lang suy yếu lại đang đứng trước hoạ xâm lăng của nhà Tần, Vua Hùng đã giao quyền chỉ huy kháng chiến chống Tần cho Thục Phán, sau khi kháng chiến thắng lợi. Thục Phán đã được vua Hùng nhường ngôi và sáp nhập hai vùng lãnh thổ thành lập nước Âu Lạc, hiệu là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội).

Truyền thuyết (Chín chúa tranh vua) còn được minh chứng bằng các di tích, di vật và địa danh cụ thể tại Cao Bằng như Tổng Lằn (trống lăn) ở xã Thịnh Vượng huyện Nguyên Bình, Tổng Chúp (xã Hưng Đạo, huyện Hoà An); Khau Lừa (xã Bế Triều, huyện Hoà An) đôi gốc đá khổng lồ ở Bản Thảnh (Xã Bế Triều, Hoà An), cây đa cổ thụ ở Cao Bình (xã Hưng Đạo), bãi Phiêng Pha (xã Mai Long – Nguyên Bình) các địa danh làm thơ, mài kim, đun gạch, xây thành đều tập trung ở Cao Bằng. Giả thuyết về nguồn gốc Thục Phán là người bản địa còn được phản ánh trong các thần tích, ngọc phả, trong các ghi thức thờ cúng, trong ký ức dân gian, An Dương Vương – Thục Phán luôn luôn là một người có công dựng nước, giữ nước, như một vị anh hùng được tôn kính.

Co Loa thanh Vấn đề Thục Phán   An Dương Vương trong lịch sử Việt Nam

Từ truyền thuyết trên, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung hướng về Cao Bằng tìm quê hương Thục Phán và tin rằng Thục Phán là một thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc người Tây Âu ở Phía Bắc nước Văn Lang, với liên minh bộ lạc đó là nước “Nam Cương, gồm 10 xứ mường (9 mường của chín chúa và một mường trung tâm của Thục Phán), tức 10 bộ lạc hợp thành, với địa bàn cư trú gồm vùng nam Quảng Tây, Cao Bằng và có thể rộng hơn, cả vùng núi rừng, phía Bắc Bắc Bộ, mà trung tâm là Cao Bằng”… Giáo sư Đào Duy Anh cho biết: “Sự phát hiện truyền thuyết của người Tày trên kia đã khiến chúng tôi thay đổi ít nhiều ý kiến tranh cái ức thuyết về sự thành lập nước Âu Lạc mà chúng tôi đã trình bày trong sách lịch sử cổ đại Việt Nam”. Giáo sự viết: “Chúng ta có thể nói một cách đại khái rằng miền Nam sông Tả Giang và lưu vực sông Hữu Giang cùng với thượng lưu các sông Lô, sông Gâm, sông Cầu là địa bàn sinh tụ của những bộ lạc Tây Âu hợp thành bộ lạc liên hiệp Nam Cương mà Thục Phán là tù trưởng tối cao”. Trong bài bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương, tác giả Nguyễn Duy Hinh cho rằng Thục Phán là người đứng đầu một nhóm Lạc Việt, Tây Âu là một nước của người Việt, do đó cuộc xung đột Hùng – Thục thực chất là cuộc đấu tranh nội bộ người Âu Lạc”. Đến nay nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương và An Dương Vương coi Thục Phán thuộc dòng dõi, tông phái hoặc là “Cháu ngoại” của Vua Hùng.

Qua những tư liệu thư lịch và tư liệu truyền thuyết trên, chúng ta có thể khẳng định: Thục Phán không thể là con Vua nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (Trung Quốc). Mà có thể khẳng định ông là người Tày cổ, thủ lĩnh liên minh Bộ lạc Tây Âu mà Trung tâm là Cao Bằng. Điều đó còn được minh chứng rõ hơn là trong truyền thuyết cổ “Cẩu chủa cheng Vùa” có chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý, chứa đựng những hạt nhân lịch sử của nó, vì vậy cần phải khai thác và nghiên cứu kỹ hơn, sâu hơn. Đến nay những tập tục, truyền thuyết dân gian tại Cổ loa và vùng xung quanh cũng phù hợp với cách lý giải về nguồn gốc Thục Phán – An Dương Vương là người Tày cổ giống như truyền thuyết “Chín chúa tranh Vua”. “Trong tâm thức dân gian vùng Cổ Loa luôn ghi nhớ nguồn gốc “người thượng du” một tù trưởng miền núi” của Vua Thục. Thậm chí truyền thuyết còn nói rõ quê gốc của Thục Phán – An Dương Vương là Cao Bằng”10.

Như vậy không chỉ nhân dân Cao Bằng và các nhà khoa học khẳng định Thục Phán – An Dương Vương có nguồn gốc ở Cao Bằng mà cả một phần nhân dân ở phía Bắc – Bắc Bộ, từ xa xưa đã coi Thục Phán – An Dương Vương có quê gốc ở Cao Bằng. Điều đó phù hợp với thực tế lịch sử và điều đó minh chứng thêm cho sự hợp lý giữa truyền thuyết với những hạt nhân lịch sử, lớn hơn là điều đó hợp với nhận định của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài khi nghiên cứu về cổ sử Việt Nam.

Hiện nay kinh đô xưa của nước Nam Cương vẫn còn dấu tích khá rõ nét, kinh đô Nam Bình lúc đó gồm hai vòng thành (Xem sơ đồ) vòng ngoài có chu vi khoảng 5km bao gồm cả một khu đồi thấp, phía Tây chạy song song với bờ Sông Bằng khoảng trên 1km. Đến đầu làng Bó Mạ là bờ thành phía Đông Nam chạy qua trước mặt Bản phủ hiện nay cũng hơn 1km. Đến ngã ba đường rẽ lên Đức Chính lại chạy theo quốc lộ 4 cũng hơn 1km. Xung quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành tự nhiên, nên thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Còn Hoàng cung nơi vua ở nằm ở một khu đất bằng phẳng đó là thành Bản Phủ ngày nay.

Thành Bản Phủ đến nay vẫn còn dấu tích khá rõ nét, thành được xây dựng ở một vị trí rất đẹp và quay mặt sang hướng Đông nam, thành có hình chữ nhật, chiều dài hơn hơn 100m, chiều rộng khoảng 70m. Phía trước thành là Hồ sen rộng khoảng 7ha và cánh đồng Cao Bình bằng phẳng; tiếp đó là cánh đồng Tổng Chúp, trước đó gọi là cánh đồng Tổng Quảng có nghĩa là cánh đồng rộng, sau cuộc đua tài của chúa Tiến Đạt chưa cấy hết (còn bằng cái nón) nên được gọi là cánh đồng Tổng Chúp. Gần chân thành là giếng ngọc (nay gọi là Bó Phủ) nước trong vắt quanh năm. Gần hồ sen là Đền Giao và Thiên Thanh tương truyền là nơi vua tế lễ trời đất. Bên phải và bên trái thành còn có vườn hoa (Đào Viên) Cung Hoàng Hậu, nhân dân quen gọi là Đông Tầm và một bên là khu vực dành cho các cung nữ. Phía trên khu đồi gọi là Thôm Dạng tức là khu vực nuôi voi, khu vực dành cho các em nhỏ gọi là Hồ nhi. Gần Bản Phủ là cây đa Cổ Thụ tương truyền là chúa Kim Đán đã dùng cung tên bắn gần trụi hết lá. Ra khỏi vòng thành ngoài, gần Đầu Gò hiện nay có một đôi guốc đá khổng lổ chưa kịp đục lỗ xỏ quai, đó là kết quả thi tài của chúa Văn Thắng; tiếp tục đi theo quốc lộ 4 khoảng 1km ở bên phải đường có một quả đồi gọi là Khau Lừa tức đồi thuyền, theo truyền thuyết đó là con thuyền mà chúa Ngọc Tặng chưa kịp lật. Đối diện với Khau Lừa ở bên kia Sông Bằng là Thành Na Lữ (có đền Vua Lê, hàng năm cũng tổ chức lễ hội vào ngày mùng 6 tháng Giêng). Còn thiếu một cửa thành do cuộc đua tài của Thành Giáng bị bỏ dở… Còn các chúa làm thơ, mài kim.. đều bỏ dở vì khi cuộc thi gần đến thắng lợi thì nghe tiếng trống của Quang Thạc vang lên, các chúa tưởng Quang Thạc đã giành chiến thắng. Nhưng cả Quang Thạc cũng bị trúng mỹ nhân kế của Thục Phán nên để trống lăn xuống vực mà kêu ầm lên vang vọng cả núi rừng, nơi trống lăn gọi là Tổng Lằn.

Như vậy là từ thành Bản Phủ – Thục Phán đã tổ chức cuộc thi và giành thắng lợi trước các chúa. Nay các địa danh, các câu truyện gắn liền với cuộc thi vẫn còn in sâu đậm trong ký ức nhân dân. Đồng thời, trong tâm thức dân gian vẫn còn nhiều tập tục – Có thể gọi là một loại hình văn hoá tộc người lưu lại và liên quan đến Thục Phán – An Dương Vương và thành Cổ Loa. Đó là các biểu tượng Rùa vàng, Gà trắng, trong đó gà trắng phá hoại việc xây thành Cổ Loa, Rùa vàng giúp xây thành. Gà trắng và Rùa vàng có thể gọi là những linh vật có ý nghĩa biểu tượng trong dân tộc Tày. Hiện nay nhân dân vẫn coi Rùa vàng là thần rùa giúp sức, phù trợ nhân dân làm những việc tốt đẹp, ân nghĩa, chống lại ma quỷ, kẻ thù…Trong dân tộc Tày, con Rùa được nhân dân quý trọng tôn thờ. Con gà thì lại khác, biểu tượng gà là “vật kí thác linh hồn”, gà gắn liền với bóng đêm và sự chết tróc; hiện nay trong đồng bào Tày vẫn coi “Ma gà” (Phi Cáy) là hiện tượng đáng sợ, vì nó gây tai hoạ cho con người khi bị “Ma gà” nhập. Hiện nay người Tày vẫn coi gà trắng là “Cáy khoăn”, tức là gà gọi hồn. Khi làm lễ “Dòn lầu” cho trẻ em, thường sách theo con gà và thường dùng gà trắng để phục vụ trong lễ này11. Như vậy là gà trắng đã thành tinh nó bị coi là con vật mang tai hoạ đến con người. Vì vậy đồng bào Tày kiêng nuôi gà trắng, kiêng thịt gà trắng trong những dịp lễ vui mừng… Từ những quan niệm đó đến những phong tục, tập quán của người Tày về Rùa vàng và Gà trắng, có thể thấy rõ “Sự tương đồng với những chi tiết trong truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa”. Những nét tương đồng ấy phải chăng có cội nguồn từ nguồn gốc Tày cổ của Thục phán – An Dương Vương. Vì nhà vua là Tày cổ nên những quan niệm, phong tục cổ của người Tày đã được đưa đến vùng đất Cổ Loa”.

Không chỉ như vậy mà gần đây (Những năm 1960 của thế kỷ trước) ở Cao Bằng còn lưu truyền “Slửa Nộc Soa” (tức áo lông chim trĩ ) và “Slửa Nổc Cốt” (tức áo lông chim Bìm Bịm) và một loại sang hơn là “Slửa Cáy Nhùng” tức áo gà công. Đó là những chiếc áo gần với chiếc “áo lông ngỗng” của Mỵ Châu – và Mỵ Châu cũng chính là biến âm của tiếng Tày “Mẻ Chủa” hay “Mẻ Chẩu” đều là Bà chúa, Bà chủ. Ngay cả địa danh Cổ Loa, các nhà ngôn ngữ – Dân tộc học lịch sử đã phân tích nguồn gốc biến âm từ Kẻ Lũ, những địa danh có tên Kẻ ở Cao Bằng không phải ít, gần thành Bản Phủ bên kia Sông Bằng có Kẻ Giẳng, Kế Nông… Rồi Cả Lọ, Co Lỳ tương ứng với Cà Lồ ở Cổ Loa… Rất nhiều những địa danh xung quanh thành Cổ Loa và Bản Phủ có sợi dây liên hệ và đó là những chứng tích cho ta thấy rõ mỗi dây liên hệ giữa kinh đô Nam Bình với kinh đô Loa Thành của Thục Phán – An Dương Vương. Đó là quá trình phát triển hợp lý liên tục, có tính kế tục. Điều đó góp phần làm sáng tỏ và khẳng định chắc chắn giả thuyết: Thục Phán có nguồn gốc ở Cao Bằng đã tham gia vào việc thành lập nước Âu Lạc, đóng góp vào quá trình dựng nước trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử Việt Nam.

Đinh Ngọc Viện

Chú thích:

1. Việt sử lược, Nxb Sử học, H1960, tr.14

2. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1972 tr.64

3. Đại Việt sử ký tiên biên, Nxb KHXH, H.1997, tr.45.

4. Phan Huy Chú, Lịch triều hiền chương loại chí, nhân vật chí.

5. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, H.1998, tr.79.

6. Ngô Tất Tố, Tao Đàn, số 3, ngày 13/4/1939.

7. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam Tập 1. Nxb ĐH&THCN, H.1985, tr.129.

8. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb KHXH, H.1964, tr.22.

9. Nguyễn Duy Hinh, Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương, Tạp chí KC 3+4, 12 /1969. tr.144 – 145.

10. Nguyễn Quang Ngọc, Đóng góp của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội, H.2006, tr.89.

11. Tác giả bài này đã phải mặc áo vàng xách theo con gà trong lễ “dòn lầu” năm 1961.

12. Nguyễn Quang Ngọc, Đóng góp của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội, H.2006, tr.90

Nguồn: Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần 3, ngày 4-7 tháng 12 năm 2008.

Sức sống dân tộc Việt trong cuộc kháng chiến chống Tần

Dồn quân địch vào thế nguy khốn, lúc đó lực lượng kháng chiến của người Việt mới tổ chức phản công lớn “đại phá quân Tần và giết được tướng giặc Đồ Thư, quân Tần phơi thây, máu chảy hàng mấy chục vạn người”. Năm 208TCN, nhà Tần phải xuống lệnh thu nốt số bại binh về nước.

Sau khi thống trị toàn Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng mở những cuộc chiến tranh bành trướng quy mô lớn xuống phía nam Trường Giang thôn tính các tộc người Việt (Bách Việt).

50 vạn quân Tần do Đồ Thư chỉ huy đánh xuống phía nam. Khoảng năm 214 trước công nguyên, quân Tần tiến vào vùng cư trú của người Âu Việt và Lạc Việt là tổ tiên của dân tộc Việt Nam hiện nay.

Trước sức mạnh của quân Tần, nhiều tộc người Việt bị khuất phục và bị thôn tính. Tổ tiên ta kiên trì cuộc kháng chiến chống quân Tần với cách đánh theo kiểu “vườn không nhà trống” và chiến tranh du kích, ban ngày thì lẩn tránh vào rừng, ban đêm mới tập kích, phục kích. Quân Tần vừa thiếu thốn lương thực vừa bị tiêu hao lực lượng lâm vào cảnh “tiến không được thoái cũng không xong”.

Dồn quân địch vào thế nguy khốn, lúc đó lực lượng kháng chiến của người Việt mới tổ chức phản công lớn “đại phá quân Tần và giết được tướng giặc Đồ Thư, quân Tần phơi thây, máu chảy hàng mấy chục vạn người”. Năm 208TCN, nhà Tần phải xuống lệnh thu nốt số bại binh về nước.

Bằng cuộc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, nền độc lập mới sơ khai của nước ta đã được giữ gìn và củng cố. Sự “còn lại hiếm hoi” hai tộc người Lạc Việt và Âu Việt đã nói lên sức sống quật cường của dân tộc ta. Và khi các tộc người khác bị người Hán sáp nhập và đồng hóa thì Lạc Việt, Âu Việt đương nhiên trở thành người đại diện và kế tục duy nhất lịch sử Bách Việt.

Theo Từ điển bách khoa Tri thức quốc phòng toàn dân

Nga phân tích ‘công thức giành chiến thắng quân sự’ của Việt Nam

Biến điểm yếu thành sức mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh… nghệ thuật quân sự Việt Nam là cả một kho tàng kiến thức không chỉ cho hôm này và cả mai sau.

Đó là nhận định của trang mạng Fraza (Nga) trong bài viết có tiêu đề: “Công thức Việt Nam: Làm thế  nào để biến điểm yếu thành sức mạnh”. Bài viết đã ca ngợi nghệ thuật quân sự Việt Nam, dưới đây là nội dung chính của bài viết:

Lịch sử chiến tranh giữa quân đội Mỹ và nhân dân Việt Nam là cả một kho tàng để nghiên cứu, phân tích một cách chi tiết về chiến thuật và chiến lược. Nhưng điều gây tò mò hơn cả là tôi muốn quay trở lại các sự kiện lịch sử xa xôi của Việt Nam nhấn mạnh các nguồn gốc sâu xa hơn về chiến lược quân sự Việt Nam làm thế nào để đối đầu với các thế lực thù địch từ bên ngoài.

Quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương chính là người đầu tiên đưa sách lược chiến tranh nhân dân của Việt Nam lên tầm nghệ thuật quân sự.

Chiến lược quốc phòng của Việt Nam luôn có khái niệm sử dụng lực lượng tại chỗ để đối phó và tiêu hao sinh lực địch, quân chủ lực chỉ được sử dụng trong những thời điểm quyết định để tạo nên chiến thắng. Đặc tính quan trọng của nghệ thuật quân sự Việt Nam là khả năng cơ động cao, tấn công bất ngờ khiến đối phương không kịp đối phó.

Khả năng cơ động của các lực lượng quân sự Việt Nam được thực hiện thông qua các đường hầm như một phương tiện thông tin liên lạc chiến thuật đặc biệt trên chiến trường, đặc biệt là những con đường mòn ẩn dưới những tán rừng rậm rạp. Trong trường hợp này gần như toàn bộ người dân đã tham  gia vào lực lượng chống  kẻ thù bằng chiến tranh du kích hay còn gọi là thế trận chiến tranh nhân dân.

Nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Việt Nam, chí ít đã hoàn thiện từ thời điểm Đại Việt chống giặc Nguyên – Mông xâm lược.

Tác giả của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Viêt Nam chính là Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo. Ông vừa là nhà quân sự tài ba vừa là nhà văn xuất chúng với rất nhiều tác phẩm nổi tiếng về nghệ thuật chiến tranh, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn Binh thư yếu lược trong đó đặt ra 3 vấn đề tối quan trọng đối với người lãnh đạo quân đội:

–          Hỗ trợ, tăng cường mối đoàn kết với nhân dân

–          Duy trì chiến tranh du kích để làm suy yếu kẻ thù

–          Sử dụng lực lượng chính quy vào những thời điểm quyết định để giành thắng lợi cuối cùng.

Dựa vào lực lượng tại chỗ để tiêu hao sinh lực địch, nghệ thuật chiến tranh du kích của Việt Nam luôn khiến binh lính Mỹ phải “sống trong sợ hãi”. Ảnh tư liệu.

Đầu thế kỷ 13, dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn, Mông Cổ trở nên hùng mạnh và bắt đầu chinh phạt khu vực. Sau khi đánh bại các nước Tây Hạ, Đại Lý, quân Mông Cổ muốn đánh chiếm Đại Việt để tạo thế gọng kìm bao vây Nam Tống.

Năm 1258, Mông Cổ huy động 3 vạn quân cùng 1,5 vạn quân của Đại Lý (tỉnh Vân Nam Trung Quốc ngày nay) tấn công Đại Việt. Trước sức mạnh hùng hậu của quân Mông, Trần Hưng Đạo đã hiến kế cho vua Trần Thái Tông rút khỏi Thăng Long thực hiện chiến lược “vườn không nhà trống” để làm giảm nhuệ khí của quân giặc.

Quân Mông Cổ chiếm được Thăng Long rơi vào thế “vườn không nhà trống” và bị gặp khó khăn về lương thực, nhuệ khí của binh lính cũng giảm đi nhiều vì không chạm trán được với đối thủ. 10 ngày ở trong kinh thành Thăng Long trống trải chưa biết phải làm gì thì quân nhà Trần phản công, quân Mông Cổ nhanh chóng bị đánh bại.

Đến năm 1285, Hoàng đế nhà Nguyên lúc đó là Hốt Tất Liệt tiếp tục ra lệnh chinh phạt Đại Việt với quân số đông hơn, chuẩn bị tốt hơn nhưng một lần nữa quân Nguyên bị đánh bại dưới sự chỉ huy tài tình của Trần Hưng Đạo. Đến năm 1288 quân Nguyên tiếp tục tấn công Đại Việt lần thứ 3 và cũng bị đánh bại.

Lực lượng chủ lực sẽ được sử dụng vào những thời điểm thích hợp để giành thắng lợi cuối cùng. Ảnh tư liệu.

Có một điểm chung trong 3 lần đánh bại quân Nguyên – Mông dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo là ông không chạm trán trực tiếp với kẻ thù bằng những trận đánh quy ước. Những lần chạm trán đầu tiên với quân Nguyên – Mông của quân đội nhà Trần đều không thành công.

Trần Hưng Đạo đã nhận thấy điểm mạnh của quân Nguyên – Mông là tài cưỡi ngựa và bắn cung rất giỏi cùng với việc được trang bị áo giáp kim loại (đồng). Ông đã lựa chọn chiến thuật chiến tranh du kích , xây dựng các lực lượng kháng cự ngay tại những nơi bị quân Nguyên – Mông chiếm đóng. Các nhóm du kích sau đó sẽ kết hợp với nhau để tạo thành một lực lượng lớn hơn và họ thường xuyên duy trì liên lạc với các viên tướng dưới quyền Trần Hưng Đạo thông qua một hệ thống thông tin liên lạc bí mật.

Điều kiện địa lý Việt Nam nhiều sông ngòi, đồi núi đã làm hạn chế khả năng của binh lính Mông Cổ vốn quen thuộc với những thảo nguyên rộng lớn. Dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo các nhóm du kích liên tục thực hiện những cuộc tập kích bất ngờ vào các nhóm quân Nguyên – Mông tiêu hao sinh lực của chúng rồi nhanh chóng biến mất vào những cánh rừng rậm rạp.

Một sự tài tình khác của Trần Hưng Đạo để làm nên chiến thắng đó là xây dựng mạng lưới tình báo. Mọi hoạt động của quân Nguyên – Mông đều được theo dõi và giám sát từ xa. Trần Hưng Đạo luôn có thông tin khá chính xác và đầy đủ về đối phương.

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân luôn là chìa khóa thành công để Việt Nam bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền quốc gia trong suốt nhiều thế kỷ qua.

Cuối cùng đó là đánh vào điểm yếu của đối phương, với quân Nguyên – Mông lương thực luôn là điểm yếu của họ. Trong 3 lần tiến đánh Đại Việt, đội quân Nguyên – Mông đều bị Trần Hưng Đạo đánh vào điểm yếu lương thực và cuối cùng phải chịu thất bại.

Nghệ thuật quân sự Việt Nam ví như một con suối quanh co chảy qua các sườn núi tìm kiếm sự linh hoạt để đạt được kết quả cuối cùng. Sử dụng chính sức mạnh của kẻ thù và giữ nó trong sự yếu đuối, chờ đợi thời điểm thích hợp. Các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam luôn tìm cách che giấu lực lượng chủ lực của mình chờ đợi thời điểm thích hợp để tung ra trận đánh bất ngờ và quyết định để dành thắng lợi cuối cùng.

Lực lượng quân sự Việt Nam được ví như một con rắn nước, di chuyển một cách nhẹ nhàng và khéo léo dọc theo bờ sông, bất ngờ tung đòn tấn công đối phương sau khi vượt qua những cạm bẫy của chính mình. Sự tương đồng của các chiến thuật này có thể tìm thấy trong các môn võ truyền thống của Việt Nam và trong cuộc sống hàng ngày.

Ngay cả nền ngoại giao Viêt Nam cũng được vận dụng một cách khéo léo dựa theo nghệ thuật quân sự mà Trần Hưng Đạo đã khai sáng gần một thiên niên kỷ trước.

Theo Soha

Sức mạnh hỏa khí của quân đội Đại Việt

Lịch sử phát triển hỏa khí Việt Nam cho thấy cha ông đã luôn bắt nhịp với thời đại. Thậm chí, có thời điểm, còn vượt lên thành nước hùng cường trong khu vực.

Khoảng thế kỷ 6 -7 loài người đã biết đến thuốc súng, song phải tới thế kỷ 10 – 11, nó mới được sử dụng trong chiến tranh dưới dạng những tạc đạn gây nổ, gây cháy. Năm 1275 mới xuất hiện loại ống bằng kim loại. Súng pháo ra đời tạo ra cuộc cách mạng trong lịch sử vũ khí loài người.

Tại Việt Nam, ngay từ thế kỷ 13, trong dân gian nước ta đã sử dụng phổ biến một loại pháo gọi là “bộc trúc”, tức là một dạng hỏa cụ gần với “hỏa đồng”, “hỏa thương” của Trung Quốc đương thời.

Cuộc cách mạng hỏa khí

Ở châu Âu, thế kỷ 15 mới xuất hiện thuyền chiến gắn pháo phổ biến. Còn Việt Nam, dấu hiệu chứng tỏ pháo được đưa lên thuyền từ khá sớm, với sự kiện pháo thuyền của Trần Khát Chân bắn chết Chế Bồng Nga ở Thăng Long (Hà Nội), năm 1390.

Ngoài ra, hiện tượng Hồ Nguyên Trừng, được người Minh tôn như “thần súng pháo”, chứng tỏ vào cuối thế kỷ 16, súng pháo đã trở thành vũ khí phổ biến ở nước ta.

Các bản vẽ của người phương Tây khoảng thế kỷ 16-17, khi vẽ thuyền chiến nước ta đều chú ý mô tả khẩu pháo lớn chĩa ra ở đằng mũi.

Nói về trang bị trên thuyền đàng Ngoài, linh mục Alexandre de Rhodes nhận xét: “Chiến thuyền của họ không thiếu vũ khí và pháo dùng cho chiến đấu”.

Một cha cố khác là B. Vachet cho biết loại thuyền chiến đàng Trong có nhiều pháo hơn: “Ba khẩu ở đằng mũi và hai khẩu khác nhỏ hơn ở hai bên”.

Phần lớn các pháo này thuộc loại này nòng dài trung bình, bắn loại đạn khoảng 3-6 kg, đường kính nòng khoảng 9-11cm, độ dài nòng khoảng 180-210cm, trọng lượng pháo trong khoảng 1.200 – 2.000kg.

Ngoài ra, có thể có một số pháo nòng ngắn trong sử sách thường gọi là “súng quá sơn”, có tác dụng bắn cầu vồng như những caronade của Hà Lan năm 1779.

Hầu hết, pháo trên thuyền thời này bắn đạn đặc, bằng đá hoặc gang. Ngoài ra, sử sách cũng chép nhiều đến kỹ thuật làm đạn nổ và việc quân Trịnh, Nguyễn sử dụng trong chiến tranh.

Trong Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ (1572 – 1634) có mục chế quả nổ (hỏa cầu). Theo mô tả, có thể loại đạn “một mẹ mười con” mà Lê Quý Đôn nói trong Phủ biên tạp lục là thuộc loại quả nổ này: “Năm 1672, sai Hồ quận công Lê Thời Hiến ở lại đóng đồn tại xã Chính Thủy, ba lần đánh thành Trấn Ninh. Bắn hỏa pháo, một đạn mẹ mười đạn con, tiếng vang như sấm, bắn vào đâu đều gãy nát tan tành”.

Thế kỷ 16- 17, trang bị, huấn luyện, thủ đoạn tác chiến của quân đội Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đã có một bước chuyển biến rất căn bản trong lịch sử vũ khí, đó là cuộc cách mạng hỏa khí.

Theo các sử gia, trang bị của quân thủy nước ta đã phát triển một bước dài, thậm chí ở một số mặt, nó đã vươn tới những trang bị hiện đại nhất có thể có ở phương Đông đương thời.

Hỏa hổ và Hỏa cầu của vua Quang Trung

Hỏa cầu và hỏa hổ của nghĩa quân Tây Sơn làm khiếp đảm quân chúa Trịnh, chúa Nguyễn và góp phần vào trận đại thắng quân Thanh mùa xuân Kỷ Dậu (1789).

Theo sử sách, Hỏa cầu (còn gọi là Lưu hoàng) là loại quả nổ dùng để ném hoặc bắn, có tác dụng như lựu đạn hoặc phóng lựu. Tuy chất nạp mà quả nổ có thể tạo ra khói độc, nhựa cháy, mảnh vụn sát thương…

Hỏa hổ là một loại vũ khí hình ống. Theo Hổ trướng khu cơ, hỏa hổ chính là hỏa tiễn, “vì lửa cháy dữ dội, nên gọi là hỏa hổ”. Sử sách thời Nguyễn thường gọi Hỏa hổ là hỏa phún đồng.

Theo Binh thư yếu lược, bài thuốc súng và cách chế rất giống nhau: dùng một cái ống (bằng sắt hoặc bằng tre, gỗ) dài khoảng 25cm, nạp thuốc thành nhiều nấc.

Nấc đầu tiên là liều thuốc bắn, giã nén chặt dày khoảng 4cm, sau đó tiếp nấc thứ hai là liều thuốc phun, giã nén chặt, dày khoảng 12cm. Sau đó, nạp đạn ghém gồm các vật liệu sát thương, dày khoảng 4cm. Phần ống còn lại nạp dầy thuốc phun.

Gặp địch, người dùng hỏa hổ châm ngòi, cầm cán tre chĩa vào, thuốc phun và đạn sẽ phóng ra đốt cháy sát thương đối phương. Dùng xong lại có thể lấy ống đó nạp liều thuốc khác.

So sánh cách chế tạo thì thấy loại vũ khí này được cải tiến từ các hỏa đồng (ống lửa) hạng nhỏ thời Lê sơ. Trong tay nghĩa quân Tây Sơn, nó được dùng một cách tập trung, ồ ạt, tạo thành hỏa lực giáp chiến hết sức lợi hại.

Đáng nói hơn nữa, Quang Trung đã chế tạo ra hỏa hổ bằng những ống tre, trở thành một khí cá nhân có tính sát thương lớn. Nếu đem so với những khẩu súng hỏa đồng của quân nhà Trịnh hay súng pháo lớn cần hàng chục người vận chuyển của nhà Minh, nhà Thanh thì sáng tạo này của Quang Trung đã tiến xa cả về công nghệ lẫn ý nghĩa thực tiễn trong chiến đấu.

Theo tiến Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, thành công Hỏa hổ của Quang Trung là ứng dụng công nghệ truyền thống Việt Nam với kinh nghiệm của thế giới chế tạo vũ khí cá nhân.

Theo ĐẤT VIỆT ONLINE

Nghệ thuật dùng ‘vũ khí động vật’ trong chiến tranh của người Việt Nam

Nhiều loài động vật khác nhau đã được ông cha ta huấn luyện để biến thành những vũ khí “không thể ngờ tới” trong chiến trận.

 

Đạo quân khuyển khiến giặc Minh hãi hùng

Do thông minh, nhanh nhẹn và giỏi luyện chó nên ngay từ khi nhỏ tuổi, danh tướng Nguyễn Xí (1396 – 1465) đã được lãnh tụ Lê Lợi giao cho chăm sóc một đàn chó săn gồm hơn 100 con. Bầy chó theo sự điều khiển của ông, tiến thoái răm rắp. Lê Lợi rất quý ông, cho là người có tài cầm quân nên đã để ông làm tướng trong đội quân khởi nghĩa.

 

Năm 1418, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính thức được bùng nổ. Lúc này chàng trai Nguyễn Xí mới 21 tuổi đã trở thành cánh tay chủ chốt của Lê Lợi.

 

Trải qua nhiều những năm tháng chinh chiến nơi rừng núi, đàn chó của Nguyễn Xí đã trở thành một đội quân đặc biệt, biết hành động theo hiệu lệnh kèn. Khi đánh trận, Nguyễn Xí điều khiển bầy chó lăn xả vào cắn xé làm quân giặc rất khiếp sợ.

 

Những lúc bị vây hãm, lương thảo cạn kiệt, ông còn lệnh cho đàn chó đi săn bắt chim thú về làm thức ăn cho nghĩa quân.

 

Tiến xa hơn, Nguyễn Xí còn cho đàn chó của mình thực hiện kế “dùng người rơm mượn tên” của Khổng Minh. Ông cho buộc vào cổ các chú chó những chiếc đạc ngựa, khi chó chạy sẽ phát ra tiếng kêu như tiếng đoàn kị mã. Đến đêm ông dẫn quân đến vây trại giặc rồi cho đánh trống reo hò ầm ĩ và xua chó chạy quanh trại. Giặc hốt hoảng tưởng quân ta đông nên không dám ra đánh mà dùng cung nỏ bắn ra như mưa. Trong một đêm, Nguyễn Xí nhiều lần quấy rối giặc như vậy, khiến chúng không thể ngủ được, trong khi nghĩa quân thu nhặt được hàng vạn mũi tên của địch.

 

Trong 10 năm kháng chiến, đàn chó của Nguyễn Xí đã có mặt trong nhiều trận đánh quan trọng như trận vây hãm thành Đông Quan, đánh thành Xương Giang, đánh tan 10 vạn quân Minh tăng viện năm 1427…

 

Biến trâu bò thành ngọn đuốc sống diệt giặc

 

Có nguồn gốc từ Trung Hoa, hỏa ngưu trận (trận bò lửa) là một trong những chiến thuật kỳ lạ nhất từng được con người sử dụng trong lịch sử quân sự. Trận đánh nổi tiếng nhất áp dụng chiến thuật này là trận đánh thành Tức Mạc giữa nước Tề và nước Yên ở Trung Hoa thời Chiến Quốc.

 

Chiến thuật hỏa ngưu trận đã nhanh chóng được người Việt tiếp thu vào binh pháp của mình. Sách Binh Thư Yếu Lược viết: “Dùng con trâu già bỏ đi, buộc dao sắc vào sừng, hai bên mình cặp tre sát vào chân cho không thể quay được, trên lưng đội một ống pháo sắt lớn chứa một đấu thuốc, thuốc để quanh co ở trong pháo; pháo chứa những thuốc liệt hỏa, thần sa, thần hỏa. Phàm khi quân giặc rất nhiều quân ta rất ít, dùng trâu ấy xông vào người ngựa gặp phải tức thì tan nát. Khi xông vào trận giặc thì lửa phát pháo nổ, thế như sấm động, ầm một tiếng không kịp bịt tai. Dù khó nhọc mấy ở trong mấy trùng vây của giặc cũng phá tan được”.

 

Đã có ít nhất một trận áp dụng hỏa ngưu trận được sử sách Việt Nam ghi nhận, đó là trận Nguyễn Hữu Cầu phá vòng vây của chúa Trịnh ở Đồ Sơn (Hải Phòng).

 

Nguyễn Hữu Cầu (?–1751) là người có tài cả văn lẫn võ, đã lấy vùng Đồ Sơn làm căn cứ tập hợp nông dân khởi nghĩa chống tập đoàn Lê – Trịnh từ năm 1741 – 1751. Nghĩa quân của ông có lúc đông tới hàng vạn người, chúa Trịnh nhiều lần cử quân đến đánh dẹp nhưng đều bị quân Nguyễn Hữu Cầu đánh cho tan tác.

 

Tuy vậy, cũng có những thời khắc quân Nguyễn Hữu Cầu rơi vào thế hiểm nghèo. Trong một trận đánh không cân sức, nghĩa quân đã bị bao vây bốn phía, gần như không thể thoát. Quân Trịnh tin chắc sẽ bắt được Nguyễn Hữu Cầu nên đã bắc loa dụ hàng.

 

Tình thế đã buộc Nguyễn Hữu Cầu dùng kế hỏa ngưu trận. Ông huy động toàn bộ số trâu trong vùng, cho buộc những mũi lao nhọn vào sừng và hai bên sườn từng con trâu, sau đó buộc giẻ tẩm nhựa thông vào đuôi trâu và châm lửa đốt đồng loạt.

 

Đàn trâu điên cuồng vì bỏng lao thẳng vào đội hình quân Trịnh, khiến đội quân này hoảng loạn. Nguyễn Hữu Cầu nhanh chóng tung quân chủ lực ra đánh khiến quân Trịnh đại bại…

 

Đội “thần binh” rắn độc của Thiên hộ Dương

 

Võ Duy Dương (1827-1866), còn gọi là Thiên hộ Dương (do giữ chức Thiên hộ), là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp (1862-1866) ở Đồng Tháp Mười. Cuộc khởi nghĩa của ông gắn liền với một giai loại ly kỳ về loài rắn.

 

Theo lời kể, lúc Thiên hộ Dương đặt bộ chỉ huy ở đồn Ổ Bịp trong Gò Tháp, ông đã phát hiện ra một hang rắn, miệng lớn bằng cái lu ở Động Cát. Ông liền ra lệnh cho Hộ vệ Tân, một ông thầy bắt rắn nổi tiếng đến xem xét.

 

Hộ vệ Tân trình lên Thiên hộ Dương rằng dưới hang có một con rắn chúa, trước kia lớn lắm, nay đã nhỏ lại còn bằng cây đũa ăn, dài trên một mét, ban đêm chỉ ló ra hứng sương, chứ không bao giờ bò ra khỏi hang. Rắn không cắn ai, nhưng ai làm hại nó, thì nó mới cắn, và khi đã bị cắn thì không thuốc nào trị được.

 

Thiên hộ Dương ra lệnh không được động phạm tới hang rắn, ai trái lệnh sẽ bị nghiêm trị. Sau đó ít lâu, vào một buổi chiều, đồn Doi bị giặc Pháp tấn công, quân ta chống trả quyết liệt, nhưng cuối cùng phải rút lui về Động Cát, rồi về đồn Ổ Bịp vì thế giặc quá mạnh.

 

Quân Pháp đuổi đến Động Cát thì trời tối đành hạ trại nghỉ ngơi ở đây, nhưng đến đêm thì chết hơn chục mạng không rõ lý do. Trong dân chúng có tin đồn Thiên hộ Dương dùng đạo quân rắn thần giết giặc, khiến quân Pháp hoang mang tột độ, đành rút khỏi các vị trí đã chiếm đóng.

 

Nhưng vài tháng sau chúng lại tấn công và dừng lại nghỉ đêm ở Động Cát như lần trước. Nửa đêm hôm ấy, có nhiều tên giặc đang ngủ bỗng la hét rồi ngã ra chết. Bọn còn lại không dám ngủ, thức canh suốt đêm. Tới sáng chúng tìm thấy hang rắn, liền cho đem dầu lửa đổ xuống đốt hang.

 

Trong khói lửa mịt mù, bỗng có tiếng ào ào nổi lên như giông gió. Từ bìa rừng một con rắn hổ mây khổng lồ lao về phía bọn giặc như một cơn bão. Quân Pháp hoảng hồn, từ lính đến chỉ huy vứt súng ống bỏ chạy tán loạn, lao vào lau sậy lẩn trốn.

 

Đúng vào lúc đó, quân của Thiên hộ Dương tấn công đồng loạt. Quân giặc không ý chí chiến đấu, bị giết và bắt sống gần hết. Những tên còn chạy thoát về đồn Doi đều bị dân chúng bắt nộp cho nghĩa quân.

 

Đội quân ong “vô địch” thời kỳ chống Pháp, Mỹ

 

Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc Pháp, Mỹ xâm lược, quân dân ta có rất nhiều cách đánh giặc sáng tạo, khiến kẻ thù không ngờ nổi. Trong đó không thể không kể đến chiến thuật đánh giặc bằng ong.

 

Ở Bến Tre, anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tư đã dùng 20 tổ ong vò vẽ đánh giặc hàng chục trận, diệt hàng chục tên trong nhiều năm.

 

Năm 1947, chiến sĩ du kích Thạch Minh ở Trà Vinh đã dùng ong vò vẽ đánh hai đại đội tiếp viện Pháp nhừ tử, góp phần giúp Tiểu đoàn 307 đánh thắng trận La Bang lịch sử.

 

Năm 1950, tại Cái Tàu (Cà Mau), một bác nông dân 60 tuổi đang giăng câu, bất ngờ phát hiện địch dùng rất nhiều xuồng, chở lính càn vào rừng U Minh Thượng. Bác liền chạy về nhà gánh 4 tổ ong vò vẽ nuôi sẵn trong rẫy nhanh chóng phục kích, đuổi một tiểu đoàn giặc Pháp, bảo vệ được binh công xưởng Nam Bộ.

 

Sang thời chống Mỹ, anh hùng liệt sĩ Tạ Văn Lước và anh hùng liệt sĩ Hồ Văn Mười ở Mỹ Tho đã kỳ công bắt hàng trăm tổ ong vò vẽ về thả nuôi trong vườn nhà để hỗ trợ đánh địch hàng trăm trận toàn thắng liên tục trong thời gian dài.

 

Không chỉ ở miền đồng bằng, chiến lược dùng ong đánh địch còn được áp dụng ở cao nguyên. Đó là câu chuyện của tiểu đội du kích 9 người do anh hùng Hồ Kan phụ trách ở Kon Tum, “chỉ huy” đội quân gồm 90 tổ ong lỗ cực độc chống lại các trận càn của Mỹ ngụy các năm 1965-1966.

 

Các trận chiến này vô cùng ác liệt nhưng không có tiếng súng, chỉ có tiếng chân chạy loạn xạ trong rừng rậm, tiếng quân địch nhào xuống suối, khóc than, tiếng kêu la ú ớ thảm thiết… Nhờ sự hỗ trợ của đội quân ong, trong gần hai năm ấy, đội du kích của Hồ Kan bẻ gãy hàng chục cuộc càn, diệt hàng trăm tên địch.

 

Theo KIẾN THỨC

5 loại ‘siêu vũ khí’ của dân tộc Việt Nam

Trên thế giới này, vũ khí quân sự để phục vụ chiến tranh của các quốc gia, dân tộc đều có những bản sắc rất riêng. Bản sắc đặc trưng đó hình thành và phát triển từ lý thuyết (philosophy) và chiến lược (strategy) quân sự của từng quốc gia, dân tộc trong từng thời kỳ khác nhau.

Vũ khí của quân đội Mỹ thời hiện đại có đặc trưng nổi bật là nhiều chức năng, nhiều tác dụng, dựa vào ưu thế chiều sâu. Đặc trưng đó xuất phát từ lý thuyết quân sự dùng ưu thế công nghệ với chất lượng áp đảo ưu thế số lượng của địch thủ. Điều này càng đặc biệt đúng với học thuyết quân sự Rumsfeld mà quân đội Hoa Kỳ đang áp dụng. Trong khi vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô / Nga, bắt nguồn từ thực tiễn đất rộng người đông, tài nguyên, nguồn lao động dồi dào, và các lý luận quân sự của Mao Trạch Đông và Stalin, mà đường lối quốc phòng của họ từ trước đến nay nghiêng về phát huy ưu thế chiều rộng.

Việt Nam có diện tích đất liền nhỏ hơn một tiểu bang của Mỹ, nhỏ hơn một tỉnh của Trung Quốc và Nga. Nhưng Việt Nam lại có vị trí chiến lược địa chính trị, địa kinh tế đặc biệt trọng yếu trong khu vực và thế giới. Đất nước Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi, tài nguyên và nguồn lao động dồi dào. Chính vì lẽ đó nước ta hàng ngàn năm nay, từ cổ đại, trung đại, cận đại đến hiện đại và ngày nay luôn bị nhiều thế lực mạnh khắp bốn phương tám hướng dòm ngó, “rình rập”, chực chờ cơ hội để tìm cách nhảy vào trục lợi, hay cao nhất là xâm lược chính trị quân sự.

Ngay từ hàng ngàn năm trước, công cuộc dựng nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với quá trình giữ nước. Trải qua bao thế kỷ chống ngoại xâm, người Việt Nam đã sớm biết chế tạo, sử dụng và phát triển vũ khí để chống các thế lực thù địch cướp nước và bán nước. Từ đó hình thành một bản sắc đặc thù của vũ khí Việt Nam, với đầy những nét riêng phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Những vũ khí có những đặc sắc riêng thì Việt Nam có nhiều, nhưng trong đó cũng có ít vũ khí thật sự “không giống ai”, không ai có hoặc rất hiếm ai có. Bài viết này xin giới thiệu 5 loại vũ khí “không giống ai” này. Góp phần vào công cuộc truyền tải cảm hứng và thông tin về lịch sử nước nhà.

1. Nỏ thần


Ảnh minh họa

Nỏ thần là gọi là theo huyền thoại dân gian. Các nhà khảo cổ, khoa học, sử học gọi vũ khí này là “nỏ liên châu”. Một số học giả, nhà nghiên cứu còn gọi là “nỏ liễu” hoặc “nỏ liễn”, họ cho rằng đó chính là cách gọi thời xưa của dân ta dựa trên một số tài liệu, tư liệu, thư tịch cổ.

Ví dụ như sách Việt Sử Lược thời Trần ghi rằng Cao Lỗ đã làm được “nỏ liễu”, mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên, và mỗi lần giương nỏ ra thì quân giặc sợ khiếp vía. Hay thế phả họ Cao ở Nghệ An ghi rằng thủy tổ của họ chính là Cao Lỗ, gốc Ngòi Sảo, Bắc Ninh, đã chế tạo ra “nỏ liễn”.



Lẫy nỏ

Theo góc nhìn kỹ thuật quân sự thì nó chính là một loại nỏ cơ giới, nỏ máy sơ khai, có thể bắn được nhiều mũi tên cùng lúc. Để tạo ra được hiệu quả đó, Lạc hầu (không phải Lạc tướng) Cao Lỗ đã dùng kỹ thuật chế ra lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn. Để một lúc bật lẫy nỏ cho nhiều mũi tên cùng bay ra, các nhà nghiên cứu hiện đại đã suy ra Cao Lỗ đã làm rộng thân nỏ, xẻ chéo nhiều rãnh, đặt những mũi tên chụm lại để khi bật lẫy, mũi tên theo rãnh bay đi.

Nỏ máy này được Cao Lỗ chế tạo dưới thời Âu Lạc và triều đình Thục An Dương Vương, vua đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ. Trong thời kỳ khoa học công nghệ kỹ thuật còn chưa phát triển, Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ của người Việt cổ được nhiều chuyên gia đánh giá là “cỗ súng máy hiện đại”. Các Lạc tướng Âu Lạc đã huấn luyện hàng vạn binh sĩ ngày đêm tập bắn nỏ. Vua An Dương thường xem tập bắn trên “Ngự xa đài”, dấu vết này nay vẫn còn (góc đông bắc ngoài thành nội).


Một phần nỏ được khai quật

Bên cạnh phát hiện lẫy nỏ, hàng vạn mũi tên đồng cũng đã đào được ở Cầu Vực, sát chân thành ngoại Cổ Loa. Kho mũi tên đồng với hàng vạn chiếc, trọng lượng gần 110 kg. Đây là loại mũi tên ba cạnh, ba cánh đều nhau, có trụ thân, có chuôi, có họng tra cán và kích thước lớn, được chế tạo hoàn hảo, sắc nhọn. Mỗi mũi tên còn được cắm thêm chuôi bằng tre dài khoảng 1m, làm cân đối trọng lượng để tên bay xa và khả năng sát thương lớn. Tên ba cạnh là loại tên rất đặc thù Việt cổ, có tác dụng làm địch mau tóe ra máu, gây cho chúng bị hoảng loạn tinh thần dễ đi đến vỡ trận. Khác với các mũi tên Trung Hoa chỉ có hai cạnh.


Tên đồng

Có chiếc lẫy nỏ được phát hiện gồm nhiều bộ phận như hộp cò, lẫy cò, hai chốt và thước ngắm. Gần đây, nhóm nghiên cứu của Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á cùng với các nghệ nhân ở Hòa Bình đã phục dựng thành công mô hình chiếc nỏ Cao Lỗ sáng chế, tuy có lẽ chưa được hoàn chỉnh như nỏ thần bản gốc.

PGS Lê Đình Sỹ, nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã cho biết: “Điều quan trọng nhất để tạo nên sức thần của nỏ liên châu là Cao Lỗ đã biết kỹ thuật chế ra những chiếc lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn để một lần bóp cò bắn ra nhiều mũi tên có sức xuyên tốt, vừa giết giặc vừa làm chúng khiếp sợ, đội ngũ rối loạn, tan rã. Đó là điều kỳ diệu bí mật của thứ binh khí thần diệu này.”



Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á phục dựng mô hình nỏ thần năm 2009

Trong hội thảo khoa học “Danh tướng Cao Lỗ thời dựng nước”, với tham luận “Danh tướng Cao Lỗ với việc chế tạo, sử dụng vũ khí cung nỏ thời An Dương Vương”, do Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức, chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tóm lược: Cao Lỗ Vương là danh tướng đã giúp vua Thục Phán An Dương Vương dựng nên nhà nước Âu Lạc, hiến kế dời đô xuống đồng bằng và giúp vua xây dựng thành Cổ Loa, chế nỏ liên châu một lần bắn ra nhiều mũi tên. Đây được xem là nỏ thần, thứ vũ khí thần dũng, vô địch để giữ nước với lời nói được truyền tụng “giữ được nỏ thần sẽ giữ được thiên hạ, mất nỏ thần sẽ mất cả thiên hạ”. Cao Lỗ có tầm nhìn xa, tỉnh táo và đầy cảnh giác, đầy bản lĩnh để can ngăn nhà vua không sa vào quỷ kế của kẻ thù, dù rằng vì điều đó mà bị vua xa lánh. Nhưng khi đất nước bị xâm lược, Tổ quốc lâm nguy, Người lại ra phò vua, cứu nước, tử tiết để lại danh thơm muôn thuở cho hậu thế.

Chủ tịch nước nói và khẳng định, danh tướng Cao Lỗ là một vị tướng, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu giữ nước, được nhân dân sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng nghìn năm lịch sử.

Số phận của loại vũ khí này:

Tác dụng của nỏ liên châu thực chất là để bù đắp cho quân đội sự thiếu hụt về số lượng chiến binh (xạ thủ) và vũ khí (cung nỏ). Nó còn có tác dụng gây hoang mang tinh thần cho những tên lính địch yếu bóng vía khi lần đầu tiên thấy loại vũ khí mới lạ này. Thời cổ đại ta dùng nó được. Nhưng đến thời trung đại trở đi thì loại nỏ này không cần thiết nữa và cũng không phát huy tác dụng nhiều nữa. Bởi vì đến thời trung đại dân số và quân số Đại Việt ngày càng đông hơn. Một nhóm xạ thủ vài chục người mỗi người dùng 1 chiếc nỏ thường vẫn bắn tốt, nếu không nói là tốt hơn, bắn chính xác hơn, và có tính linh hoạt cao hơn, tận dụng được năng lực quân sĩ tốt hơn là sử dụng nỏ liên châu. Lại đỡ tốn kém hơn, giá thành chế tạo một chiếc nỏ liên châu đắt hơn nhiều so với nỏ thường. Nó liên châu còn nặng hơn, khó sử dụng hơn, phải chuẩn bị tốn thời gian hơn và nạp tên lâu hơn nỏ thường. Người dùng nỏ thường dễ huấn luyện hơn người dùng nỏ liên châu.


Hỏa tiễn

Tương truyền thời nhà Lý người ta có thử phục dựng và dùng lại nỏ liên châu trong một số thời điểm khi đánh dẹp trong nước, có kết hợp với mũi tên có kèm theo thuốc nổ làm từ lưu quỳnh và các hóa chất khác, gọi là “hỏa tiễn” (tên lửa) hoặc “lôi tiễn” (mũi tên sấm sét). Đó là một loại mũi tên đặc biệt, được sử dụng khá sớm ở Đại Việt, được cho là có từ thời Lý. Đây là một mũi tên bằng sắt có kích thước lớn hơn mũi tên thông thường, có gắn ống đựng thuốc súng. Hỏa tiễn được đặt trong ống phóng, khi khai hỏa đốt đầu ngòi thì thuốc lửa cùng tên sắt sẽ phóng đi với tốc độ cao và tầm bắn lớn. Mức độ sát thương là rất mạnh.

Nhưng nỏ liên châu đến thời đó chỉ còn mang tính biểu diễn, dọa địch chứ không còn hiệu quả thực chiến cao. Không còn nhiều chỗ dùng cho nó và nó thất truyền dần. Nhất là khi dân trí cao hơn theo thời gian và rút kinh nghiệm, thì binh sĩ các phe không còn bị hù dọa bởi các loại vũ khí trông hoành tráng này nữa, mà vẫn bình tĩnh ứng chiến.

2. Cọc ngầm


Ảnh minh họa cọc Bạch Đằng

Với “công thức” cắm cọc lúc thủy triều xuống thấp, khiêu chiến địch lúc thủy triều dâng cao, và dụ địch đi vào trận địa mai phục khi thủy triều xuống thấp trở lại, khiến tàu chiến địch bị va đập vào cọc nhọn, vỡ trận, bị đánh tan, những chiếc cọc trên sông đã trở thành thứ vũ khí thủy chiến đặc thù Việt Nam mà không ai có.

Vũ khí này lịch sử đã chứng minh rằng nó chỉ phát huy tác dụng và đưa đến thắng cuộc nếu tính toán chuẩn xác và vận dụng thành công được thủy triều, tính toán đúng thật chính xác chu kỳ, thời gian, thời điểm lên xuống của mặt nước. Và chỉ có người dân địa phương, đặc biệt là ngư dân, mới tính toán chính xác được. Do đó yếu tố lòng dân là rất quan trọng khi sử dụng loại vũ khí này. Có thể nói vũ khí này chỉ dùng được trong một cuộc chiến tranh nhân dân.

Năm 938, lần đầu tiên những chiếc cọc vùi thây quân xâm lược là khi thủy quân Nam Hán tấn công nước ta qua ngả sông Bạch Đằng. Danh tướng Ngô Quyền đã huy động quân dân lấy gỗ đẽo thành cọc vát nhọn, bịt sắt cắm đầy lòng sông Bạch Đằng ở những chỗ hiểm yếu gần cửa biển tạo thành một trận địa ngầm, hai bên bờ đặt sẵn phục binh.

Khi nước triều lên ngập bãi cọc, Ngô Quyền dụ quân giặc từ vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng rồi trá bại bỏ chạy. Đến khi nước triều rút, ông hạ lệnh cho toàn quân đánh quật mạnh khiến đoàn thuyền địch hốt hoảng tháo chạy. Đến gần cửa biển thì chúng sa vào bãi cọc nhọn, bị vỡ và bị đắm gần hết và nhận phải nhận lấy kết cục thảm bại, toàn quân tan rã.


Ảnh minh họa

Năm 1077, quân dân nhà Lý dưới sự chỉ huy của danh tướng Lý Thường Kiệt, đã xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, dựa vào địa lý hiểm trở quanh sông Như Nguyệt (còn gọi là sông Cầu). Dưới bãi sông được bố trí các cọc tre ngầm tạo thành một tuyến phòng ngự hết sức vững chắc.

Quân Lý đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến, quan trọng nhất là ba trại ở Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động. Mỗi trại binh có thể có thêm thủy binh phối hợp. Quân chủ lực do chính Lý Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên Đức, một vị trí có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long, ngăn giặc tiến về kinh đô.

Kết quả là quân Nam đã chặn đứng được quân Tống, gây cho chúng những tổn hại nặng nề, chúng không thể tiến thêm một bước nào và buộc phải rút quân về nước, kết thúc cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 của quân dân Đại Việt.


Cọc gỗ Bạch Đằng năm 1288 của thủy quân Trần Hưng Đạo tại xã Yên Giang, Yên Hưng, Quảng Ninh (phát hiện năm 1959).

Năm 1288, thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo noi gương tiền nhân, áp dụng lại trận địa cọc ngầm của Ngô Vương và triều Lý. Lần này, những kẻ bị đánh tan là đạo quân tàn bạo và bách chiến bách thắng Mông Cổ với kết cục là hơn 3 vạn quân giặc và gần 400 chiến thuyền bị chôn xác dưới sông, số còn lại bị quân dân nhà Trần bắt sống chỉ trong vòng một ngày.

Cọc sắt của nhà Hồ

Năm 1406, để đối kháng với 21 vạn quân Minh xâm lược dưới sự chỉ huy của các danh tướng Trương Phụ, Mộc Thạnh, thái thượng hoàng của Đại Ngu (quốc hiệu nước ta lúc bấy giờ do nhà Hồ đặt) là Hồ Quý Ly và vua Hồ Hán Thương, noi gương các tiền nhân, đã cho cắm cọc sắt ở các khúc sông hiểm yếu, nhất là ở sông Cái, sông Thao, sông Đà thuộc sông Hồng.

Các tướng khuyên can rằng nên dùng cọc gỗ đầu bịt sắt cũng đủ hiệu nghiệm, dùng cọc kim loại khuân vác nặng nhọc khó khăn, làm khổ sức quân dân, mà không có thêm tác dụng gì cả. Nhưng cha con Hồ Quý Ly không nghe, quyết tâm muốn “chơi sang”, còn đòi cọc sắt phải thật bén nhọn. Lòng người càng ly tán, vua không biết nghe lời phải, dân không theo, không hợp tác với triều đình để tính toán thủy triều nên nhiều nơi quân Hồ chỉ đóng cọc ở đó rồi bỏ mặc hên xui, không nắm vững được giờ giấc lên xuống của thủy triều.

Không hiểu do quân Minh may mắn hay dân oán ghét nhà Hồ không báo cáo chính xác chu kỳ thủy triều ở nhiều nơi, mà quân Minh tiến quân trên sông bình an vô sự, vượt qua các cửa sông then chốt, các khúc sông quan trọng, đánh bại thủy quân triều Hồ trong trận thủy chiến dữ dội trên sông Mộc Phàm (bãi Mộc Hoàn), rồi tiến thẳng đến phòng tuyến Đa Bang, vốn là một phòng tuyến hết sức kiên cố do hoàng thân Hồ Nguyên Trừng thiết kế và chỉ đạo xây dựng, ông cho xây thành Đa Bang để án ngữ vị trí chiến lược trọng yếu này và thiết lập đồn lũy và các hệ thống phòng ngự chung quanh, tạo thành thế ỷ giốc liên hoàn, hình thành phòng tuyến Đa Bang.

Phòng tuyến Đa Bang về mặt quân sự có lẽ cũng ngang ngửa với phòng tuyến Như Nguyệt mà quân dân Đại Việt thời Lý đã cầm chân thành công quân xâm lược Tống, không cho địch tiến sâu vào để tiến về kinh đô. Nhưng khác với triều Lý, triều Hồ không có lòng quân, lòng dân, nên phòng tuyến Đa Bang tuy vô cùng kiên cố chắc chắn về quân sự, xây dựng, kỹ thuật, nhưng vẫn bị vỡ. Quân Minh đã thành công chọc thủng phòng tuyến Đa Bang, chiếm thành Đa Bang. Sau đó tiến về kinh đô Đại Ngu truy bắt Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Nhà Hồ cuối cùng đã thất bại hoàn toàn. Nước ta bị giặc Minh thôn tính.

Bài học thời nhà Hồ càng minh định một nguyên tắc, một chân lý bất di bất dịch: Tất cả đều ở con người, mọi vũ khí là phụ thuộc vào con người. Con người không biết dùng thì dù là vũ khí lợi hại ra sao cũng đều vô dụng, vô ích. Tự thân cọc ngầm trên sông không có tác dụng gì cả nếu không có con người, không có sự liên hệ, quan hệ, hợp tác chặt chẽ giữa người và người, không có lòng dân vững chắc.

Trong cuộc chiến Minh – Việt lần thứ nhất, có thể thấy rõ là dân không ủng hộ triều Hồ nên đã thờ ơ không chỉ dẫn, hợp tác. Ngư dân địa phương không cộng tác với quân triều để tính ra được thủy triều, hoặc khi bị bắt ép thì chỉ bậy, chỉ qua loa. Và một vũ khí thần diệu đến tay nhà Hồ sử dụng đã không còn tác dụng.

Trong chiến tranh du kích, điều kiện tiên quyết là phải có được lòng dân, để dân kiên quyết giữ bí mật và không tiết lộ với giặc. Trong chiến tranh Minh – Việt lần thứ nhất, một số kẻ đi báo với giặc, hoặc khi bị giặc thúc ép thì khó giữ nổi khí tiết (vì bản thân cũng đã không ưa nhà Hồ) nên dễ cung khai, cả quân và dân đều không cố gắng giữ bí mật. Cho nên trong cuộc chiến đó quân Việt ẩn thân mai phục ở đâu thì quân Minh đều biết, lường trước và đề phòng cảnh giác. Đường đi nước bước, nơi nào hiểm yếu dễ ẩn náu, nơi nào dễ gặp mai phục, địch đều moi tin ra được từ cư dân tại đó, nên không hề bị trúng kế, không sa vào các vị trí có phục binh. Đất Việt có lợi thế địa lợi vốn dĩ rất thuận lợi cho du kích chiến, nhưng yếu tố địa lợi mà không gắn liền với yếu tố nhân hòa thì cũng vô dụng.

Có lẽ vì vậy mà thiên tài quân sự Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói đại ý: Chiến thuật chiến tranh du kích là một phần của chiến lược chiến tranh nhân dân. Như vậy, nếu không có dân, nếu cuộc chiến đó vốn đã không phải là một cuộc chiến tranh nhân dân, thì làm sao phát huy được chiến tranh du kích. Đó chính là lời giải cho câu hỏi vì sao nhà Hồ cũng khai thác tận dụng yếu tố địa lợi nhưng bất thành, tại sao cùng một lợi thế địa lợi đó, mà phe dùng được phe thì không.

Cọc tre thời đánh Mỹ

Năm 1968, quân Giải phóng ở Quảng Trị đã tạo nên một “thế trận Bạch Đằng trên sông Hiếu”, áp dụng lại trận địa cọc ngầm của người xưa. Lần này những kẻ bị đánh tan là quân đội Hoa Kỳ trăm trận trăm thắng. Nhân lúc thủy triều xuống thấp, quân ta cắm cọc tre xuống sông kết hợp với thả bè tre lơ lửng trong nước theo hình dích dắc để co cụm tàu giặc lại, phục kích quanh bờ, rồi “nhắm thẳng quân thù mà bắn”.

Thời điểm đó, con đường vận chuyển lương thực, hàng hóa, nhiên liệu, thiết bị quân sự từ cảng Cửa Việt lên thị trấn Đông Hà để nuôi cả phòng tuyến Quảng Trị – Khe Sanh là hết sức quan trọng đối với Mỹ-ngụy. Con sông Hiếu ở Quảng Trị (còn gọi là sông Cam Lộ) là một phụ lưu của sông Thạch Hãn. Hằng ngày trên sông Hiếu có từ 15 đến 20 tàu chiến của thủy quân lục chiến Mỹ làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, nhiên liệu, thiết bị, lương thực và vũ khí từ cảng Cửa Việt lên Đông Hà.

Để “chia lửa” với mặt trận Khe Sanh cũng như để cắt con đường vận chuyển tiếp tế hậu cần và phá hủy các thuyền chở lương thực, súng đạn của giặc, Bộ Chỉ huy Mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị đã chỉ đạo các lực lượng hướng đông phải kiên quyết phong tỏa cảng Cửa Việt, chẹn “cuống họng” của địch, đồng thời cắt “thực quản” của chúng, phong tỏa đoạn sông từ Cửa Việt lên Đông Hà, bằng các cách đánh đặc công phối hợp với pháo binh, bố trí vật cản, phối hợp trận địa dưới sông, trên bờ, nhằm tiêu diệt tàu giặc, làm tê liệt tuyến cảng sông của chúng.

Từ nhiều diễn biến tiêu cực của Mỹ trước đó, cộng với các tin tức tình báo, ta dự đoán ý đồ của họ là muốn khai thông tuyến vận tải sống còn Cửa Việt – Đông Hà. Từ thực tiễn đó, Thường vụ liên huyện Gio – Cam quyết tâm tổ chức một đợt chiến đấu mới phong tỏa dài ngày trên sông Hiếu, ngăn chặn và tiêu diệt tàu địch, làm tắc nghẽn giao thông, đẩy địch vào tình trạng thiếu lương thực, đạn dược quân nhu.

Để tìm ra phương án đánh giặc hiệu quả nhất, một cuộc họp bàn đã được tổ chức. Cuộc họp đã nhất trí một quyết định táo bạo: Để ngăn tàu giặc, ta cần học theo cách đánh trên sông Bạch Đằng của tổ tiên, cụ thể là nơi nào nước cạn thì dùng các cọc tre cắm ngập chìm trong nước, nơi nào nước sâu thì kết tre thành chùm, một đầu buộc vật nặng thả xuống sông. Các chùm tre lại được kết với nhau thành bè nửa chìm nửa nổi tạo thành thế dích dắc và được neo giữ không để trôi tự do. Các cọc tre và bè tre kết hợp với bùng nhùng tự tạo, dây thép gai, mìn và ngư lôi khiến tàu địch muốn lách để tiến cũng không được. Hai bên bờ sông bố trí các loại hỏa lực để tiêu diệt tàu Mỹ.

Đây là một kế hoạch tối ưu nhưng rất phức tạp, nói dễ hơn làm. Cần những biện pháp thích hợp để huy động, thu gom, vận chuyển, tập kết vật liệu và cách thức xây dựng “thế trận Bạch Đằng” sao cho bí mật. Vừa phải vận động người dân giúp xây thế trận, vừa phải làm cho dân hiểu tầm quan trọng của trận này và không tiết lộ nửa câu ra ngoài cho bọn Việt gian chỉ điểm, đặc biệt là các cháu nhỏ.

Sau cuộc họp, bộ đội và du kích Gio Linh liền đi phổ biến chủ trương và phương thức đánh giặc độc đáo đó cho dân chúng quanh vùng và được bà con tán thưởng khen hay và nhiệt tình ủng hộ. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân địa phương đã lao động cật lực và đóng góp hàng ngàn cây tre, hóp, phi lao, dương và hàng trăm cuộn dây thép gai.


Ảnh minh họa

Các du kích xã, du kích địa phương và các thanh niên trai tráng khỏe mạnh làm nghề sông nước được huy động cho việc cắm cọc, kết bè. Hàng chục chiếc đò của dân cũng được huy động để chở các chướng ngại vật, bộ đội, du kích sang sông. Trong những ngày đó, mỗi khi màn đêm buông xuống là bà con hai bên bờ sông Hiếu lại đào hầm, giao thông hào làm trận địa cho bộ đội, du kích. Hàng chục dân công cũng được huy động để phục vụ hậu cần, cứu thương, y tế. Riêng làng Thượng Nghĩa, chỉ trong một đêm dân làng đã hạ hơn 4000 cây tre để đóng góp cho việc chung.

Như vậy, vận dụng cách đánh truyền thống của cổ nhân, quân dân hai bên bờ sông Hiếu đã xây dựng nên một thế trận rất hiểm mà nhiều người gọi là “trận Bạch Đằng thời đánh Mỹ”, hay còn gọi là “trận Bạch Đằng trên sông Hiếu”, “thế trận Bạch Đằng trên sông Thạch Hãn” (sông Hiếu là phụ lưu của sông Thạch Hãn) bằng các cọc tre, bè tre kết hợp với bùng nhùng, dây thép gai, mìn và ngư lôi.

Một lần nữa, quân Mỹ lại bị động, quân Việt là phía chủ động quyết định đánh ở đâu. Vị trí được quân đội Việt Nam chọn làm trận địa là khu vực Đại Độ, đoạn từ ngã ba sông Gia Độ đến Hói Sòng, một đoạn của con sông Hiếu, nằm về phía nam làng Vinh Quang hạ (xã Gio Quang, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị), cách Tam giang khẩu (ngã ba Gia Độ) 300m về phía tây, cách thị xã Đông Hà gần 2km về phía đông. Khu vực này sông khá hẹp, hai bên bờ địa hình rất thuận lợi cho việc cất giấu, bố trí lực lượng và hỏa lực.

Có được sự ủng hộ hoàn toàn của người dân địa phương, quân Giải phóng và quân dân địa phương đã đồng tâm hiệp lực, cộng tác chặt chẽ tính nhẩm, ghi nhớ, ghi chép và nắm bắt được quy luật thủy triều ở sông Hiếu.

Đêm 28-2-1968, khi nước sông Hiếu cạn dần, lực lượng biệt động thị xã Đông Hà, du kích một số xã Gio Hà (nay là Gio Mai, Gio Quang), Gio Cam, bộ đội địa phương Cam Lộ, dân chúng thuộc các xã Cam Giang, Gio Mai, Gio Quang, Trung đoàn 270 (Đoàn 31), bộ đội đặc công Đoàn 126; du kích một số xã và một số quần chúng Ngã Ba cùng 20 chiếc thuyền chở tre, hóp, dây thép gai…. bí mật tiếp cận khu vực Đại Độ. Công việc cắm cọc bắt đầu được tiến hành dưới cơn mưa lạnh.

Mưa mỗi lúc một nặng hạt, gió đông bắc từ biển thổi vào như cắt vào da thịt, thỉnh thoảng pháo sáng giặc Mỹ lại bắn lên không trung chiếu sáng cả một vùng rộng lớn. Vậy mà lực lượng du kích và người dân vẫn lặng lẽ, bí mật bố trí, liên kết bãi cọc. Sau hơn một giờ ngâm mình trong dòng nước lạnh buốt, “bãi cọc Bạch Đằng” được bố trí xong với gần 2000 cọc tre, 60 cọc phi lao, 200 cuộn dây thép gai được cắm xuống dòng sông Hiếu. Xen giữa các bãi cọc là các bãi mìn, những quả thủy lôi.

Trận địa được bố trí thành hai bãi cọc dài, lặng lẽ rình chờ con mồi đi vào tử địa. Trên bờ, trận địa hỏa lực bắn tàu, bắn máy bay (vì Mỹ chu đáo, mỗi chuyến tàu trên sông đều có trực thăng bay theo hộ tống) của bộ đội, du kích được bố trí chu đáo sẵn sàng cho giờ khai hỏa.

Đêm 1-3-1968, các lực lượng vũ trang và bán vũ trang địa phương, thanh niên xung phong, dân công, quần chúng rút lui hết, chỉ để hai tổ ở lại phối hợp với bộ đội chủ lực. Các đơn vị hỏa lực thuộc trung đoàn 270 cùng bộ binh và du kích bí mật áp sát bên bờ sông từ Mai Xá, Vinh Quang hạ, Đại Độ sẵn sàng đánh giặc. Trời vừa sáng thì cạm bẫy “thế trận Bạch Đằng” đã được hoàn thành và giăng ra. Khi triều cường, nước sông đã che kín bãi cọc, lính Mỹ dùng ống dòm quan sát từ xa cũng không thấy gì khác lạ.


Quân Giải phóng ở Cửa Việt

Rạng sáng ngày 4-3, một đoàn tàu giặc gồm 12 chiếc được máy bay trinh sát, trực thăng vũ trang và xe lội nước hộ tống từ Cửa Việt tiến về Đông Hà, chiếc nọ cách chiếc kia 15 – 20m. Do trước đó quan sát bằng ống dòm từ xa thấy không có dấu hiệu nguy hiểm nên giặc vô tư đi tới, không hề biết đến cạm bẫy nguy hiểm đang được giăng ra chờ họ. Đến khi triều xuống thấp, chiếc tàu đi đầu vấp phải bãi cọc và chướng ngại vật, làm chúng bị kẹt và tắt nghẽn.

Đây là những tàu chiến hiện đại của Mỹ nên chúng cũng chưa bị hư hại gì, nhưng chúng bị vây kẹt cứng trong bãi cọc, không biết đi đâu, xoay trở ra sao, bị dính chặt dậm chân tại một chỗ, như bị “điểm huyệt” cứng đơ vậy. Những chiếc phía sau không bị lọt vào trong bãi cọc thì cũng bị kẹt đường tắt nghẽn, di chuyển chậm chạp ì ạch và muốn quay đầu lại cũng rất khó vì sông hẹp. Hoàn toàn bị “đóng băng” ở đó, trở thành mục tiêu lý tưởng và làm mồi cho hỏa lực của quân dân Quảng Trị.

Trong lúc giặc đang loay hoay tìm cách thoát ra thì ngay lập tức một tàu chiến của địch đã đụng vào thủy lôi và phát nổ. Thủy quân lục chiến Mỹ vốn là những chiến binh chuyên nghiệp chứ không dễ hoảng loạn như quân ngụy, nên thay vì vỡ trận tranh nhau tháo chạy hay nhảy xuống sông bơi lên bờ tìm cách chạy thì họ bình tĩnh định tìm cách gỡ ra và thoát thân trong trật tự. Như họ đã từng được huấn luyện, chuẩn bị chu đáo trong các quân trường, chiến trường giả bên Mỹ.

Ngay lập tức đạn pháo của quân Việt Nam từ trận địa trên bờ thi nhau bắn chặn, “nhắm thẳng quân thù mà bắn”. Trong đoàn tàu Mỹ có một số chiếc chở nhiên liệu, xăng dầu bị trúng đạn khiến xăng, dầu chảy tràn lan bốc cháy dữ dội, chẳng mấy chốc sông Hiếu trở thành một dòng sông lửa. Đã bị vấp phải “bãi cọc Bạch Đằng” làm cho đoàn tàu bị dồn cứng ngắt chẳng biết xoay trở đường nào, lại còn bị bồi thêm bởi các loại súng ĐKZ, B41, 12,7mm, súng cối, súng bộ binh, đoàn tàu thủy quân lục chiến Mỹ bị dìm trong biển lửa, bốc cháy dữ dội rồi chìm xuống sông, có vài chiếc tàu bị chính đạn trên tàu nổ xé tan làm nhiều mảnh.

Sau hơn một tiếng đồng hồ chiến đấu, trong trận này, quân dân địa phương Cam Giang, Gio Hà và bộ đội Quảng Trị đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với sự yểm trợ của bộ đội chủ lực đã bắn cháy, đánh chìm 7 tàu Mỹ, gây tắt nghẽn cho tuyến đường tiếp viện Cửa Việt – Đông Hà của giặc.

Một số chiếc đi sau quay mũi định tháo chạy về Cửa Việt, nhưng bị hỏa lực quân ta từ bờ Bắc sông Bến Hải được các đài trinh sát tiền tiêu hướng dẫn nhả đạn chính xác, nên quân giặc cũng không thoát khỏi án tử hình. Xác tàu chiến, xác lính giặc trôi bập bềnh trên sông nước suốt mấy ngày mới thoát ra Biển Đông. Máu nhuộm đỏ cả một khúc sông. Mùi khói lửa khét nghẹt và máu tanh nồng nặc. Từ đó bọn giặc coi Cửa Việt – Đông Hà là nỗi kinh hoàng và sợ quân Giải phóng ở đây như sợ cọp.

Các chiến thắng lẫy lừng kể trên đã biến những chiếc cọc gỗ mộc mạc trở thành thứ vũ khí kinh điển, vũ khí huyền thoại trong lịch sử quân sự Việt Nam và thế giới.


Ảnh biếm họa với thông điệp rằng truyền thống Bạch Đằng sẽ chặn đứng cuồng vọng “đường lưỡi bò” của Trung Hoa

Số phận của loại vũ khí này:

Nhìn theo góc độ vật lý, thì loại vũ khí này cũng như nỏ liên châu, không còn hợp thời nữa, không còn chỗ dùng nữa, vì không còn phù hợp với chiến tranh hiện đại. Chiến tranh ngày nay chủ yếu diễn ra trên đất, trời và biển, ít còn diễn ra trên sông nước.

Nhưng xét theo góc độ tinh thần, thì đây còn là vũ khí lòng dân, nó là biểu tượng của chí khí chống ngoại xâm, sự khéo léo của dân tộc trong chiến tranh vệ quốc và lòng dân. Bản thân món vũ khí này không làm được gì cả nếu không có sức người, lòng người, bàn tay khéo léo của con người, của quân dân. Nếu nhìn theo góc độ này thì đây là vũ khí của lòng dân và nó trường tồn cùng dân tộc chứ không đi đâu hết.

Nó là bài thuốc để các nhà lãnh đạo nào đã quên bài học lòng dân nhìn vào mà sực nhớ lại. 2 bài học Bạch Đằng và 5 bài học cọc ngầm kể trên chính là minh chứng để chúng ta thấy rõ nguyên tắc, chân lý có dân là có tất cả. Như Bác Hồ đã từng nói: “Dễ vạn lần, không dân cũng chịu. Khó vạn lần, dân liệu cũng xong.”

Quân đội Ngô Quyền, quân nhà Trần, và quân dân Quảng Trị có được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân địa phương nên đã nắm được quy luật thủy triều, và vận dụng kiến thức đó chung với với việc đóng cọc, phục kích địch thì mới chiến thắng được. Đây là điều kiện quyết định, bởi vì cách tính chu kỳ thủy triều ở các địa phương đều không giống nhau, và chỉ có dân địa phương đó, nhất là những người làm nghề sông nước ở ngay tại đó, thì mới quen thuộc (họ đã sống ở đó từ nhỏ tới lớn, gia đình họ ở đó nhiều đời) và nắm được phần lớn quy luật sông nước ở đó. Họ sống bao đời gần sông nước và họ được bố mẹ, người lớn truyền dạy cho cách tính theo con nước, theo chu kỳ lên xuống của nó. Chính là nhờ vào hiện tượng thủy triều, nên con người sống ở đó mới biết cách canh để mà đánh bắt tốt hơn thủy sản. Do đó nếu ở xa thì không tài nào nắm được.

Nhà Hồ đã học bài học đau đớn đó và hối thì đã muộn. Với khoa học phát triển tiên tiến ngày nay các nhà khoa học tự nhiên, toán học vẫn không ai đưa ra được một công thức, phép tính chung nào để tính ra được thời điểm thấp cao của thủy triều (tide).

Nhà Hồ có quân số rất đông (phần nhiều bắt lính), huấn luyện rất kỹ, xây đắp thành cao hào sâu, và vũ khí rất tốt. Hồ Nguyên Trừng là nhà phát minh lớn trong thời đó, sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Hồ Nguyên Trừng sau đó không lâu đã sáng chế thành công Thần cơ sang pháo (súng thần cơ) và trước hiểm họa Bắc xâm từ nhà Minh, Hồ Nguyên Trừng cũng chế tạo ra Cổ lâu thuyền, một loại thuyền chiến lớn đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo và hai người điều khiển một mái chèo. Cổ lâu thuyền vừa được dùng để tải lương, vừa sẵn sàng chiến đấu khi được trang bị súng thần cơ đầy uy lực. Cổ lâu thuyền còn được giới bình dân bá tánh gọi là thuyền hai đáy, bụng thuyền được chia ra làm hai phần: Phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu.

Hồ Nguyên Trừng đã kế thừa kỹ thuật sản xuất thuốc súng, hỏa khí và cải tiến kỹ thuật đúc súng từ các triều đại trước và chế tạo ra súng Thần cơ sang pháo, kiểu đại bác đầu tiên ở nước ta. Loại súng này sử dụng đạn đúc bằng chì, gang hoặc đá, có sức xuyên và công phá tốt, hiệu quả sát thương và uy hiếp tinh thần quân địch rất cao.


Súng thần cơ là phát minh lỗi lạc của hoàng thân Hồ Nguyên Trừng trong thời Hồ. Đây là kiểu đại bác đầu tiên ở VN, sử dụng đạn đúc bằng chì, gang hoặc đá, có sức công phá cao.


Sau thời nhà Hồ, súng thần công (các phiên bản cải tiến của súng thần cơ) tiếp tục được người Việt phát triển và có sự học hỏi nước ngoài để cải tiến kỹ thuật. Đến thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, rất nhiều cỡ súng thần công từ loại nhỏ đến khổng lồ đã được đúc và đưa vào sử dụng.

Trong cuộc xâm lược Đại Việt, dù quân Minh chiến thắng chúng vẫn không tránh khỏi nỗi kinh sợ trước hỏa lực của Thần cơ sang pháo. Khi chiếm được những khẩu pháo này, chúng rất đỗi ngạc nhiên vì Thần cơ sang pháo có nhiều ưu thế hơn hẳn các loại hỏa pháo của quân Minh. Những cỗ Thần cơ sang pháo nhanh chóng được chở về Trung Quốc nghiên cứu. Đây có lẽ là một trong những biểu hiện xưa nhất của “truyền thống đánh cắp công nghệ quốc phòng” của người Trung Quốc.

Vũ khí của nhà Hồ lợi hại, hoành tráng, tốn kém và hiện đại tối tân (theo tiêu chuẩn thời đó) đến như vậy, nhưng không phát huy được sức mạnh của cọc ngầm, hay nói đúng hơn là không phát huy được sức mạnh của nhân dân, thì vẫn phải thua đau. Vũ khí lòng dân mới là vũ khí vô địch vậy. Vũ khí làm cho địch thua từ xưa đến nay luôn là những vũ khí mà địch không sợ, không ngờ, và vì không sợ, không ngờ nên chúng mới không đề phòng và chuốc lấy bại vong. Những vũ khí hiện đại tối tân của nhà Hồ làm cho địch gờm, chú ý và đề phòng cảnh giác nên trở thành không còn bao nhiêu tác dụng.

Tóm lại, quân Ngô Quyền, nhà Trần, quân Giải phóng có được dân chúng địa phương ủng hộ, đã có sự liên kết thống nhất chặt chẽ giữa trung ương và địa phương nên đã thắng lợi trong các trận đánh quyết định. Nhà Hồ không được như vậy nên đã thất bại và mất nước. Vũ khí cọc ngầm này là một biểu tượng và bài học lớn đó.

3. Voi lửa

Đất Việt là nơi có nhiều voi sinh sống, và người Việt đã sớm sử dụng loài voi như một loại vũ khí, một loại “binh chủng” đặc biệt trong các cuộc chiến. Khi hành quân, voi là phương tiện vận chuyển, chuyên chở quân nhu, vũ khí, lương thảo. Trong chiến đấu, voi trở thành chiến cụ đầy uy lực, có thể dùng vòi, ngà và chân tiêu diệt địch, húc vào các nhóm lính địch, húc đổ cổng thành, tả xung hữu đột, dày xéo, dẫm nát quân địch, phá rào lũy mở đường tiến cho bộ binh. Với ưu thế của mình, các đội quân voi chiến tiên phong đi đầu luôn trở thành nỗi kinh hoàng của quân xâm lược ngoại bang.

Những người lính trên mình voi có lợi thế về độ cao, tầm quan sát tốt, tác chiến thuận lợi với các mũi giáo dài và các loại vũ khí tầm xa như cung, nỏ, súng. Đặc biệt, voi còn là khắc tinh của kỵ binh bởi loài ngựa có nỗi sợ bản năng với loài voi.

Tài sử dụng voi trận của người Việt đã gắn liền với hình ảnh “cưỡi voi đánh giặc” của Bà Trưng, Bà Triệu. Từ thời Hai Bà Trưng cho đến thời Quang Trung, một cuộc cách mạng đã diễn ra trong nghệ thuật sử dụng voi trận của người Việt. Với thiên tài quân sự của mình, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã biến những chú voi trở thành một lực lượng hỏa lực cơ động, mang theo đại bác và hỏa pháo trên lưng, thực hiện nhiệm vụ đột kích với sức công phá đáng sợ. Đó là những thay đổi vượt bậc so với các đội tượng binh thời trước. Voi trận còn được sử dụng trong một số quân đội quốc gia khác, nhưng “voi lửa” thời Tây Sơn có thể nói là một loại vũ khí “không giống ai”.

Trận đánh điển hình cho tài dùng voi của Nguyễn Huệ là trận Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789, khi 100 voi lửa của quân Tây Sơn đã làm những chú ngựa trong đội kỵ binh của quân Thanh khiếp đảm, dẫm đạp lên nhau chạy loạn, ngựa đạp chết lính, tháo chạy tán loạn. Kết quả là quân Thanh thua to, bao nhiêu tên xâm lược đã bị voi Việt và cả ngựa Tàu đạp tan thây.

Trong các thời kỳ trước, voi trận thường được sử dụng làm lực lượng đột kích mang tính chất lẻ tẻ, rời rạc trong mỗi mũi tiến công, mang bản chất một lực lượng phụ trợ chiến thuật. Phải đến thời Tây Sơn, thiên tài quân sự Quang Trung – Nguyễn Huệ đã khai thác, tận dụng ưu điểm của loài voi, rồi voi chiến mới được sử dụng tập trung số lượng lớn có trọng tâm trọng điểm cụ thể, biến voi chiến trở thành một lực lượng tấn công chiến lược.

Đặc biệt, Nguyễn Huệ đã biến voi thành những “cỗ xe tăng” có sức mạnh áp đảo, trang bị đại bác và hỏa pháo trên lưng. Trên lưng mỗi quân voi có ba, bốn người lính chít khăn đỏ, ngồi ném tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp nơi, đốt cháy quân địch.

Voi chiến không phải là một vũ khí hoàn hảo. Nó có khuyết điểm là sợ lửa và tiếng nổ lớn. Trong chiến tranh Minh – Việt lần thứ nhất, quân Minh đã khôn khéo lợi dụng pháo, lửa rồi đeo mặt nạ sư tử vào cho các ngựa chiến để hù dọa voi trận nhà Hồ, làm cho voi quân Hồ chạy ngược vào trong trận làm vỡ trận quân Hồ.

Cho thấy việc nghĩa quân Tây Sơn huấn luyện được những con voi chịu đựng được môi trường chiến đấu chung quanh đầy tiếng nổ và khói lửa như vậy càng thể hiện trình độ quân sự rất đáng nể của các quản tượng, các chuyên viên huấn luyện voi, và các tướng lĩnh Tây Sơn.

Với những trang bị như vậy, voi chiến của đội quân áo vải cờ đào Tây Sơn đã biến thành một lực lượng hỏa lực cơ động có sức mạnh đột kích kinh khiếp. Đội quân “voi lửa” của vua Quang Trung, người thiên tài quân sự cả đời cầm quân không hề biết thua trận là gì, đã hội đủ cả 3 yếu tố chiến thuật: Cơ động, đột kích và hỏa lực. Đây thật sự là một cuộc cách mạng voi chiến so với các thời kỳ trước đó.

Năm 1789, trong chiến dịch giải phóng Thăng Long, 100 voi trận Tây Sơn do nữ đô đốc Bùi Thị Xuân chỉ huy đã đánh tan đội kỵ binh đông đảo của Tôn Sĩ Nghị, góp phần làm nên chiến thắng Đống Đa lịch sử của quân đội Tây Sơn và dân tộc Việt Nam, giải phóng Bắc Hà, xóa bỏ ranh giới ở sông Gianh chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài, Bắc Hà – Nam Hà, thống nhất hai Đàng.

Bên cạnh việc trang bị hỏa lực cho voi, một yếu tố khác cũng làm tăng cường đáng kể sức mạnh và tốc độ hành quân của đội voi chiến Tây Sơn là sự ra đời của những chiến hạm khổng lồ Định Quốc được chế tạo theo mô hình phương Tây thời bấy giờ. Với khả năng chở được voi, những chiến hạm khổng lồ này khiến cuộc hành quân xuyên Việt của đội voi diễn ra thần tốc và dễ dàng hơn rất nhiều bằng đường biển. Góp phần thêu dệt thêm những huyền thoại vào các chiến dịch hành quân siêu tốc của quân Tây Sơn.

Số phận của loại vũ khí này:

Bước vào thời cận đại, với cuộc cách mạng hỏa khí từ phương Tây và sự phát triển vượt bậc về công nghệ quốc phòng, lực lượng voi chiến dần trở nên lạc hậu, lỗi thời trước sức mạnh vượt trội của hỏa lực châu Âu.

Mất tác dụng trên sa trường, chúng chỉ còn là những con vật mang tính biểu tượng, được sử dụng trong các nghi lễ hay mua vui cho vua chúa, quan lại phong kiến trong những cuộc chiến với hổ, báo, heo rừng và cả với nhau, tại các sân đấu. Binh chủng kỵ binh cũng chịu chung số phận.

Sau này trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân các dân tộc thiểu số có dùng voi để tải súng đạn, lương thực, đồ dùng lên chiến trường cho bộ đội. Tuy nhiên vai trò thực chiến của các đơn vị tượng binh, kỵ binh, và vũ khí “voi lửa” đến đây kết thúc.

4. Súng hỏa hổ


Ảnh minh họa

Ngoài “xe tăng voi lửa” kể trên, binh lính Tây Sơn còn được trang bị một loại vũ khí cá nhân là Hỏa hổ. Hỏa hổ là một loại vũ khí hình ống, một loại súng phun lửa có thể biến địch thành “cây đuốc sống”. Khi lâm trận, trong ống Hỏa hổ bắn nhựa thông ra, trúng phải đâu là lập tức bốc cháy. Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho cả quân chủng lục quân và thủy quân của nhà Tây Sơn.

Theo sách binh pháp “Binh thư yếu lược” tương truyền của Trần Hưng Đạo, cách chế là như sau: Dùng một chiếc ống (bằng sắt hoặc bằng tre, gỗ) dài khoảng 25cm, nạp thuốc thành nhiều nấc. Nấc đầu tiên là liều thuốc bắn, giã nén chặt dày khoảng 4cm, sau đó tiếp nấc thứ hai là liều thuốc phun, giã nén chặt, dày khoảng 12cm. Sau đó, nạp đạn ghém gồm các vật liệu sát thương, dày khoảng 4cm. Phần ống còn lại nạp dầy thuốc phun. Gặp địch, người dùng Hỏa hổ châm ngòi, cầm cán tre chỉa vào, thuốc phun và đạn sẽ phóng ra đốt cháy sát thương đối phương. Dùng xong lại có thể lấy ống đó nạp liều thuốc khác.

Sách binh pháp “Hổ trướng khu cơ” của quân sư Đào Duy Từ (mưu sĩ hàng đầu được các chúa Nguyễn trọng dụng nhất trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh) ghi: Hỏa hổ chính là hỏa tiễn, vì lửa cháy dữ dội, nên gọi là hỏa hổ. Sử sách trong Quốc sử quán nhà Nguyễn đời Minh Mạng còn gọi Hỏa hổ là hỏa phún đồng.

Sau khi quan sát, suy luận, phân tích, các nhà nghiên cứu cho rằng loại vũ khí này được cải tiến từ các hỏa thương và hỏa đồng (ống lửa) hạng nhỏ thời Lê sơ. Trong tay nghĩa quân Tây Sơn, nó được dùng một cách tập trung, ồ ạt, tạo thành hỏa lực giáp chiến hết sức lợi hại, một loại vũ khí chiến lược.

Điều ấn tượng là vua Quang Trung đã chế tạo ra súng Hỏa hổ bằng những ống tre, trở thành một vũ khí cá nhân có tính sát thương cao. Nếu đem so với những khẩu súng hỏa đồng của quân chúa Trịnh hay súng pháo lớn cần hàng chục người khiêng của nhà Minh, nhà Thanh thì sáng tạo này của Quang Trung đã bỏ xa những phe kia cả về trình độ công nghệ lẫn tác dụng thực chiến.


Hỏa thương là một loại súng cầm tay sơ khai của bộ binh. Đó là một ống nhỏ có bầu đựng thuốc súng và nòng súng, khai hỏa bằng cách châm ngòi dẫn.


Hỏa đồng có cách hoạt động giống hỏa thương, nhưng có kích thước lớn hơn và được đặt trên bệ cố định. Nó sát thương bằng cách phun lửa chứ không dùng đạn.

Quân Thanh khi chuẩn bị kéo sang xâm lăng nước ta, trong 8 điều quân luật do Tôn Sĩ Nghị và các tướng biên soạn, có điều thứ 5 để chống lại súng Hỏa hổ như sau: “Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng ống phun lửa làm lợi khí, gọi là hỏa hổ. Khi hai quân giáp nhau, trước hết họ dùng thứ đó để đốt cháy quần áo người ta, buộc người ta phải rút lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế thôi, so với súng ống của ta thì họ kém rất ra. Hiện nay, ta chế sẵn vài trăm lá chắn da trâu sống. Nếu gặp Hỏa hổ của người Nam phun lửa, thì quân tay cầm lá chắn ấy đỡ lửa một tay cầm dao chém bừa chắc rằng chúng bỏ chạy tan tác”.

Một số tài liệu cũng cho biết, trong bộ chiến, vua Quang Trung thường dùng voi lửa phá tan kỵ binh địch không còn manh giáp, và dùng súng Hỏa hổ gây rối loạn bộ binh địch, rồi xông lên giáp chiến xáp lá cà.

Còn trong thủy chiến, ngài rất hay dùng lối đánh giáp công áp sát để hạn chế sức sát thương của đại bác địch, rồi triển khai hỏa công để đốt tàu địch, dùng một biến thể của Hỏa hổ có tên là “Rồng cỏ”, vốn là một loại bãi cháy dùng đánh hỏa công để vây đốt binh thuyền của địch, mà điển hình và ngoạn mục nhất là trận đánh hỏa công do Nguyễn Huệ chỉ huy, đã đốt cháy tàu chiến của Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc ở chiến trường Gia Định năm 1782.


Hỏa cầu được nhà quân sự Đào Duy Từ sáng chế dựa trên kỹ thuật hỏa khí phương Tây.

Ngoài súng Hỏa hổ, quân Tây Sơn còn dùng Hỏa cầu (Lưu hoàng) để phụ trợ cho Hỏa hổ. Hỏa cầu là loại trái nổ dùng để ném, có tác dụng và hiệu quả gần như lựu đạn. Tùy vào chất nạp mà trái nổ có thể tạo ra khói độc, nhựa cháy, hoặc mảnh vụn sát thương.

Hỏa hổ và hỏa cầu, hai loại vũ khí cá nhân rất “bá đạo” của quân Tây Sơn làm khiếp đảm các thế lực thù trong giặc ngoài, góp phần vào trận đại thắng quân Thanh xuân Kỷ Dậu 1789, giải phóng Bắc Hà, tạm thống nhất đất nước.

Số phận của loại vũ khí này:

Dưới thời vua Quang Trung, nhà Tây Sơn có được lòng dân, cộng với thiên tài quân sự của nhà vua nên các công dụng lợi hại của súng Hỏa hổ được phát huy lên cao nhất. Sau khi vua băng hà, các tướng lĩnh Tây Sơn bị sốc nặng, không ai phục ai, đấu đá nhau tranh giành quyền lực và quyền vị. Vua mới còn nhỏ không đủ sức trị vì. Bên trong quyền thần Bùi Đắc Tuyên độc đoán, chuyên quyền, khiến cho quần thần nhiều người bất phục, dị nghị. Nhà Tây Sơn mất dần lòng dân.

Không còn dân, không còn thiên tài quân sự Quang Trung – Nguyễn Huệ, súng Hỏa hổ cũng không còn phát huy tác dụng thích hợp. Hơn nữa người Pháp và Bá Đa Lộc không ngừng viện trợ các loại vũ khí hiện đại tối tân của Pháp cho quân Nguyễn. Súng Hỏa hổ dần trở nên lạc hậu, lỗi thời, thất thế trước các súng trường và đại bác phương Tây.


Hỏa hổ (giữa ảnh)

Sau khi chiến thắng, chiếm được ngai vàng và lên ngôi, vua Gia Long cho dẹp hết các loại vũ khí có thể gợi nhớ đến biểu tượng Tây Sơn, phổ biến và sử dụng các trang bị, vũ khí của châu Âu. Cuộc cách mạng về công nghệ, công nghiệp, hỏa khí ở châu Âu càng làm cho súng Hỏa hổ, Hỏa cầu, và cả mẫu súng thần công của Hồ Nguyên Trừng mà quân chúa Trịnh hay dùng đều trở thành “đồ cổ”.

Tuy nhiên, súng Hỏa hổ vẫn còn ý nghĩa lịch sử, mỗi khi nghe tới nó khiến người ta không khỏi bồi hồi nhớ tới những chiến công xưa vô cùng hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, đội quân áo vải cờ đào Tây Sơn, và các tướng lĩnh Tây Sơn lừng danh một thuở.

5. Súng ngựa trời

Đây là loại vũ khí tự chế, thô sơ có hình con bọ ngựa, bắn các mảnh kim loại, đinh, miểng chai, đá vụn để sát thương địch. Cấu tạo gồm: Nòng súng bằng kim loại (ống nước, ống tôn), đáy nòng bịt kín (hàn hay đập dẹt) đặt trên hai chân chống, gần đáy nòng khoan một lỗ để lắp cơ cấu cò hay bộ phận phát hỏa đơn giản. Cơ cấu cò đơn giản kiểu bẫy chuột.

Trong nòng nhồi thuốc phóng (thường dùng thuốc đen), tấm đệm bằng gỗ và các mảnh gang, sắt, mảnh sành, miểng chai, đinh, đá, bi xe đạp…. (ngâm nọc rắn, nước tiểu). Cự ly phóng mảnh tới 150 mét, sát thương địch khoảng cách tới 100 mét. Súng ngựa trời xuất hiện lần đầu ở Bến Tre trong cao trào Đồng khởi năm 1960.



Dụng cụ chế tạo vũ khí của quân giới miền Tây Nam Bộ trong thời gian đầu chống Mỹ

Năm 1960, trước bối cảnh miền Bắc chưa có điều kiện và khả năng chi viện nhiều cho miền Nam, đưa tới tình trạng miền Tây Nam Bộ và Bến Tre thiếu thốn vũ khí nghiêm trọng, và trước tình hình Mỹ-ngụy tăng cường càn quét liên tục, gây nhiều tội ác, giết người, đốt nhà, gom dân, hãm hiếp, súng ngựa trời đã được chế tạo để phục vụ cho nhu cầu tự vệ của quân dân Bến Tre và còn để giải quyết phần nào sự thiếu hụt vũ khí trầm trọng của Bến Tre.

Từ động cơ đó, các công trường sản xuất vũ khí lần lượt được xây dựng. Công trường tỉnh đặt ở xã Bình Khánh do hai ông Ba Tam và Ba Thành phụ trách đã sản xuất và thử nghiệm thành công “súng ngựa trời”. Trận chiến đầu tiên súng ngựa trời xuất hiện không phải là một trận chống càn, mà chính là một trận tấn công, đó là trận đại đội 264 chủ động chặn đánh Mỹ-ngụy ở An Thạnh, An Hóa (xã Bình Khánh) vào đầu năm 1960.

Từ đó, không chỉ dùng cho phòng thủ chống càn, súng ngựa trời trong nhiều trường hợp còn được dùng để chủ động công kích, như trận phục kích ở ấp 6 Phước Hiệp, Bến Tre, năm 1960. Đó là địa điểm mà quân dân Bến Tre đoán chắc nhất định giặc sẽ đi qua. Họ liền tập trung số lượng lớn súng ngựa trời, đào công sự sát bờ mía, lấy lá mía ngụy trang trận địa. Khi Mỹ-ngụy lọt vào trận địa, các kiểu súng ngựa trời nổ đồng loạt vào đội hình của giặc. Du kích địa phương từ các hầm nhảy lên dùng mã tấu đánh giáp lá cà. Bị bất ngờ, Mỹ-ngụy tên nào còn sống sót là ném hết súng tháo chạy tán loạn.

Loại súng này sau đó được phổ biến rộng rãi ở miền Nam Việt Nam và được dùng rộng rãi ở miền Nam, đặc biệt sử dụng để tác chiến chống càn trong chiến tranh du kích ở đồng bằng sông Cửu Long đầu những năm 60 của thế kỷ 20. Trong trận Phú Ngãi năm 1961, các đội nữ du kích huyện Ba Tri (Bến Tre) chỉ dùng súng ngựa trời mà chặn đứng, đánh lui một trận càn của quân đội Sài Gòn và các sĩ quan Mỹ.

Có hơn 40 kiểu súng ngựa trời, từ cực kỳ thô sơ (châm ngòi) đến hơi hiện đại (điểm hỏa điện), sau đây là một số kiểu thường thấy:



Bản gốc


Súng ngựa trời mà nhân dân huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre dùng để bắn chết 7 tên giặc năm 1960. Bản đã sơn sửa.


Súng ngựa trời quân đội Sài Gòn cướp được ở Kiến Tường năm 1961. Họ trưng bày chiến lợi phẩm ở Sài Gòn và chú thích là “hàng Trung Cộng”. Lưu ý: Tất cả các vũ khí do quân giới Việt Nam chế tạo sau khi lọt vào tay ngụy và đem trưng bày, nếu vũ khí nào trông hiện đại thì họ chú thích là “hàng Nga Sô”, còn vũ khí nào trông thô sơ thì họ chú thích là “hàng Trung Cộng”.

Số phận của loại vũ khí này:

Về sau với sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, Đông Âu (nhất là Đông Đức), Bắc Triều Tiên và các đồng minh XHCN cho Việt Nam và sự chi viện từ Bắc vào Nam được đẩy mạnh, thì miền Nam dần không còn phải dùng tầm vông vạt nhọt, mã tấu, súng ngựa trời và các loại súng tự chế thô sơ để chống giặc. Súng ngựa trời về sau chỉ còn tồn tại trong viện bảo tàng và là một biểu tượng tồn tại trong ký ức của nhân dân về tinh thần tự lực tự cường trong kháng chiến chống xâm lược.

Thiếu Long
(tổng hợp)

 

Theo Blog Thiếu Long